Chủ nhật 22/03/2026 16:19
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thực trạng hoạt động xử lý văn bản quy phạm pháp luật hiện nay [1]

Tóm tắt: Thời gian qua, bên cạnh những kết quả tích cực, công tác xử lý văn bản trái pháp luật tại các Bộ, cơ quan ngang Bộ và địa phương còn nhiều hạn chế. Vì vậy, việc nghiên cứu, đánh giá thực trạng và đề ra các giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động xử lý văn bản trái pháp luật có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

Tóm tắt: Thời gian qua, bên cạnh những kết quả tích cực, công tác xử lý văn bản trái pháp luật tại các Bộ, cơ quan ngang Bộ và địa phương còn nhiều hạn chế. Vì vậy, việc nghiên cứu, đánh giá thực trạng và đề ra các giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động xử lý văn bản trái pháp luật có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

Abstract: The work of handling illegal normative documents in ministries, ministry-leveled agencies and localities has many limitations parallel with active results in the recent time. Thus, the study, assessment of the real situation and making solutions for improving effect of handling illegal normative documents have an important meaning.

1. Những kết quả đạt được trong công tác xử lý văn bản quy phạm pháp luật trái pháp luật

Thứ nhất, số lượng văn bản trái pháp luật được xử lý tăng, việc xử lý quyết liệt và triệt để hơn, nhiều văn bản được xử lý kịp thời, đúng quy định

Tính đến ngày 30/11/2017, các cơ quan kiểm tra văn bản đã xử lý được 734 văn bản quy phạm pháp luật (QPPL) trên tổng số 1.005 văn bản QPPL trái pháp luật về nội dung, thẩm quyền, đạt 73%, tăng 12,5% so với tỷ lệ văn bản đã được xử lý trong năm 2016. Riêng đối với 156 văn bản trái pháp luật về nội dung, thẩm quyền của các Bộ, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh do Bộ Tư pháp (Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật) phát hiện và kết luận năm 2017, đến nay, 73/156 văn bản đã được xử lý, đạt gần 47%, tăng 18% so với tỷ lệ xử lý văn bản trong năm 2016. Trong số 83 văn bản trái pháp luật về nội dung, thẩm quyền chưa xử lý, có 20/83 văn bản đang trong thời hạn xử lý, chiếm 24%; 22/83 văn bản đã quá hạn xử lý, chiếm 14%; số văn bản còn lại được thông tin đã có hướng xử lý và đang trong quá trình xử lý theo quy định. So sánh với cùng kỳ năm 2016, tỷ lệ số văn bản trái pháp luật về nội dung, thẩm quyền đã quá hạn nhưng chưa được xử lý giảm 74,8%. Các con số thống kê phản ánh công tác kiểm tra văn bản, xử lý văn bản trái pháp luật ngày càng hiệu quả hơn, đồng thời cũng cảnh báo tình trạng ban hành văn bản trái pháp luật vẫn còn nhiều, thậm chí có chiều hướng gia tăng. Ngoài ra, Bộ Tư pháp đã tiến hành rà soát, phân loại và kiến nghị Thủ tướng Chính phủ việc xử lý đối với 19 văn bản (gồm 06 văn bản cấp bộ, 13 văn bản cấp tỉnh) trái pháp luật được phát hiện và kiến nghị xử lý từ năm 2016 trở về trước mà chưa được cơ quan ban hành văn bản tự xử lý, Bộ Tư pháp đã kiến nghị Thủ tướng Chính phủ xem xét, xử lý theo thẩm quyền đối với 19 văn bản nêu trên. Trên cơ sở chỉ đạo của Phó Thủ tướng thường trực Trương Hòa Bình, các Bộ, cơ quan ngang Bộ và địa phương đã tự xử lý dứt điểm 16/19 văn bản trái pháp luật. Hiện nay, Bộ Tư pháp đang tiếp tục theo dõi, đôn đốc xử lý đối với 03/19 văn bản trái pháp luật còn lại.

Với mục tiêu đặt trọng tâm vào công tác xử lý văn bản trái pháp luật, Bộ Tư pháp không chỉ tập trung xử lý văn bản trái pháp luật được phát hiện trong năm 2017 mà đã chú trọng rà soát lại các văn bản đã có thông báo/kết luận trái pháp luật từ những năm trước đó, theo dõi, đôn đốc việc xử lý. Đối với các văn bản có nội dung trái pháp luật nghiêm trọng hoặc trì trệ, kéo dài thời gian xử lý (chủ yếu là các văn bản được thông báo trái pháp luật trước năm 2016), Bộ Tư pháp đã kiến nghị Thủ tướng Chính phủ xử lý theo thẩm quyền. Đây được coi là biện pháp mạnh mẽ, cương quyết, thể hiện tinh thần quyết liệt, “đeo bám” đến cùng nhằm xử lý triệt để văn bản trái pháp luật. Sau gần 15 năm triển khai công tác kiểm tra, xử lý văn bản QPPL, đây là lần thứ hai Bộ Tư pháp kiến nghị Thủ tướng Chính phủ việc xử lý văn bản trái pháp luật, đồng thời xác định trong thời gian tới, sẽ tiếp tục có kiến nghị Thủ tướng nếu tình trạng văn bản trái pháp luật dây dưa, kéo dài thời gian mà không được xử lý theo đúng quy định.

Thứ hai, việc xử lý văn bản được thực hiện có trách nhiệm, cẩn trọng, khách quan trên cơ sở nghiên cứu, phát hiện chính xác nội dung trái pháp luật

Việc xử lý văn bản trái pháp luật đã được thực hiện một cách quyết liệt để bảo đảm tính kịp thời, đầy đủ nhưng vẫn thể hiện tính cẩn trọng, khách quan. Đặc biệt, đối với những văn bản có sự phản ánh của báo chí và doanh nghiệp, công dân, cơ quan có thẩm quyền kiểm tra văn bản càng cần phải thận trọng, phát huy trách nhiệm, bản lĩnh của người làm công tác kiểm tra văn bản, không vì sức ép của dư luận mà vội vàng hoặc thiếu khách quan trong xem xét, kiểm tra, xử lý văn bản được phản ánh. Thực tế cho thấy, có một số văn bản được dư luận phản ứng gay gắt và đặt vấn đề về tính pháp lý của nội dung, thẩm quyền ban hành văn bản, song qua kiểm tra kỹ lưỡng, thấy rằng, văn bản không trái pháp luật. Vì vậy, việc vào cuộc kịp thời của cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, xử lý văn bản là hết sức cần thiết, đây có thể coi là kết quả tích cực, cần tiếp tục phát huy trong hoạt động kiểm tra, xử lý văn bản QPPL.

Ngoài ra, quá trình xử lý văn bản trái pháp luật cũng ghi nhận sự nỗ lực, tích cực từ phía cơ quan đã ban hành văn bản trái pháp luật trong việc xử lý văn bản. Ngay từ khâu kiểm tra bước đầu, cơ quan kiểm tra văn bản đã nhận được sự phối hợp có trách nhiệm từ phía các cơ quan có văn bản được kiểm tra trong cung cấp thông tin, tài liệu… phục vụ hoạt động kiểm tra. Có nhiều văn bản trái pháp luật đã được cơ quan ban hành văn bản tiếp thu ngay tại cuộc họp trao đổi, thảo luận về dấu hiệu trái pháp luật và tổ chức tự xử lý ngay sau đó mà cơ quan kiểm tra văn bản không phải ra kết luận hoặc cơ quan đã ban hành văn bản trái pháp luật tiến hành tự kiểm tra, xử lý kịp thời, đúng kiến nghị của cơ quan có thẩm quyền kiểm tra văn bản, một số nơi còn xử lý cả văn bản sai về thể thức kỹ thuật trình bày bằng việc ban hành văn bản đính chính... Sự đồng thuận này thể hiện tinh thần cầu thị, trách nhiệm cao của cơ quan ban hành văn bản trong hoạt động ban hành, kiểm tra, xử lý văn bản. Những cơ quan, địa phương đã tích cực trong quá trình phối hợp kiểm tra và xử lý văn bản trái pháp luật như: Hà Nội, Hưng Yên, Bộ Tài chính…

2. Một số hạn chế trong công tác xử lý văn bản trái pháp luật

Bên cạnh những kết quả tích cực, hoạt động xử lý văn bản trái pháp luật vẫn còn những hạn chế, cụ thể là:

Một là, xử lý văn bản trái pháp luật không đầy đủ, không kịp thời

Theo số liệu đã nêu ở trên, có 26 văn bản QPPL được Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật (Bộ Tư pháp) kiến nghị xử lý từ năm 2016 được xử lý trong năm 2017; 19 văn bản được kiến nghị xử lý từ những năm trước năm 2016 được Bộ Tư pháp kiến nghị Thủ tướng Chính phủ việc xử lý (chưa kể nhiều văn bản khác cùng thời gian đó qua rà soát, phân loại đã quyết định để lại tiếp tục theo dõi, đôn đốc việc xử lý mà chưa báo cáo Thủ tướng Chính phủ). Qua theo dõi chung cho thấy, mặc dù so với trước đây, việc xử lý văn bản trái pháp luật cũng có nhiều tiến bộ, nhưng có thể thẳng thắn thừa nhận rằng, việc xử lý văn bản vẫn chưa kịp thời, trong đó khá nhiều văn bản trái pháp luật qua 03 - 04 năm chưa được xử lý, thậm chí phải có sự chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ thì văn bản mới được xử lý. Trong khoảng thời gian chưa được xử lý đó, văn bản vẫn còn hiệu lực pháp luật và tiếp tục có những tác động tiêu cực đến đời sống kinh tế - xã hội. Bên cạnh đó, mặc dù đã có nhiều cố gắng trong công tác xử lý văn bản QPPL với những kết quả đáng khích lệ như đã nêu ở trên, nhưng năm 2017 vẫn còn 1.088/4.036 (chiếm 27%) văn bản trái pháp luật (được các Bộ, cơ quan ngang Bộ và địa phương kiểm tra, phát hiện) và 80/133 (chiếm 57%) văn bản trái pháp luật (được Bộ Tư pháp kiểm tra, phát hiện) chuyển việc xử lý sang năm sau. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến nguyên tắc pháp chế trong ban hành văn bản QPPL, tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây ra những hậu quả xấu cho xã hội, làm giảm lòng tin của người dân vào Nhà nước… Đây là những hậu quả có thực mà không thể đo đếm được.

Bên cạnh đó, nhiều vụ việc khó thống nhất phương án xử lý giữa cơ quan có thẩm quyền kiểm tra và cơ quan đã ban hành văn bản, như: Cơ quan ban hành văn bản không nhất trí với kết quả kiểm tra văn bản, không thực hiện việc xử lý... dẫn đến việc chậm trễ trong xử lý văn bản trái pháp luật. Ví dụ, việc kiểm tra Quyết định số 1328/QĐ-BTC ngày 29/5/2012 về việc đính chính Thông tư số 157/2011/TT-BTC ngày 14/11/2011 của Bộ Tài chính ban hành biểu thuế xuất khẩu, biểu thuế nhập khẩu ưu đãi (sau đây gọi tắt là Quyết định 1328) được bắt đầu từ tháng 12/2012. Ngày 12/4/2013, Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật đã có Công văn số 87/KTrVB về việc thông báo kiểm tra văn bản, đề nghị Bộ Tài chính thực hiện tự kiểm tra và xử lý hủy bỏ nội dung trái pháp luật của Quyết định số 1328, thông báo kết quả xử lý cho Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật theo quy định (30 ngày, kể từ ngày thông báo). Tuy nhiên, cho đến ngày 19/02/2014, Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật vẫn chưa nhận được phản hồi của Bộ Tài chính về việc xử lý văn bản trên. Vì vậy, ngày 19/02/2014, Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật có Công văn số 33/KTrVB tiếp tục đề nghị Bộ Tài chính xử lý Quyết định số 1328. Sau đó, Bộ Tài chính đã có phản hồi, nhưng Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật không đồng tình với các nội dung của văn bản trả lời và yêu cầu Bộ Tài chính cần có hướng xử lý đối với vụ việc trên và có biện pháp khắc phục hậu quả do việc ban hành văn bản trái gây ra đối với doanh nghiệp. Như vậy, có đến hơn 01 năm chỉ để thống nhất về nội dung và phương án xử lý đối với 01 văn bản. Có thể nhận định rằng, việc xử lý văn bản QPPL thời gian qua chưa thật sự “mạnh tay”, chưa triệt để, có nhiều văn bản rất khó khăn để thống nhất phương án xử lý, có những văn bản ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của doanh nghiệp, kéo dài mất rất nhiều thời gian, nhưng những văn bản này vẫn chưa được cơ quan tham mưu cấp có thẩm quyền đình chỉ việc thi hành, nhằm tạm thời chấm dứt ảnh hưởng tiêu cực đến lợi ích của doanh nghiệp, để tiếp tục nghiên cứu, xác định hình thức xử lý. Bên cạnh việc xử lý văn bản chậm trễ vẫn còn tình trạng xử lý không đầy đủ nội dung cần xử lý, xử lý văn bản nửa vời, không triệt để…

Hai là, xử lý văn bản trái pháp luật không đúng hình thức

Xử lý văn bản trái pháp luật không đúng hình thức là tình trạng phổ biến và rất cần được các cơ quan có thẩm quyền quan tâm, chấn chỉnh trong thời gian tới. Hiện nay, đa số cơ quan có văn bản trái pháp luật đã xử lý bằng cách ban hành văn bản sửa đổi, bổ sung văn bản trái pháp luật. Trong khi đó, hình thức xử lý văn bản bãi bỏ và sửa đổi, bổ sung là khác nhau về mặt bản chất. Kể từ thời điểm văn bản được ban hành, sẽ phát sinh trách nhiệm pháp lý của chủ thể ban hành với đối tượng chịu sự tác động của văn bản, việc bãi bỏ văn bản làm cho văn bản bị mất hiệu lực ngay từ khi được ban hành, còn sửa đổi, bổ sung văn bản chỉ làm phần văn bản được sửa đổi, bổ sung hết hiệu lực, bổ sung có hiệu lực, toàn bộ hiệu lực và các vấn đề phát sinh khi áp dụng nội dung văn bản thời gian trước đó vẫn được công nhận, do vậy, sẽ không đặt ra vấn đề khắc phục hậu quả hay xử lý trách nhiệm trong trường hợp văn bản được sửa đổi, bổ sung, thay thế. Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều văn bản đã chưa được xử lý theo đúng hình thức quy định, ví dụ, theo quy định văn bản phải xử lý bằng hình thức bãi bỏ (tức là văn bản mất hiệu lực kể từ khi ban hành) thì phần lớn văn bản trái pháp luật lại dùng hình thức sửa đổi, bổ sung, đính chính hoặc ban hành văn bản thay thế... Ngoài ra, việc đình chỉ thi hành một phần hoặc toàn bộ nội dung trái pháp luật của văn bản do Bộ, cơ quan ngang Bộ ban hành trái pháp luật thời gian qua cũng chưa được ghi nhận, thậm chí đối với cả những văn bản ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của đối tượng áp dụng.

Ba là, việc công khai thông tin về xử lý văn bản trái pháp luật mới triển khai bước đầu

Theo Nghị định số 34/2016/NĐ-CP, công khai, minh bạch là nguyên tắc hàng đầu trong kiểm tra, xử lý văn bản QPPL và được thực hiện trong tất cả các khâu của quá trình kiểm tra văn bản. Theo Điều 109 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP, kết quả xử lý văn bản trái pháp luật phải được cơ quan, người đã ban hành văn bản đó đăng Công báo, đăng trên Cổng thông tin hoặc Trang thông tin điện tử của cơ quan ban hành văn bản hoặc niêm yết tại các địa điểm theo quy định tại Điều 98 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP. Đồng thời, kết quả xử lý các văn bản quy định tại điểm d khoản 1 Điều 103 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP phải được gửi cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân mà trước đó văn bản đã được nhận văn bản. Trường hợp văn bản đó đã được đăng Công báo, đăng trên Cổng thông tin hoặc Trang thông tin điện tử của cơ quan ban hành hoặc được niêm yết thì kết quả xử lý cũng phải được công bố trên các phương tiện thông tin đó. Ngoài ra, Điều 131 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP quy định một trong các nhiệm vụ của cơ quan, người ban hành văn bản được kiểm tra là phải “gửi đăng Công báo, niêm yết văn bản đã được xử lý theo quy định của pháp luật”. Đây được coi là quy định hết sức tiến bộ giúp cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận được với thông tin về tình trạng pháp lý của văn bản, phục vụ cho việc áp dụng, thi hành pháp luật, làm cho hệ thống pháp luật minh bạch hơn. Hiện nay, thông tin về xử lý văn bản trái pháp luật chủ yếu được thực hiện tại Bộ Tư pháp. Thực tế, trừ những văn bản trái pháp luật do phản ánh của các phương tiện thông tin đại chúng, khi xử lý cũng được các phương tiện này chủ động đưa tin, còn lại, việc cơ quan ban hành văn bản tự xử lý hoặc cơ quan có thẩm quyền xử lý văn bản trái pháp luật chủ động công bố công khai kết quả xử lý văn bản trái pháp luật còn khá hiếm.

Bốn là, việc khắc phục hậu quả do thực hiện văn bản trái pháp luật gặp nhiều khó khăn, vướng mắc; việc xử lý trách nhiệm của cơ quan, người đã ban hành văn bản trái pháp luật mới chỉ dừng ở mức phê bình, nhắc nhở, kiểm điểm công chức khi thi hành công vụ

Theo Nghị định số 34/2016/NĐ-CP, căn cứ vào nội dung trái pháp luật của văn bản và mức độ thiệt hại trên thực tế do văn bản trái pháp luật gây ra, cơ quan, người có thẩm quyền kiểm tra văn bản kiến nghị cơ quan, người đã ban hành văn bản trái pháp luật kịp thời áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả do việc ban hành và thi hành văn bản trái pháp luật gây ra; cơ quan, người có thẩm quyền xem xét, quyết định hình thức xử lý đối với cơ quan, người đã ban hành văn bản trái pháp luật. Ngoài ra, khi phát hiện văn bản có dấu hiệu trái pháp luật, cơ quan, đơn vị thực hiện việc tự kiểm tra có trách nhiệm lập hồ sơ kiểm tra văn bản và báo cáo ngay kết quả kiểm tra văn bản với cơ quan, người đã ban hành văn bản đó để xem xét, xử lý theo quy định. Trong đó, phải đánh giá nội dung có dấu hiệu trái pháp luật của văn bản và đề xuất hướng xử lý, thời hạn xử lý, biện pháp khắc phục hậu quả do văn bản gây ra (nếu có) và xác định trách nhiệm của những người tham mưu soạn thảo, thẩm định, thẩm tra và ban hành văn bản. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau mà hầu hết việc xử lý văn bản trái pháp luật hiện nay chưa được thực hiện đồng thời với việc khắc phục hậu quả, xác định và xử lý trách nhiệm của cơ quan, người đã ban hành văn bản.

3. Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động xử lý văn bản trái pháp luật

Để nâng cao hiệu quả, đưa hoạt động xử lý văn bản trái pháp luật thực sự trở thành công cụ hữu hiệu của Nhà nước trong việc bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của văn bản QPPL, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:

Thứ nhất, nâng cao nhận thức về công tác xử lý văn bản trái pháp luật; sắp xếp lại cách thức tổ chức công việc, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; tăng cường xem xét, xử lý trách nhiệm cơ quan, người đã tham mưu, trình, ký ban hành văn bản trái pháp luật

Lãnh đạo các Bộ, chính quyền địa phương các cấp cần có sự quan tâm, chỉ đạo sát sao hơn nữa đối với hoạt động xử lý văn bản QPPL, đặc biệt việc xử lý văn bản trái pháp luật đã được phát hiện; Bộ Tư pháp sớm phối hợp với Văn phòng Chính phủ để đề xuất đưa nội dung thông tin về kết quả kiểm tra, xử lý văn bản có nội dung trái pháp luật của các Bộ, ngành, chính quyền cấp tỉnh tại các cuộc họp báo của Chính phủ, đề xuất đưa nội dung xử lý văn bản vào nội dung báo cáo Chính phủ hàng quý.

Cần bố trí nhân sự mang tính chuyên nghiệp, mỗi công chức làm công tác kiểm tra văn bản được giao phụ trách một mảng lĩnh vực chuyên môn nhất định, đồng thời phụ trách một số địa phương. Ngoài ra, các công chức này được giao “theo sát” văn bản từ quá trình góp ý, thẩm định để có thể nắm bắt đầy đủ, xuyên suốt tinh thần cũng như từng quy định cụ thể của văn bản. Mặt khác, tham gia vào quá trình góp ý, thẩm định văn bản, các công chức có thể kịp thời đưa ra ý kiến về tính hợp hiến, hợp pháp, tính hợp lý, khả thi của văn bản, giảm thiểu được những nội dung trái pháp luật sau ban hành cũng là biện pháp giảm thiểu cho xử lý văn bản trái pháp luật. Quan tâm, bố trí kinh phí và các điều kiện bảo đảm khác đáp ứng yêu cầu công tác kiểm tra, xử lý văn bản QPPL.

Tăng cường công tác xử lý trách nhiệm đối với cơ quan, người đã tham mưu, trình, ký ban hành văn bản trái pháp luật, việc xử lý trách nhiệm không chỉ dừng lại ở việc nhắc nhở, kiểm điểm, rút kinh nghiệm… mà cần có những biện pháp nghiêm khắc hơn như trách nhiệm kỷ luật, trách nhiệm dân sự...

Thứ hai, nghiên cứu, hoàn thiện thể chế về xây dựng, ban hành, kiểm tra, xử lý văn bản, hoàn thiện quy trình ban hành văn bản xử lý văn bản trái pháp luật để bảo đảm tính kịp thời

Cần nghiên cứu, đề xuất giao Bộ trưởng Bộ Tư pháp thẩm quyền xử lý văn bản trái pháp luật tương xứng với chức năng, nhiệm vụ được giao trong kiểm tra văn bản. Bộ trưởng Bộ Tư pháp không chỉ có thẩm quyền kiến nghị xử lý văn bản trái pháp luật như hiện nay, mà còn có thẩm quyền giúp Thủ tướng Chính phủ thực hiện đình chỉ việc thi hành văn bản trái pháp luật do các Bộ, cơ quan ngang Bộ và địa phương (cấp tỉnh) ban hành, đặc biệt những văn bản xâm phạm tới quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp để kịp thời ngăn chặn việc áp dụng, thực thi nội dung trái pháp luật trong thực tiễn.

Bên cạnh đó, cần hoàn thiện quy trình ban hành văn bản xử lý văn bản trái pháp luật để bảo đảm tính kịp thời. Quy định văn bản QPPL chỉ được sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ bằng văn bản QPPL của chính cơ quan nhà nước đã ban hành văn bản đó nếu trong thực tiễn xảy ra bất cập. Nghiên cứu hoàn thiện theo hướng bổ sung trường hợp xây dựng, ban hành văn bản QPPL theo trình tự, thủ tục rút gọn để kịp thời xử lý văn bản QPPL trái pháp luật và Điều 147 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 quy định về thẩm quyền quyết định việc xây dựng, ban hành văn bản QPPL theo trình tự, thủ tục rút gọn cần bổ sung thẩm quyền của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ. Trong thời gian tới, cần có nghiên cứu để quy định cụ thể thời gian để kiểm tra xong văn bản. Việc kiểm tra và xử lý văn bản cần được thực hiện trước khi văn bản có hiệu lực.

Nghiên cứu, quy định chi tiết về xử lý trách nhiệm đối với cơ quan, người đã ban hành văn bản trái pháp luật và khắc phục hậu quả do ban hành và thi hành văn bản trái pháp luật gây ra nhằm tạo cơ sở pháp lý rõ ràng, cụ thể và dễ dàng trong quá trình tham mưu, đề xuất và thực hiện các biện pháp này trên thực tế. Đồng thời, cần quy định bổ sung trách nhiệm cụ thể khi cơ quan, người đã ban hành văn bản không/chậm xử lý văn bản trái pháp luật do mình ban hành.

Tăng cường công tác truyền thông về cơ chế kiểm tra văn bản QPPL và công khai thông tin về việc xử lý văn bản trái pháp luật: Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan thông tấn báo chí nhằm tuyên truyền rộng rãi quy định pháp luật về kiểm tra, xử lý văn bản QPPL, giúp cho cơ quan, tổ chức, cá nhân hiểu rõ hơn nữa về cơ chế này, đồng hành cùng cơ quan nhà nước trong kiểm tra, xử lý văn bản QPPL, quan tâm, phát hiện và kiến nghị về văn bản có dấu hiệu trái pháp luật, bảo vệ quyền lợi của mình và của các chủ thể khác có liên quan. Đây cũng chính là sự giám sát chặt chẽ nhất, có tác động lớn, làm cho cơ quan ban hành văn bản cũng như cơ quan kiểm tra văn bản buộc phải khẩn trương hơn, thấu đáo hơn trong xem xét, xử lý văn bản trái pháp luật. Bên cạnh đó, cần chấn chỉnh, tăng cường công tác công bố thông tin về tình hình xử lý văn bản trái pháp luật bảo đảm nguyên tắc công khai, minh bạch trong kiểm tra, xử lý văn bản QPPL.

TS. Đoàn Thị Tố Uyên

Đại học Luật Hà Nội

[1]. Bài viết được thực hiện trong khuôn khổ Đề tài khoa học cấp cơ sở “Xử lý văn bản quy phạm pháp luật khiếm khuyết - Thực trạng và kiến nghị”, Trường Đại học Luật Hà Nội 2017.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.
Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ tại Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Theo dõi chúng tôi trên: