Thứ bảy 27/06/2026 02:58
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thực trạng hoạt động xử lý văn bản quy phạm pháp luật hiện nay [1]

Tóm tắt: Thời gian qua, bên cạnh những kết quả tích cực, công tác xử lý văn bản trái pháp luật tại các Bộ, cơ quan ngang Bộ và địa phương còn nhiều hạn chế. Vì vậy, việc nghiên cứu, đánh giá thực trạng và đề ra các giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động xử lý văn bản trái pháp luật có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

Tóm tắt: Thời gian qua, bên cạnh những kết quả tích cực, công tác xử lý văn bản trái pháp luật tại các Bộ, cơ quan ngang Bộ và địa phương còn nhiều hạn chế. Vì vậy, việc nghiên cứu, đánh giá thực trạng và đề ra các giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động xử lý văn bản trái pháp luật có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

Abstract: The work of handling illegal normative documents in ministries, ministry-leveled agencies and localities has many limitations parallel with active results in the recent time. Thus, the study, assessment of the real situation and making solutions for improving effect of handling illegal normative documents have an important meaning.

1. Những kết quả đạt được trong công tác xử lý văn bản quy phạm pháp luật trái pháp luật

Thứ nhất, số lượng văn bản trái pháp luật được xử lý tăng, việc xử lý quyết liệt và triệt để hơn, nhiều văn bản được xử lý kịp thời, đúng quy định

Tính đến ngày 30/11/2017, các cơ quan kiểm tra văn bản đã xử lý được 734 văn bản quy phạm pháp luật (QPPL) trên tổng số 1.005 văn bản QPPL trái pháp luật về nội dung, thẩm quyền, đạt 73%, tăng 12,5% so với tỷ lệ văn bản đã được xử lý trong năm 2016. Riêng đối với 156 văn bản trái pháp luật về nội dung, thẩm quyền của các Bộ, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh do Bộ Tư pháp (Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật) phát hiện và kết luận năm 2017, đến nay, 73/156 văn bản đã được xử lý, đạt gần 47%, tăng 18% so với tỷ lệ xử lý văn bản trong năm 2016. Trong số 83 văn bản trái pháp luật về nội dung, thẩm quyền chưa xử lý, có 20/83 văn bản đang trong thời hạn xử lý, chiếm 24%; 22/83 văn bản đã quá hạn xử lý, chiếm 14%; số văn bản còn lại được thông tin đã có hướng xử lý và đang trong quá trình xử lý theo quy định. So sánh với cùng kỳ năm 2016, tỷ lệ số văn bản trái pháp luật về nội dung, thẩm quyền đã quá hạn nhưng chưa được xử lý giảm 74,8%. Các con số thống kê phản ánh công tác kiểm tra văn bản, xử lý văn bản trái pháp luật ngày càng hiệu quả hơn, đồng thời cũng cảnh báo tình trạng ban hành văn bản trái pháp luật vẫn còn nhiều, thậm chí có chiều hướng gia tăng. Ngoài ra, Bộ Tư pháp đã tiến hành rà soát, phân loại và kiến nghị Thủ tướng Chính phủ việc xử lý đối với 19 văn bản (gồm 06 văn bản cấp bộ, 13 văn bản cấp tỉnh) trái pháp luật được phát hiện và kiến nghị xử lý từ năm 2016 trở về trước mà chưa được cơ quan ban hành văn bản tự xử lý, Bộ Tư pháp đã kiến nghị Thủ tướng Chính phủ xem xét, xử lý theo thẩm quyền đối với 19 văn bản nêu trên. Trên cơ sở chỉ đạo của Phó Thủ tướng thường trực Trương Hòa Bình, các Bộ, cơ quan ngang Bộ và địa phương đã tự xử lý dứt điểm 16/19 văn bản trái pháp luật. Hiện nay, Bộ Tư pháp đang tiếp tục theo dõi, đôn đốc xử lý đối với 03/19 văn bản trái pháp luật còn lại.

Với mục tiêu đặt trọng tâm vào công tác xử lý văn bản trái pháp luật, Bộ Tư pháp không chỉ tập trung xử lý văn bản trái pháp luật được phát hiện trong năm 2017 mà đã chú trọng rà soát lại các văn bản đã có thông báo/kết luận trái pháp luật từ những năm trước đó, theo dõi, đôn đốc việc xử lý. Đối với các văn bản có nội dung trái pháp luật nghiêm trọng hoặc trì trệ, kéo dài thời gian xử lý (chủ yếu là các văn bản được thông báo trái pháp luật trước năm 2016), Bộ Tư pháp đã kiến nghị Thủ tướng Chính phủ xử lý theo thẩm quyền. Đây được coi là biện pháp mạnh mẽ, cương quyết, thể hiện tinh thần quyết liệt, “đeo bám” đến cùng nhằm xử lý triệt để văn bản trái pháp luật. Sau gần 15 năm triển khai công tác kiểm tra, xử lý văn bản QPPL, đây là lần thứ hai Bộ Tư pháp kiến nghị Thủ tướng Chính phủ việc xử lý văn bản trái pháp luật, đồng thời xác định trong thời gian tới, sẽ tiếp tục có kiến nghị Thủ tướng nếu tình trạng văn bản trái pháp luật dây dưa, kéo dài thời gian mà không được xử lý theo đúng quy định.

Thứ hai, việc xử lý văn bản được thực hiện có trách nhiệm, cẩn trọng, khách quan trên cơ sở nghiên cứu, phát hiện chính xác nội dung trái pháp luật

Việc xử lý văn bản trái pháp luật đã được thực hiện một cách quyết liệt để bảo đảm tính kịp thời, đầy đủ nhưng vẫn thể hiện tính cẩn trọng, khách quan. Đặc biệt, đối với những văn bản có sự phản ánh của báo chí và doanh nghiệp, công dân, cơ quan có thẩm quyền kiểm tra văn bản càng cần phải thận trọng, phát huy trách nhiệm, bản lĩnh của người làm công tác kiểm tra văn bản, không vì sức ép của dư luận mà vội vàng hoặc thiếu khách quan trong xem xét, kiểm tra, xử lý văn bản được phản ánh. Thực tế cho thấy, có một số văn bản được dư luận phản ứng gay gắt và đặt vấn đề về tính pháp lý của nội dung, thẩm quyền ban hành văn bản, song qua kiểm tra kỹ lưỡng, thấy rằng, văn bản không trái pháp luật. Vì vậy, việc vào cuộc kịp thời của cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, xử lý văn bản là hết sức cần thiết, đây có thể coi là kết quả tích cực, cần tiếp tục phát huy trong hoạt động kiểm tra, xử lý văn bản QPPL.

Ngoài ra, quá trình xử lý văn bản trái pháp luật cũng ghi nhận sự nỗ lực, tích cực từ phía cơ quan đã ban hành văn bản trái pháp luật trong việc xử lý văn bản. Ngay từ khâu kiểm tra bước đầu, cơ quan kiểm tra văn bản đã nhận được sự phối hợp có trách nhiệm từ phía các cơ quan có văn bản được kiểm tra trong cung cấp thông tin, tài liệu… phục vụ hoạt động kiểm tra. Có nhiều văn bản trái pháp luật đã được cơ quan ban hành văn bản tiếp thu ngay tại cuộc họp trao đổi, thảo luận về dấu hiệu trái pháp luật và tổ chức tự xử lý ngay sau đó mà cơ quan kiểm tra văn bản không phải ra kết luận hoặc cơ quan đã ban hành văn bản trái pháp luật tiến hành tự kiểm tra, xử lý kịp thời, đúng kiến nghị của cơ quan có thẩm quyền kiểm tra văn bản, một số nơi còn xử lý cả văn bản sai về thể thức kỹ thuật trình bày bằng việc ban hành văn bản đính chính... Sự đồng thuận này thể hiện tinh thần cầu thị, trách nhiệm cao của cơ quan ban hành văn bản trong hoạt động ban hành, kiểm tra, xử lý văn bản. Những cơ quan, địa phương đã tích cực trong quá trình phối hợp kiểm tra và xử lý văn bản trái pháp luật như: Hà Nội, Hưng Yên, Bộ Tài chính…

2. Một số hạn chế trong công tác xử lý văn bản trái pháp luật

Bên cạnh những kết quả tích cực, hoạt động xử lý văn bản trái pháp luật vẫn còn những hạn chế, cụ thể là:

Một là, xử lý văn bản trái pháp luật không đầy đủ, không kịp thời

Theo số liệu đã nêu ở trên, có 26 văn bản QPPL được Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật (Bộ Tư pháp) kiến nghị xử lý từ năm 2016 được xử lý trong năm 2017; 19 văn bản được kiến nghị xử lý từ những năm trước năm 2016 được Bộ Tư pháp kiến nghị Thủ tướng Chính phủ việc xử lý (chưa kể nhiều văn bản khác cùng thời gian đó qua rà soát, phân loại đã quyết định để lại tiếp tục theo dõi, đôn đốc việc xử lý mà chưa báo cáo Thủ tướng Chính phủ). Qua theo dõi chung cho thấy, mặc dù so với trước đây, việc xử lý văn bản trái pháp luật cũng có nhiều tiến bộ, nhưng có thể thẳng thắn thừa nhận rằng, việc xử lý văn bản vẫn chưa kịp thời, trong đó khá nhiều văn bản trái pháp luật qua 03 - 04 năm chưa được xử lý, thậm chí phải có sự chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ thì văn bản mới được xử lý. Trong khoảng thời gian chưa được xử lý đó, văn bản vẫn còn hiệu lực pháp luật và tiếp tục có những tác động tiêu cực đến đời sống kinh tế - xã hội. Bên cạnh đó, mặc dù đã có nhiều cố gắng trong công tác xử lý văn bản QPPL với những kết quả đáng khích lệ như đã nêu ở trên, nhưng năm 2017 vẫn còn 1.088/4.036 (chiếm 27%) văn bản trái pháp luật (được các Bộ, cơ quan ngang Bộ và địa phương kiểm tra, phát hiện) và 80/133 (chiếm 57%) văn bản trái pháp luật (được Bộ Tư pháp kiểm tra, phát hiện) chuyển việc xử lý sang năm sau. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến nguyên tắc pháp chế trong ban hành văn bản QPPL, tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây ra những hậu quả xấu cho xã hội, làm giảm lòng tin của người dân vào Nhà nước… Đây là những hậu quả có thực mà không thể đo đếm được.

Bên cạnh đó, nhiều vụ việc khó thống nhất phương án xử lý giữa cơ quan có thẩm quyền kiểm tra và cơ quan đã ban hành văn bản, như: Cơ quan ban hành văn bản không nhất trí với kết quả kiểm tra văn bản, không thực hiện việc xử lý... dẫn đến việc chậm trễ trong xử lý văn bản trái pháp luật. Ví dụ, việc kiểm tra Quyết định số 1328/QĐ-BTC ngày 29/5/2012 về việc đính chính Thông tư số 157/2011/TT-BTC ngày 14/11/2011 của Bộ Tài chính ban hành biểu thuế xuất khẩu, biểu thuế nhập khẩu ưu đãi (sau đây gọi tắt là Quyết định 1328) được bắt đầu từ tháng 12/2012. Ngày 12/4/2013, Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật đã có Công văn số 87/KTrVB về việc thông báo kiểm tra văn bản, đề nghị Bộ Tài chính thực hiện tự kiểm tra và xử lý hủy bỏ nội dung trái pháp luật của Quyết định số 1328, thông báo kết quả xử lý cho Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật theo quy định (30 ngày, kể từ ngày thông báo). Tuy nhiên, cho đến ngày 19/02/2014, Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật vẫn chưa nhận được phản hồi của Bộ Tài chính về việc xử lý văn bản trên. Vì vậy, ngày 19/02/2014, Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật có Công văn số 33/KTrVB tiếp tục đề nghị Bộ Tài chính xử lý Quyết định số 1328. Sau đó, Bộ Tài chính đã có phản hồi, nhưng Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật không đồng tình với các nội dung của văn bản trả lời và yêu cầu Bộ Tài chính cần có hướng xử lý đối với vụ việc trên và có biện pháp khắc phục hậu quả do việc ban hành văn bản trái gây ra đối với doanh nghiệp. Như vậy, có đến hơn 01 năm chỉ để thống nhất về nội dung và phương án xử lý đối với 01 văn bản. Có thể nhận định rằng, việc xử lý văn bản QPPL thời gian qua chưa thật sự “mạnh tay”, chưa triệt để, có nhiều văn bản rất khó khăn để thống nhất phương án xử lý, có những văn bản ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của doanh nghiệp, kéo dài mất rất nhiều thời gian, nhưng những văn bản này vẫn chưa được cơ quan tham mưu cấp có thẩm quyền đình chỉ việc thi hành, nhằm tạm thời chấm dứt ảnh hưởng tiêu cực đến lợi ích của doanh nghiệp, để tiếp tục nghiên cứu, xác định hình thức xử lý. Bên cạnh việc xử lý văn bản chậm trễ vẫn còn tình trạng xử lý không đầy đủ nội dung cần xử lý, xử lý văn bản nửa vời, không triệt để…

Hai là, xử lý văn bản trái pháp luật không đúng hình thức

Xử lý văn bản trái pháp luật không đúng hình thức là tình trạng phổ biến và rất cần được các cơ quan có thẩm quyền quan tâm, chấn chỉnh trong thời gian tới. Hiện nay, đa số cơ quan có văn bản trái pháp luật đã xử lý bằng cách ban hành văn bản sửa đổi, bổ sung văn bản trái pháp luật. Trong khi đó, hình thức xử lý văn bản bãi bỏ và sửa đổi, bổ sung là khác nhau về mặt bản chất. Kể từ thời điểm văn bản được ban hành, sẽ phát sinh trách nhiệm pháp lý của chủ thể ban hành với đối tượng chịu sự tác động của văn bản, việc bãi bỏ văn bản làm cho văn bản bị mất hiệu lực ngay từ khi được ban hành, còn sửa đổi, bổ sung văn bản chỉ làm phần văn bản được sửa đổi, bổ sung hết hiệu lực, bổ sung có hiệu lực, toàn bộ hiệu lực và các vấn đề phát sinh khi áp dụng nội dung văn bản thời gian trước đó vẫn được công nhận, do vậy, sẽ không đặt ra vấn đề khắc phục hậu quả hay xử lý trách nhiệm trong trường hợp văn bản được sửa đổi, bổ sung, thay thế. Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều văn bản đã chưa được xử lý theo đúng hình thức quy định, ví dụ, theo quy định văn bản phải xử lý bằng hình thức bãi bỏ (tức là văn bản mất hiệu lực kể từ khi ban hành) thì phần lớn văn bản trái pháp luật lại dùng hình thức sửa đổi, bổ sung, đính chính hoặc ban hành văn bản thay thế... Ngoài ra, việc đình chỉ thi hành một phần hoặc toàn bộ nội dung trái pháp luật của văn bản do Bộ, cơ quan ngang Bộ ban hành trái pháp luật thời gian qua cũng chưa được ghi nhận, thậm chí đối với cả những văn bản ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của đối tượng áp dụng.

Ba là, việc công khai thông tin về xử lý văn bản trái pháp luật mới triển khai bước đầu

Theo Nghị định số 34/2016/NĐ-CP, công khai, minh bạch là nguyên tắc hàng đầu trong kiểm tra, xử lý văn bản QPPL và được thực hiện trong tất cả các khâu của quá trình kiểm tra văn bản. Theo Điều 109 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP, kết quả xử lý văn bản trái pháp luật phải được cơ quan, người đã ban hành văn bản đó đăng Công báo, đăng trên Cổng thông tin hoặc Trang thông tin điện tử của cơ quan ban hành văn bản hoặc niêm yết tại các địa điểm theo quy định tại Điều 98 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP. Đồng thời, kết quả xử lý các văn bản quy định tại điểm d khoản 1 Điều 103 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP phải được gửi cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân mà trước đó văn bản đã được nhận văn bản. Trường hợp văn bản đó đã được đăng Công báo, đăng trên Cổng thông tin hoặc Trang thông tin điện tử của cơ quan ban hành hoặc được niêm yết thì kết quả xử lý cũng phải được công bố trên các phương tiện thông tin đó. Ngoài ra, Điều 131 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP quy định một trong các nhiệm vụ của cơ quan, người ban hành văn bản được kiểm tra là phải “gửi đăng Công báo, niêm yết văn bản đã được xử lý theo quy định của pháp luật”. Đây được coi là quy định hết sức tiến bộ giúp cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận được với thông tin về tình trạng pháp lý của văn bản, phục vụ cho việc áp dụng, thi hành pháp luật, làm cho hệ thống pháp luật minh bạch hơn. Hiện nay, thông tin về xử lý văn bản trái pháp luật chủ yếu được thực hiện tại Bộ Tư pháp. Thực tế, trừ những văn bản trái pháp luật do phản ánh của các phương tiện thông tin đại chúng, khi xử lý cũng được các phương tiện này chủ động đưa tin, còn lại, việc cơ quan ban hành văn bản tự xử lý hoặc cơ quan có thẩm quyền xử lý văn bản trái pháp luật chủ động công bố công khai kết quả xử lý văn bản trái pháp luật còn khá hiếm.

Bốn là, việc khắc phục hậu quả do thực hiện văn bản trái pháp luật gặp nhiều khó khăn, vướng mắc; việc xử lý trách nhiệm của cơ quan, người đã ban hành văn bản trái pháp luật mới chỉ dừng ở mức phê bình, nhắc nhở, kiểm điểm công chức khi thi hành công vụ

Theo Nghị định số 34/2016/NĐ-CP, căn cứ vào nội dung trái pháp luật của văn bản và mức độ thiệt hại trên thực tế do văn bản trái pháp luật gây ra, cơ quan, người có thẩm quyền kiểm tra văn bản kiến nghị cơ quan, người đã ban hành văn bản trái pháp luật kịp thời áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả do việc ban hành và thi hành văn bản trái pháp luật gây ra; cơ quan, người có thẩm quyền xem xét, quyết định hình thức xử lý đối với cơ quan, người đã ban hành văn bản trái pháp luật. Ngoài ra, khi phát hiện văn bản có dấu hiệu trái pháp luật, cơ quan, đơn vị thực hiện việc tự kiểm tra có trách nhiệm lập hồ sơ kiểm tra văn bản và báo cáo ngay kết quả kiểm tra văn bản với cơ quan, người đã ban hành văn bản đó để xem xét, xử lý theo quy định. Trong đó, phải đánh giá nội dung có dấu hiệu trái pháp luật của văn bản và đề xuất hướng xử lý, thời hạn xử lý, biện pháp khắc phục hậu quả do văn bản gây ra (nếu có) và xác định trách nhiệm của những người tham mưu soạn thảo, thẩm định, thẩm tra và ban hành văn bản. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau mà hầu hết việc xử lý văn bản trái pháp luật hiện nay chưa được thực hiện đồng thời với việc khắc phục hậu quả, xác định và xử lý trách nhiệm của cơ quan, người đã ban hành văn bản.

3. Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động xử lý văn bản trái pháp luật

Để nâng cao hiệu quả, đưa hoạt động xử lý văn bản trái pháp luật thực sự trở thành công cụ hữu hiệu của Nhà nước trong việc bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của văn bản QPPL, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:

Thứ nhất, nâng cao nhận thức về công tác xử lý văn bản trái pháp luật; sắp xếp lại cách thức tổ chức công việc, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; tăng cường xem xét, xử lý trách nhiệm cơ quan, người đã tham mưu, trình, ký ban hành văn bản trái pháp luật

Lãnh đạo các Bộ, chính quyền địa phương các cấp cần có sự quan tâm, chỉ đạo sát sao hơn nữa đối với hoạt động xử lý văn bản QPPL, đặc biệt việc xử lý văn bản trái pháp luật đã được phát hiện; Bộ Tư pháp sớm phối hợp với Văn phòng Chính phủ để đề xuất đưa nội dung thông tin về kết quả kiểm tra, xử lý văn bản có nội dung trái pháp luật của các Bộ, ngành, chính quyền cấp tỉnh tại các cuộc họp báo của Chính phủ, đề xuất đưa nội dung xử lý văn bản vào nội dung báo cáo Chính phủ hàng quý.

Cần bố trí nhân sự mang tính chuyên nghiệp, mỗi công chức làm công tác kiểm tra văn bản được giao phụ trách một mảng lĩnh vực chuyên môn nhất định, đồng thời phụ trách một số địa phương. Ngoài ra, các công chức này được giao “theo sát” văn bản từ quá trình góp ý, thẩm định để có thể nắm bắt đầy đủ, xuyên suốt tinh thần cũng như từng quy định cụ thể của văn bản. Mặt khác, tham gia vào quá trình góp ý, thẩm định văn bản, các công chức có thể kịp thời đưa ra ý kiến về tính hợp hiến, hợp pháp, tính hợp lý, khả thi của văn bản, giảm thiểu được những nội dung trái pháp luật sau ban hành cũng là biện pháp giảm thiểu cho xử lý văn bản trái pháp luật. Quan tâm, bố trí kinh phí và các điều kiện bảo đảm khác đáp ứng yêu cầu công tác kiểm tra, xử lý văn bản QPPL.

Tăng cường công tác xử lý trách nhiệm đối với cơ quan, người đã tham mưu, trình, ký ban hành văn bản trái pháp luật, việc xử lý trách nhiệm không chỉ dừng lại ở việc nhắc nhở, kiểm điểm, rút kinh nghiệm… mà cần có những biện pháp nghiêm khắc hơn như trách nhiệm kỷ luật, trách nhiệm dân sự...

Thứ hai, nghiên cứu, hoàn thiện thể chế về xây dựng, ban hành, kiểm tra, xử lý văn bản, hoàn thiện quy trình ban hành văn bản xử lý văn bản trái pháp luật để bảo đảm tính kịp thời

Cần nghiên cứu, đề xuất giao Bộ trưởng Bộ Tư pháp thẩm quyền xử lý văn bản trái pháp luật tương xứng với chức năng, nhiệm vụ được giao trong kiểm tra văn bản. Bộ trưởng Bộ Tư pháp không chỉ có thẩm quyền kiến nghị xử lý văn bản trái pháp luật như hiện nay, mà còn có thẩm quyền giúp Thủ tướng Chính phủ thực hiện đình chỉ việc thi hành văn bản trái pháp luật do các Bộ, cơ quan ngang Bộ và địa phương (cấp tỉnh) ban hành, đặc biệt những văn bản xâm phạm tới quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp để kịp thời ngăn chặn việc áp dụng, thực thi nội dung trái pháp luật trong thực tiễn.

Bên cạnh đó, cần hoàn thiện quy trình ban hành văn bản xử lý văn bản trái pháp luật để bảo đảm tính kịp thời. Quy định văn bản QPPL chỉ được sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ bằng văn bản QPPL của chính cơ quan nhà nước đã ban hành văn bản đó nếu trong thực tiễn xảy ra bất cập. Nghiên cứu hoàn thiện theo hướng bổ sung trường hợp xây dựng, ban hành văn bản QPPL theo trình tự, thủ tục rút gọn để kịp thời xử lý văn bản QPPL trái pháp luật và Điều 147 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 quy định về thẩm quyền quyết định việc xây dựng, ban hành văn bản QPPL theo trình tự, thủ tục rút gọn cần bổ sung thẩm quyền của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ. Trong thời gian tới, cần có nghiên cứu để quy định cụ thể thời gian để kiểm tra xong văn bản. Việc kiểm tra và xử lý văn bản cần được thực hiện trước khi văn bản có hiệu lực.

Nghiên cứu, quy định chi tiết về xử lý trách nhiệm đối với cơ quan, người đã ban hành văn bản trái pháp luật và khắc phục hậu quả do ban hành và thi hành văn bản trái pháp luật gây ra nhằm tạo cơ sở pháp lý rõ ràng, cụ thể và dễ dàng trong quá trình tham mưu, đề xuất và thực hiện các biện pháp này trên thực tế. Đồng thời, cần quy định bổ sung trách nhiệm cụ thể khi cơ quan, người đã ban hành văn bản không/chậm xử lý văn bản trái pháp luật do mình ban hành.

Tăng cường công tác truyền thông về cơ chế kiểm tra văn bản QPPL và công khai thông tin về việc xử lý văn bản trái pháp luật: Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan thông tấn báo chí nhằm tuyên truyền rộng rãi quy định pháp luật về kiểm tra, xử lý văn bản QPPL, giúp cho cơ quan, tổ chức, cá nhân hiểu rõ hơn nữa về cơ chế này, đồng hành cùng cơ quan nhà nước trong kiểm tra, xử lý văn bản QPPL, quan tâm, phát hiện và kiến nghị về văn bản có dấu hiệu trái pháp luật, bảo vệ quyền lợi của mình và của các chủ thể khác có liên quan. Đây cũng chính là sự giám sát chặt chẽ nhất, có tác động lớn, làm cho cơ quan ban hành văn bản cũng như cơ quan kiểm tra văn bản buộc phải khẩn trương hơn, thấu đáo hơn trong xem xét, xử lý văn bản trái pháp luật. Bên cạnh đó, cần chấn chỉnh, tăng cường công tác công bố thông tin về tình hình xử lý văn bản trái pháp luật bảo đảm nguyên tắc công khai, minh bạch trong kiểm tra, xử lý văn bản QPPL.

TS. Đoàn Thị Tố Uyên

Đại học Luật Hà Nội

[1]. Bài viết được thực hiện trong khuôn khổ Đề tài khoa học cấp cơ sở “Xử lý văn bản quy phạm pháp luật khiếm khuyết - Thực trạng và kiến nghị”, Trường Đại học Luật Hà Nội 2017.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Để bảo đảm Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng được triển khai kịp thời, thống nhất và hiệu quả trên phạm vi cả nước, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu đã ký Quyết định số 925/QĐ-TTg ngày 25/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng.
Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 được ban hành đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Bài viết nêu sự cần thiết, ý nghĩa ban hành và những điểm mới nổi bật của Luật, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm quyền con người và đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà vừa ký Quyết định số 1111/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch tổ chức "Ngày Văn hóa Việt Nam" giai đoạn 2026 - 2030 (Kế hoạch), đánh dấu bước triển khai quan trọng Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Luật Hàng không dân dụng Việt Nam số 130/2025/QH15 (Luật năm 2025) được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 10 (ngày 10/12/2025), có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 gồm 11 Chương và 107 Điều quy định về hoạt động hàng không dân dụng, bao gồm các quy định về tàu bay, cảng hàng không, nhân viên hàng không, hoạt động bay, vận tải hàng không thương mại, hàng không chuyên dùng, hàng không chung, an toàn hàng không, an ninh hàng không, trách nhiệm dân sự và các hoạt động khác có liên quan đến hàng không dân dụng.
Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Quy định mới tại Nghị quyết số 254/2025/QH15 và Nghị định số 49/2026/NĐ-CP với cơ chế đồng thuận trên 75% được kỳ vọng khơi thông hàng nghìn dự án, sẽ tháo gỡ một trong những vướng mắc lớn nhất trong quá trình triển khai các dự án có sử dụng đất.
Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Ngày 10/12/2025, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, Kỳ họp thứ 10 chính thức thông qua Luật số 132/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026).
Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 thay thế Pháp lệnh Dân số số 06/2004/PL-UBTVQH11 (đã được sửa đổi, bổ sung theo Pháp lệnh số 07/2025/UBTVQH15). Một trong những thay đổi căn bản của Luật Dân số năm 2025 là chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển. Những nội dung liên quan đến dân số và phát triển đã được thể hiện trong việc hướng tới giải quyết đồng bộ các vấn đề về quy mô dân số, cơ cấu dân số, thích ứng với già hóa dân số, nâng cao chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của từng địa phương, góp phần bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước.
Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.

Theo dõi chúng tôi trên: