Thứ tư 18/03/2026 13:43
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thực trạng quy định pháp luật Việt Nam về hậu di cư lao động và một số kiến nghị

Di cư lao động đã và đang là một xu thế trong thời đại toàn cầu hóa hiện nay. Những thay đổi về môi trường sống, môi trường làm việc ở nước sở tại và quốc gia xuất xứ sẽ là các rào cản khiến cho người lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài khó có thể tái hòa nhập hiệu quả và bền vững. Bài viết sẽ phân tích những hạn chế trong một số quy định pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số giải pháp để hoàn thiện pháp luật về hậu di cư lao động.


1. Đặt vấn đề
Ngày nay, trước xu thế phát triển và hội nhập sâu rộng giữa các quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới, vấn đề di cư lao động quốc tế đã và đang tiếp tục trở thành một xu thế toàn cầu, trong đó có Việt Nam. Theo thống kê của Liên Hợp Quốc vào năm 2005, có khoảng 175 triệu người di cư trên toàn cầu[1]. Đến năm 2015, tức là chỉ sau một thập niên, ước tính có khoảng 244 triệu người di cư quốc tế (chiếm 3,3% dân số thế giới)[2].
Có thể nói, các yếu tố liên quan đến kinh tế như cải thiện thu nhập, tìm kiếm cơ hội việc làm và các lựa chọn mưu sinh được xem là động lực quan trọng trong quyết định di cư của người lao động. Dòng chảy lao động di cư thông thường sẽ di chuyển từ các nước đang phát triển đến những quốc gia phát triển nhằm tìm kiếm thu nhập cao hơn. Đây không chỉ là lợi ích cho bản thân, gia đình của người lao động di cư mà còn đóng góp cho nền kinh tế quốc gia và thế giới nói chung trong điều kiện toàn cầu hóa và tự do kinh tế, việc làm.
Tại Việt Nam, di cư lao động nước ngoài vẫn đang tiếp tục là một xu hướng phát triển nhằm giúp người lao động tìm kiếm việc làm, cải thiện thu nhập và nâng cao kỹ năng, tay nghề trong một số lĩnh vực lao động nhất định. Vòng quay di cư thường được tiến hành ở ba bước cơ bản gắn với những hỗ trợ về chính sách, pháp luật là: (i) Trước khi thực hiện di cư; (ii) Trong khi ở nước ngoài và (iii) Quay trở về. Tuy nhiên, trong khi vấn đề nâng cao nhận thức, tập huấn kỹ năng và hỗ trợ tài chính ở bước (i) và (ii) thường được quan tâm thì việc tái hòa nhập xã hội cho người lao động từ nước ngoài trở về lại ít nhận được sự chú ý hơn. Điều này đặt ra đòi hỏi cần có những thay đổi cần thiết trong quy định pháp luật nhằm hỗ trợ tốt hơn cho vấn đề hậu di cư lao động tại Việt Nam.
2. Quy định pháp luật Việt Nam về giải quyết hậu di cư lao động
Hiện nay, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến di cư lao động với mục đích tìm kiếm việc làm chủ yếu được điều chỉnh thông qua một số văn bản như: Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2006; Nghị định số 126/2007/NĐ-CP ngày 01/8/2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; Quyết định số 144/2007/QĐ-TTg ngày 31/8/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập, quản lý và sử dụng quỹ hỗ trợ việc làm ngoài nước; Quyết định số 71/2009/QĐ-TTg ngày 29/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Hỗ trợ các huyện nghèo đẩy mạnh xuất khẩu lao động góp phần giảm nghèo bền vững giai đoạn 2009 - 2020; Thông tư liên tịch số 08/2007/TTLT-BLĐTBXH-BTP ngày 11/7/2007 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Tư pháp hướng dẫn chi tiết một số vấn đề về nội dung hợp đồng bảo lãnh và việc thanh lý hợp đồng bảo lãnh cho người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; Thông tư số 21/2007/TT-BLĐTBXH ngày 08/10/2007 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn chi tiết một số điều của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng và Nghị định số 126/2007/NĐ-CP ngày 01/8/2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.
Trong đó, chính sách nhằm hỗ trợ cho người lao động trở về nước được quy định tập trung tại Mục 4, Chương III Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Theo đó, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội có trách nhiệm thông báo cho người lao động về nước nhu cầu tuyển dụng lao động ở trong nước; hướng dẫn, giới thiệu người lao động đăng ký tìm việc làm phù hợp. Nhà nước khuyến khích các doanh nghiệp tiếp nhận và tuyển dụng người lao động về nước vào làm việc hoặc đưa đi làm việc ở nước ngoài, tạo điều kiện thuận lợi và khuyến khích người lao động về nước đầu tư sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm cho mình và cho người khác. Ngoài ra, đối với người lao động di cư trở về gặp khó khăn thì được vay vốn ưu đãi theo quy định của pháp luật để tạo việc làm.
Bên cạnh đó, đối với người lao động gặp rủi ro phải về nước trước thời hạn so với hợp đồng lao động do những nguyên nhân bất khả kháng, Nhà nước cũng có chính sách hỗ trợ từ Quỹ hỗ trợ việc làm ngoài nước hoặc từ nguồn hợp pháp khác. Cụ thể, khoản 3 Điều 3 Quyết định số 144/2007/QĐ-TTg đã quy định trong thời gian làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng nếu như người lao động bị tai nạn lao động, tai nạn rủi ro, ốm đau, bệnh tật mà không còn đủ sức khoẻ để tiếp tục làm việc và phải về nước trước thời hạn thì mức hỗ trợ tối đa 5.000.000 đồng/trường hợp.
Ngoài ra, Nhà nước còn hỗ trợ thông qua Quỹ Hỗ trợ việc làm ở nước ngoài và cung cấp hỗ trợ pháp lý khác cho những người lao động phải trở về nước vì những trường hợp khẩn cấp, đối với người lao động ở các huyện nghèo từ nước ngoài trở về. Chẳng hạn, quy định việc xây dựng cơ sở dữ liệu về người lao động thuộc các huyện nghèo đi làm việc ở nước ngoài để quản lý và trợ giúp, hỗ trợ người lao động đi làm việc ở nước ngoài; tổ chức tư vấn và giới thiệu việc làm cho người lao động phù hợp với ngành nghề, kinh nghiệm đã học hỏi và tích lũy được trong thời gian làm việc ở nước ngoài; tổ chức tư vấn, hướng dẫn người lao động và gia đình họ sử dụng nguồn thu từ xuất khẩu lao động đầu tư phát triển kinh tế hộ, kinh tế trang trại; tổ chức các khóa đào tạo về khởi sự doanh nghiệp[3].
Nhìn chung, pháp luật nước ta trong những năm qua đã có những quy định nhằm hỗ trợ, giúp đỡ cho người lao động Việt Nam trở về nước sau khi hết hạn hợp đồng hoặc vì các lý do bất khả kháng, đặc biệt là đối với người lao động thuộc những huyện nghèo. Tuy nhiên, một cách tổng quát, các quy định pháp lý như trên còn khá đơn giản, rời rạc, chỉ tập trung vào giải quyết vấn đề việc làm là chính. Những cơ chế và thiết chế cụ thể để bảo đảm những nội dung mà “Nhà nước khuyến khích” còn chưa rõ ràng. Đặc biệt, để tái hòa nhập, người lao động trở về cần những quy định liên quan đến tư vấn tâm lý, các mối quan hệ, sức khỏe, nhất là lao động nữ. Cần phải nhìn nhận một thực tế rằng, việc tái hòa nhập xã hội thành công không chỉ xuất phát từ thể chế phù hợp và cơ chế thi hành từ các cơ quan nhà nước, mà còn là sự chủ động, ý thức, tinh thần của mỗi người lao động. Song, những thay đổi, bổ sung và hoàn thiện về mặt pháp lý được xem là nền tảng cần thiết cho quá trình này.
3. Sự cần thiết hoàn thiện pháp luật về hậu di cư lao động
Trở lại và tái hòa nhập xã hội có liên quan đặc biệt trong một chu kỳ di cư tạm thời khi người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng và trở về nước. Trong bối cảnh thiếu một khuôn khổ chính sách và pháp lý toàn diện, người lao động trở về sau quá trình di cư có thể trải qua nhiều thách thức ảnh hưởng đến khả năng tái hòa nhập với cộng đồng sở tại, đối phó với chấn thương tâm lý xã hội và tìm kiếm cơ hội sinh kế bền vững[4].
Một trong những lý do đầu tiên và quan trọng nhất cần hoàn thiện hệ thống chính sách và pháp luật liên quan đến hậu di cư lao động là nhằm đảm bảo tốt hơn quyền của người lao động theo hệ thống pháp lý và chuẩn mực lao động quốc tế. Tính đến thời điểm hiện tại, Việt Nam đã phê chuẩn 7/8 công ước của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) trong khuôn khổ các nguyên tắc và quyền cơ bản trong lao động[5]. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, sự dịch chuyển lao động là cần thiết cho lao động Việt Nam, một mặt tìm kiếm cơ hội việc làm và cải thiện thu nhập cho bản thân và gia đình, mặt khác là điều kiện thuận lợi để nâng cao tay nghề, kỹ năng trong một số lĩnh vực nghề nghiệp.
Trong Công ước quốc tế về bảo vệ các quyền của tất cả người lao động di trú và các thành viên trong gia đình họ năm 1990 của Liên Hợp Quốc, khoản 2 Điều 67 kêu gọi hợp tác giữa các quốc gia như một phương tiện để thúc đẩy các điều kiện kinh tế thích hợp cho người di cư tái định cư và tạo điều kiện cho họ tái hòa nhập xã hội và văn hóa lâu dài ở quốc gia xuất xứ. Ngoài ra, trong Thỏa thuận toàn cầu cho di cư an toàn, có trật tự và thường xuyên còn nhấn mạnh việc đảm bảo rằng công dân của quốc gia được tiếp nhận và chuyển trả hợp lệ, tôn trọng đầy đủ quyền con người cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho an toàn cá nhân, nâng cao vị thế kinh tế, hòa nhập và gắn kết xã hội trong cộng đồng, nhằm đảm bảo việc tái hòa nhập của người di cư khi trở về quốc gia xuất xứ là bền vững[6]. Chính vì thế, những thay đổi trong hệ thống pháp luật quốc gia nhằm hỗ trợ tốt hơn cho người lao động đi làm việc nước ngoài trở về có cơ hội tiếp cận tài chính, quản trị và khởi sự doanh nghiệp là điều cần thiết trong giai đoạn hiện nay.
Song song đó, hoàn thiện pháp luật về hậu di cư lao động còn góp phần hạn chế tình trạng vi phạm pháp luật về cư trú và hợp đồng ở nước sở tại. Có thể nói, điều kiện trở về là một trong những yếu tố để người lao động ra quyết định liệu có trở về hay không. Nếu như điều kiện trở về và tái hòa nhập thiếu thuận lợi, sẽ có không ít người lao động tìm mọi cách để ở lại nước sở tại mặc dù quá hạn hợp đồng. Chẳng hạn, đến nay tỷ lệ lao động Việt Nam hết hạn hợp đồng không về nước tại Hàn Quốc còn khoảng 25%, cư trú bất hợp pháp khoảng 32% mặc dù con số này đã giảm nhiều so với giai đoạn 2012 – 2013[7]. Ngoài ra, thiếu sự hỗ trợ để trở về còn có thể dẫn đến hiện tượng di cư quay vòng của người lao động. Bên cạnh những lợi ích mà di cư quay vòng mang lại thì điều này có thể dẫn đến hậu quả là nguồn tài chính và nhân lực bị ưu tiêu vào di cư thay vì được đầu tư, đóng góp vào nền kinh tế quốc gia.
Ngoài những nguyên nhân trên, việc xuất hiện đa dạng các nhu cầu cần hỗ trợ để tái hòa nhập của người lao động di cư trở về cũng là một yêu cầu được đặt ra nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật nước ta. Như đã phân tích ở phần trước, hệ thống pháp luật hiện nay cơ bản chỉ hướng đến những hỗ trợ liên quan đến việc làm cho người lao động trở về. Tuy nhiên, để tái hòa nhập hiệu quả và bền vững, họ còn cần hỗ trợ về nhiều mặt như: Trợ giúp pháp lý, tư vấn tâm lý, tiếp cận những nguồn tài chính tin cậy, tập huấn kỹ năng cần thiết để khởi nghiệp... Bởi lẽ, những thay đổi về môi trường làm việc, môi trường sống và văn hóa doanh nghiệp sau khi người lao động di cư trở về được xem là các chướng ngại khiến họ tái hòa nhập không hiệu quả.
4. Một số đề xuất, giải pháp
Có thể thấy, di cư lao động đang là vấn đề toàn cầu, không một quốc gia nào trên thế giới có thể đứng ngoài hoặc ngăn chặn xu hướng chung ấy. Tuy nhiên, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài theo hợp đồng lao động cũng như tạo điều kiện để họ có những đóng góp nhất định cho đất nước sau khi trở về, thiết nghĩ cần thực hiện một số giải pháp sau:
Một là, về vấn đề việc làm, phát huy tay nghề, kỹ năng đã được tích lũy: Cần tiếp tục cụ thể quy định tại Điều 59, 60 của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng bằng những chương trình, biện pháp phù hợp nhằm giúp họ có thể sớm tìm kiếm việc làm, phát huy được những kinh nghiệm đã được tích lũy sau quá trình làm việc tại nước ngoài. Bên cạnh đó, cần quy định các loại chính sách cụ thể liên quan đến vấn đề việc làm như đào tạo lại, bồi dưỡng kiến thức khởi sự doanh nghiệp đối với người lao động có khả năng, phù hợp với ngành, nghề mà họ được học tập ở nước ngoài. Gắn việc đào tạo giáo dục định hướng cho người lao động đi làm việc ở nước ngoài trước khi họ đi và trở về liên quan đến những kỹ năng như tích lũy và quản lý tài chính, tích lũy kiến thức, kinh nghiệm cho việc làm trong tương lai khi về nước.
Hai là, vấn đề hỗ trợ tiếp cận các nguồn lực: Các nguồn lực ở đây không chỉ liên quan đến tài chính mà còn bao gồm vấn đề thông tin, dịch vụ, trợ giúp pháp lý... Sẽ có rất nhiều trở ngại để người lao động di cư tái hòa nhập hiệu quả sau thời gian họ làm việc ở nước ngoài, đặc biệt là những thay đổi về môi trường văn hóa, xã hội. Vì thế, để người lao động hồi hương có thể tiếp cận và sử dụng tốt các nguồn lực này cần thực hiện tốt vấn đề truyền thông, giới thiệu nhằm giúp họ hiểu được những nguồn lực nào phù hợp với nhu cầu bản thân để có thể tiếp cận. Ngoài ra, quy trình, thủ tục để tiếp cận và sử dụng được các nguồn lực trên cũng cần đơn giản, công khai, minh bạch trong quá trình triển khai, đặc biệt là những nguồn lực về tài chính.
Ba là, về các vấn đề xã hội nảy sinh sau khi trở về: Khi người lao động hồi hương, những yếu tố liên quan đến quan hệ gia đình, cộng đồng, sức khỏe, tâm lý có thể phát sinh do những thay đổi về yếu tố văn hóa, truyền thống. Sau khoảng thời gian lao động ở nước ngoài trở về, tùy thuộc vào thời hạn lao động, những thay đổi về môi trường sống, môi trường làm việc sẽ có ảnh hưởng ít nhiều đối với lao động di cư. Chính vì thế, sự nắm bắt những thay đổi đó để có những hỗ trợ kịp thời là điều vô cùng cần thiết. Trong đó, nhấn mạnh đến vai trò giúp đỡ từ các đoàn thể tại địa phương như Hội Liên hiệp phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Hội Nông dân...
Bốn là, về trách nhiệm của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền: Công tác truyền thông, thu hút người lao động đi làm việc ở nước ngoài trong những năm qua đều được các địa phương thực hiện khá tốt, qua đó tạo động lực và thúc đẩy cho các dòng di cư lao động về sau. Tuy nhiên, công tác quản lý nhà nước đối với người đi lao động trở về từ nước ngoài lại chưa thực sự phát huy hiệu quả như mong đợi. Điều này có ảnh hưởng phần nào đến sự đóng góp của người lao động trở về cho sự phát triển của địa phương. Do đó, cần thiết phải có một hệ thống dữ liệu thông tin liên quan về kinh nghiệm, kỹ năng tay nghề, thời gian làm việc, quốc gia đến làm việc... của người lao động. Hệ thống thông tin này sẽ giúp cho cơ quan nhà nước thuận lợi trong triển khai các quy định về hỗ trợ cho người lao động di cư trở về. Mặt khác, nó còn là một kênh thông tin hữu ích cho các đơn vị tuyển dụng lao động nước ngoài khi có nhu cầu.

ThS. Nguyễn Quang Thành
Trường Chính trị tỉnh Đồng Tháp


[1]. IOM, World Migration 2005 - Costs and Benefits of International Migration, France, 2005, p. 13.
[2]. IOM, “Migration and migrants: A global overview”, in IOM, World Migration Report 2018, IOM: Geneva, 2017, p. 1.
[3]. Mục 3b, Phần III, Điều 1 Quyết định số 71/2009/QĐ-TTg ngày 29/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Hỗ trợ các huyện nghèo đẩy mạnh xuất khẩu lao động góp phần giảm nghèo bền vững giai đoạn 2009 - 2020.
[4]. Xem thêm: Rashid, S.R.; Ashraf, A.A., A framework of services for reintegration and remigration of international labour migrants from Bangladesh (Dhaka, IOM and ILO), 2018.
[5]. Bao gồm: Công ước số 98 về áp dụng những nguyên tắc của quyền tổ chức và thương lượng tập thể; Công ước số 100 về trả công bình đẳng giữa lao động nam và nữ cho một công việc có giá trị ngang nhau; Công ước số 111 về chống phân biệt đối xử về việc làm và nghề nghiệp; Công ước số 138 về tuổi tối thiểu được đi làm việc; Công ước số 182 về nghiêm cấm và hành động khẩn cấp xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất; Công ước số 29 về lao động cưỡng bức và bắt buộc; Công ước số 105 về xóa bỏ lao động cưỡng bức. Xem thêm: Phong Điền (2020), ILO chúc mừng Việt Nam phê chuẩn gia nhập Công ước 105, Báo điện tử Pháp luật thành phố Hồ Chí Minh
[6]. UN General Assembly, Global Compact for Safe, Orderly and Regular Migration, 2018.
[7]. Nhật Dương, Lao động Việt Nam làm việc bất hợp pháp ở Hàn Quốc đã giảm mạnh, 2019

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.
Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Theo dõi chúng tôi trên: