Chủ nhật 15/03/2026 18:25
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thực trạng truyền thông về thành tựu bảo vệ quyền con người, quyền công dân qua công tác thông tin đối ngoại

Đối với nước ta, công tác thông tin đối ngoại là một trong những nhiệm vụ chủ yếu của công tác tư tưởng và đối ngoại của Đảng, Nhà nước và nhân dân, là một bộ phận quan trọng của hệ thống thông tin quốc gia, bao gồm toàn bộ các hoạt động nhằm chuyển tải tin tức, sự kiện, hình ảnh, tri thức của tất cả các lĩnh vực, các ngành cũng như đời sống sinh hoạt xã hội của đất nước ta ra bên ngoài, nhằm làm cho thế giới hiểu rõ đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước; những thành tựu to lớn của công cuộc đổi mới; về đất nước, con người, lịch sử, văn hóa dân tộc; đấu tranh chống lại những luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực cơ hội, thù địch đối với Việt Nam, qua đó tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ, hợp tác, giúp đỡ của bạn bè quốc tế, sự đồng thuận và đóng góp của đồng bào ta ở nước ngoài đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Bên cạnh đó, thông tin đối ngoại là thông tin hai chiều, từ Việt Nam ra thế giới và từ thế giới vào Việt Nam, giúp nhân dân ta hiểu biết về thế giới, tiếp thu những kinh nghiệm, tinh hoa văn hóa thế giới, trong đó có vấn đề quyền con người. Ngày 12/11/2013, Việt Nam đã trúng cử trở thành thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc - cơ quan chịu trách nhiệm chính của Liên Hợp Quốc trong việc thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền trên thế giới. Hội đồng có nhiều cơ chế giúp việc, đặc biệt là Cơ chế Kiểm điểm định kỳ phổ cập (UPR) mà theo đó, tất cả các nước phải định kỳ nộp báo cáo và kiểm điểm trước Hội đồng Nhân quyền về việc bảo đảm quyền con người tại nước mình. Việc Việt Nam trúng cử thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc là thành công to lớn của công tác đối ngoại của Đảng và Nhà nước, phản ánh vị thế và uy tín ngày càng cao của đất nước ta trên trường quốc tế. Do vậy, công tác thông tin đối ngoại cần có bước chuyển biến để đáp ứng nhiệm vụ được giao trong thời gian tới.

1. Thực trạng công tác thông tin đối ngoại về thành tựu bảo vệ quyền con người, quyền công dân

1.1. Thông tin kịp thời đường lối của Đảng, chính sách pháp luật Nhà nước, thực tiễn quá trình phát triển quyền con người, quyền công dân ở Việt Nam

Chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước ta là bảo vệ, thúc đẩy quyền con người và tích cực hợp tác quốc tế trong lĩnh vực này. Điều đó bắt nguồn từ khát vọng thiết tha được hưởng các quyền tự do cơ bản của nhân dân Việt Nam vốn đã phải chịu cảnh là người dân của một nước thuộc địa. Nhiều bạn bè quốc tế còn nhắc lại tình cảm, sự ủng hộ đối với nhân dân Việt Nam luôn đi đầu trong cuộc đấu tranh bảo vệ quyền dân tộc tự quyết. Đây là một trong những quyền con người cơ bản nhất, được ghi nhận trong những điều khoản đầu tiên của các điều ước quốc tế quan trọng nhất hiện nay về quyền con người.

Việc thông tin kịp thời nội dung Hiến pháp, lấy ý kiến nhân dân trong và ngoài nước về việc sửa đổi Hiến pháp năm 1992 với những thông tin kịp thời trên các loại hình báo chí, bằng nhiều thứ tiếng nước ngoài là hình thức thông tin đối ngoại rộng rãi, đem đến cho nhân dân cơ hội thực hiện quyền công dân của mình, đồng thời để bạn bè quốc tế hiểu rõ sự tiến bộ trong những quy định của pháp luật Việt Nam.

Bảo đảm quyền con người, quyền công dân gắn bó mật thiết với bảo đảm chế độ chính trị. Nhà nước được lập ra là để bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người, quyền công dân; việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân gắn bó mật thiết với việc bảo đảm chế độ chính trị. Trong những năm qua, công tác thông tin đối ngoại thông qua báo chí nói chung và báo chí đối ngoại nói riêng đã ngày càng được chú trọng, từng bước phát triển mạnh mẽ, đóng góp tích cực vào những thành tựu hoạt động đối ngoại và sự phát triển đất nước trên các lĩnh vực đời sống xã hội, nâng cao vị thế nước ta trên trường quốc tế, mở rộng giao lưu quốc tế. Cuộc sống mỗi gia đình ngày càng được nâng cao, hình ảnh đất nước Việt Nam hòa bình, hữu nghị, tích cực hội nhập quốc tế và đầy tiềm năng phát triển, con người Việt Nam thân thiện, năng động ngày càng được nhiều nước trên thế giới biết đến.

1.2. Thông tin đối ngoại phục vụ triển khai các chính sách phát triển kinh tế - xã hội và đối ngoại của đất nước, bảo đảm lợi ích quốc gia, dân tộc, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ

Công tác thông tin đối ngoại gắn kết chặt chẽ với thông tin đối nội luôn bám sát phục vụ triển khai các chính sách phát triển kinh tế - xã hội và đối ngoại của đất nước, bảo đảm lợi ích quốc gia, dân tộc, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ. Công tác thông tin đối ngoại góp phần quảng bá công cuộc đổi mới, phát triển đất nước, nâng cao uy tín, vị thế và ảnh hưởng của Việt Nam ở khu vực và trên trường quốc tế, phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Ban Chỉ đạo Trung ương về công tác thông tin đối ngoại và Ban Chỉ đạo nhân quyền của Chính phủ luôn quan tâm công tác truyền thông về nhân quyền, thường xuyên bám sát chỉ đạo các hoạt động thông tin, tuyên truyền từ cơ sở đến trung ương với nhiệm vụ không ngừng tăng cường cung cấp thông tin chính thống, có định hướng về chính sách và những nỗ lực của Việt Nam trong việc phát huy dân chủ, bảo đảm quyền con người, quyền tự do tôn giáo, những thành tựu của đất nước ta trong phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống nhân dân.

Trong phát triển kinh tế - xã hội, vấn đề quan tâm đời sống nhân dân, đem lại sự phát triển đồng đều các vùng, miền và sự bình đẳng về quyền lợi mỗi người dân được quan tâm trước hết là những tiến bộ trong xóa đói giảm nghèo. Với chính sách toàn diện thúc đẩy mọi khía cạnh của đời sống, hướng đến nhóm dân cư dễ bị tổn thương và thiệt thòi nhất ở vùng sâu, vùng xa, các chương trình xóa đói, giảm nghèo đã đạt được mục tiêu chung là giảm nghèo, tăng thu nhập và cải thiện điều kiện sống của nhóm người dân những vùng này. Trong những năm gần đây, mặc dù tình hình kinh tế gặp khó khăn hơn trước, nhưng nhiệm vụ đảm bảo an sinh xã hội vẫn được Việt Nam ưu tiên duy trì. Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững đạt kết quả tích cực. Việt Nam đã được ghi nhận là nước có nhiều thành tích, có những tiến bộ vượt bậc trong công cuộc xóa đói, giảm nghèo. Những thành tựu đó là một phần minh chứng, khẳng định nhân quyền ở Việt Nam luôn được đảm bảo và thực thi một cách nghiêm chỉnh, đúng pháp luật và phù hợp với các điều ước quốc tế.

1.3. Thông tin đối ngoại về tín ngưỡng, tôn giáo

Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo thuộc phạm vi pháp luật dân sự là một trong những nội dung của quyền nhân thân. Các phương tiện thông tin đại chúng nước ta thường xuyên thông tin kịp thời về hoạt động xây dựng pháp luật, thể chế hóa các quy định trong Bộ luật Dân sự về quyền dân sự, bảo vệ quyền con người, quyền tự do tôn giáo. Pháp luật hiện hành của Việt Nam thể hiện đầy đủ các quyền con người được nêu trong Tuyên ngôn Nhân quyền và các Công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã tham gia. Theo thống kê, từ năm 1986 đến nay, Quốc hội Việt Nam đã thông qua trên 40 bộ luật và các luật bảo đảm quyền con người với những nguyên tắc ngày càng cụ thể hơn. Đó là nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ trên các lĩnh vực chính trị, dân sự. Nguyên tắc bình đẳng giới đã được xem là một nguyên tắc xuyên suốt pháp luật quốc gia.

Sự phát triển hoạt động báo chí, trong đó có các báo chí chuyên về vấn đề nhân quyền, báo chí bằng tiếng nước ngoài, báo chí điện tử phát triển đã thông tin rộng rãi về mối quan hệ giữa Nhà nước với các tôn giáo. Tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một quyền nhân thân cơ bản của công dân được đề cập trong pháp luật dân sự. Ðảng và Nhà nước Việt Nam luôn coi việc thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một biểu hiện cụ thể của vấn đề nhân quyền.

1.4. Thông tin đối ngoại về sự phát triển cộng đồng Việt Nam ở nước ngoài

Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm, sẵn sàng hỗ trợ cộng đồng vượt qua khó khăn, ổn định và phát triển, mong muốn cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, nguồn gốc xuất thân, địa vị xã hội, lý do ra nước ngoài tự nguyện tham gia vào khối đại đoàn kết toàn dân tộc để chung sức, đồng lòng xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.

Trong bối cảnh đất nước đang tiếp tục đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tích cực chủ động hội nhập quốc tế, công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài ngày càng có vai trò quan trọng. Công tác thông tin đối ngoại góp phần đáp ứng nguyện vọng chung của đông đảo bà con, không để bà con bị phân biệt đối xử, tạo thuận lợi cho bà con gắn bó hơn nữa với cội nguồn, với đất nước. Quyền lợi chính đáng của bà con ở trong và ngoài nước cần tiếp tục được quan tâm chăm lo để bà con thấy ở Đảng và Nhà nước là một chỗ dựa vững chắc khi quyền lợi của mình bị xâm phạm; đồng thời, chúng ta cũng cần tiếp tục tạo cơ hội và điều kiện để bà con góp sức cùng xây dựng đất nước tùy theo khả năng của mình và bằng những hình thức phù hợp với hoàn cảnh cụ thể.

1.5. Thông tin đối ngoại về phát triển giao lưu văn hóa đối ngoại

Sự phát triển của công nghệ thông tin với quy mô toàn cầu hiện nay tạo cơ hội tốt để Việt Nam nhanh chóng tiếp cận với công nghệ mới, các kỹ năng, các phương tiện thông tin, kỹ thuật truyền thông hiện đại, những kinh nghiệm tổ chức hoạt động, những cơ sở lý luận mới để từ đó hỗ trợ quá trình đổi mới và phát triển của thông tin nước ta nói chung và thông tin đối ngoại nói riêng. Hợp tác và giao lưu văn hóa giữa nước ta với các nước được đẩy mạnh. Đó chính là những tiền đề khích lệ văn hóa nội sinh phát triển, điều kiện để tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại, đồng thời cũng là cơ hội để giới thiệu với bạn bè khắp năm châu những vẻ đẹp độc đáo của nền văn hóa dân tộc.

Trong thế giới toàn cầu hóa, việc mở rộng giao lưu hợp tác quốc tế là một yêu cầu và xu thế tất yếu để phát triển. Trong quá trình đó, vai trò của văn hóa ngày càng được coi trọng… Bên cạnh đó, giao lưu quốc tế giữa các quốc gia hiện nay là một quá trình vừa hợp tác, vừa đấu tranh, trong đó bên cạnh đấu tranh về lợi ích kinh tế thì đấu tranh về tư tưởng, quan điểm và văn hóa ngày càng nổi lên, thậm chí có lúc gay gắt. Trong điều kiện đó, thông tin đối ngoại của ta đứng trước thách thức là làm sao phải xử lý thỏa đáng mối quan hệ giữa nhu cầu mở rộng, phát triển quan hệ đối ngoại với việc bảo vệ lợi ích quốc gia, nền văn hóa dân tộc. Hoạt động văn hóa đối ngoại của nước ta cùng với các hoạt động chính trị đối ngoại, kinh tế đối ngoại là ba trụ cột gắn bó, tác động lẫn nhau, tạo thế kiềng vững chắc, góp phần thực hiện thắng lợi đường lối đối ngoại toàn diện của Đảng, Nhà nước ta. Từ sự giao lưu, tương tác văn hóa đối ngoại, vị thế đất nước Việt Nam được nâng cao. Giao lưu văn hóa góp phần duy trì giá trị văn hóa và bản sắc dân tộc của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài; trở thành thành tố nổi bật trong ngoại giao văn hóa và quan hệ quốc tế của Việt Nam. Hợp tác và giao lưu quốc tế về văn hóa giúp đạt các mục tiêu mà chính sách văn hóa mà Việt Nam đã đặt ra, đó là tiếp thu tinh hoa văn háo của nhân loại.

Kết quả hoạt động văn hóa đối ngoại của nước ta trong những năm qua đã giúp bạn bè quốc tế, cộng đồng Việt Nam ở nước ngoài ngày càng yêu mến văn hóa, con người Việt Nam, ủng hộ công cuộc đổi mới của Việt Nam. Hoạt động văn hóa đối ngoại vừa là yêu cầu khách quan trong quá trình hội nhập quốc tế, vừa là là một trong những nội dung, nhiệm vụ chủ yếu của công tác thông tin đối ngoại ở nước ta.

1.6. Công tác thông tin đối ngoại gắn liền với công tác tuyên truyền biển đảo và phân giới cắm mốc, góp phần tích cực vào bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền biển đảo Việt Nam

Thời gian qua, công tác tuyên truyền biển, đảo luôn dành được sự quan tâm đặc biệt của các cấp, các ngành và mọi tầng lớp nhân nhân. Quy mô, nội dung, phương pháp tuyên truyền thường xuyên được đổi mới đã và đang góp phần nâng cao hiệu quả, tạo sự chuyển biến tích cực, nhận thức sâu sắc của các cấp, các ngành về vị trí, vai trò tầm chiến lược của biển, đảo đối với sự nghiệp xây dựng, bảo vệ tổ quốc trong xu thế hội nhập và phát triển đất nước. Do đó, trong những năm qua, chúng ta đẩy mạnh tuyên truyền sâu rộng vị trí, vai trò, tiềm năng thế mạnh của biển, đảo Việt Nam đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay cũng như các giai đoạn tiếp theo. Đặc biệt, trong quá trình đổi mới, hội nhập của đất nước, nhấn mạnh những thời cơ, thách thức; thuận lợi và khó khăn để phát huy hiệu quả to lớn của việc thực hiện chiến lược biến đổi với sự phát triển, ổn định của đất nước.

Công tác tuyên truyền về biển đảo, phân giới cắm mốc hiện nay không chỉ trên các phương tiện thông tin đại chúng mà phải đẩy mạnh tuyên truyền qua hệ thống báo cáo viên, tuyên truyền miệng, cổ động, quảng cáo đến mọi người dân để họ hiểu sâu sắc về biển đảo, biên giới và thấy được trách nhiệm trong công tác bảo vệ biển đảo, biên giới của Tổ quốc.

2.7. Công tác thông tin đối ngoại góp phần đấu tranh dư luận, phản bác các quan điểm sai trái của các phần tử cơ hội, các thế lực thù địch một cách chủ động, có tính thuyết phục và hiệu quả

Như chúng ta đã biết, âm mưu cơ bản, lâu dài của các thế lực cơ hội, thù địch là xóa bỏ chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thủ tiêu sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa, đưa nước ta theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản. Để thực hiện âm mưu đó, chúng tăng cường sử dụng “diễn biến hòa bình” - một chiến lược nằm trong hệ thống chiến lược phản cách mạng.

Trên mặt trận này, Đảng ta đã có nhiều văn bản chỉ thị, nghị quyết nêu rõ các quan điểm, nhiệm vụ và giải pháp lớn. Tiếp tục đẩy mạnh, nâng cao chất lượng “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, tạo chuyển biến căn bản trong việc ngăn chặn, từng bước đẩy lùi sự suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân. Chủ động phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và đấu tranh chống các quan điểm sai trái, bác bỏ các luận điệu tuyên truyền phản động, làm thất bại âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng. Các lực lượng báo chí của ta đã chú trọng mở rộng và tăng cường hoạt động đấu tranh trên mạng internet, tăng cường huy động lực lượng tham gia viết bài, nâng cao chất lượng các tin, bài phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, tìm kiếm và đưa lên mạng những bài viết của tác giả nước ngoài, hải ngoại có nội dung có lợi cho ta.

Một trong những nét nổi bật trong việc đấu tranh dư luận là chúng ta đã tăng cường tính chủ động trong việc đấu tranh với những luận điệu xuyên tạc, thông tin sai trái về Việt Nam. Chúng ta đã chủ động thông tin một cách kịp thời về tình hình trong nước, đặc biệt chú trọng các vấn đề có tính nhạy cảm, mới nảy sinh hay còn có những khác biệt giữa các bên liên quan.

Công tác thông tin đối ngoại góp phần mở rộng hợp tác quốc tế, tăng cường đối thoại, trao đổi kinh nghiệm về công tác bảo vệ, đấu tranh về nhân quyền với cơ quan an ninh, cảnh sát các nước. Tranh thủ giúp đỡ của nước ngoài trong việc trao đổi thông tin, tác động hạn chế hoạt động phức tạp của các cơ quan đặc biệt nước ngoài với Việt Nam, nhất là hoạt động về dân chủ, nhân quyền, đảm bảo lợi ích của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, hạn chế hoạt động chống đối của các tổ chức phản động, lưu vong.

Công tác thông tin đối ngoại góp phần tăng cường tham gia các phong trào, diễn đàn quốc tế, giải quyết các vấn đề toàn cầu nói chung, về nhân quyền nói riêng. Vận động cộng đồng Việt Nam ở nước ngoài hướng về quê hương, đóng góp tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, phát huy vai trò cầu nối hữu nghị, tăng cường quan hệ hợp tác, sự hiểu biết lẫn nhau giữa Việt Nam với các nước.

Nhóm nghiên cứu đề tài
(Bài viết là sản phẩm nghiên cứu của Đề tài khoa học cấp Bộ về “Tăng cường vai trò của thiết chế truyền thông trong bảo vệ quyền con người và quyền công dân ở Việt Nam”)



Tài liệu tham khảo:

1. Nghị quyết Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XI.

2. Kết luận số 16-KL/TW ngày 14/02/2012 của Bộ Chính trị về Chiến lược phát triển thông tin đối ngoại giai đoạn 2010 - 2020.

3. Chỉ thị số 26-CT/TW ngày 10/9/2008 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tiếp tục đổi mới và tăng cường công tác thông tin đối ngoại trong tình hình mới.

4. Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2020 (ban hành kèm theo Quyết định số 581/QĐ-TTg ngày 06/5/2009 của Thủ tướng Chính phủ).

5. Chiến lược ngoại giao văn hóa đến năm 2020 (ban hành theo Quyết định số 208/QĐ-TTg ngày 14/02/2011 của Thủ tướng Chính phủ).

6. Báo cáo Tổng kết 15 năm công tác thông tin đối ngoại của Ban Chỉ đạo công tác thông tin đối ngoại và các báo cáo về công tác thông tin đối ngoại hàng năm của các cơ quan, ban, Bộ, ngành, địa phương.

7. Tạp chí Thông tin đối ngoại, Ban Tuyên giáo Trung ương (các số từ năm 2006 đến năm 2015).

8. Các trang báo điện tử của Bộ Ngoại giao, báo Nhân Dân điện tử, báo Quân đội nhân dân, báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam...

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.

Theo dõi chúng tôi trên: