Thứ bảy 08/08/2026 01:42
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thực trạng truyền thông về thành tựu bảo vệ quyền con người, quyền công dân qua công tác thông tin đối ngoại

Đối với nước ta, công tác thông tin đối ngoại là một trong những nhiệm vụ chủ yếu của công tác tư tưởng và đối ngoại của Đảng, Nhà nước và nhân dân, là một bộ phận quan trọng của hệ thống thông tin quốc gia, bao gồm toàn bộ các hoạt động nhằm chuyển tải tin tức, sự kiện, hình ảnh, tri thức của tất cả các lĩnh vực, các ngành cũng như đời sống sinh hoạt xã hội của đất nước ta ra bên ngoài, nhằm làm cho thế giới hiểu rõ đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước; những thành tựu to lớn của công cuộc đổi mới; về đất nước, con người, lịch sử, văn hóa dân tộc; đấu tranh chống lại những luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực cơ hội, thù địch đối với Việt Nam, qua đó tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ, hợp tác, giúp đỡ của bạn bè quốc tế, sự đồng thuận và đóng góp của đồng bào ta ở nước ngoài đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Bên cạnh đó, thông tin đối ngoại là thông tin hai chiều, từ Việt Nam ra thế giới và từ thế giới vào Việt Nam, giúp nhân dân ta hiểu biết về thế giới, tiếp thu những kinh nghiệm, tinh hoa văn hóa thế giới, trong đó có vấn đề quyền con người. Ngày 12/11/2013, Việt Nam đã trúng cử trở thành thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc - cơ quan chịu trách nhiệm chính của Liên Hợp Quốc trong việc thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền trên thế giới. Hội đồng có nhiều cơ chế giúp việc, đặc biệt là Cơ chế Kiểm điểm định kỳ phổ cập (UPR) mà theo đó, tất cả các nước phải định kỳ nộp báo cáo và kiểm điểm trước Hội đồng Nhân quyền về việc bảo đảm quyền con người tại nước mình. Việc Việt Nam trúng cử thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc là thành công to lớn của công tác đối ngoại của Đảng và Nhà nước, phản ánh vị thế và uy tín ngày càng cao của đất nước ta trên trường quốc tế. Do vậy, công tác thông tin đối ngoại cần có bước chuyển biến để đáp ứng nhiệm vụ được giao trong thời gian tới.

1. Thực trạng công tác thông tin đối ngoại về thành tựu bảo vệ quyền con người, quyền công dân

1.1. Thông tin kịp thời đường lối của Đảng, chính sách pháp luật Nhà nước, thực tiễn quá trình phát triển quyền con người, quyền công dân ở Việt Nam

Chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước ta là bảo vệ, thúc đẩy quyền con người và tích cực hợp tác quốc tế trong lĩnh vực này. Điều đó bắt nguồn từ khát vọng thiết tha được hưởng các quyền tự do cơ bản của nhân dân Việt Nam vốn đã phải chịu cảnh là người dân của một nước thuộc địa. Nhiều bạn bè quốc tế còn nhắc lại tình cảm, sự ủng hộ đối với nhân dân Việt Nam luôn đi đầu trong cuộc đấu tranh bảo vệ quyền dân tộc tự quyết. Đây là một trong những quyền con người cơ bản nhất, được ghi nhận trong những điều khoản đầu tiên của các điều ước quốc tế quan trọng nhất hiện nay về quyền con người.

Việc thông tin kịp thời nội dung Hiến pháp, lấy ý kiến nhân dân trong và ngoài nước về việc sửa đổi Hiến pháp năm 1992 với những thông tin kịp thời trên các loại hình báo chí, bằng nhiều thứ tiếng nước ngoài là hình thức thông tin đối ngoại rộng rãi, đem đến cho nhân dân cơ hội thực hiện quyền công dân của mình, đồng thời để bạn bè quốc tế hiểu rõ sự tiến bộ trong những quy định của pháp luật Việt Nam.

Bảo đảm quyền con người, quyền công dân gắn bó mật thiết với bảo đảm chế độ chính trị. Nhà nước được lập ra là để bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người, quyền công dân; việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân gắn bó mật thiết với việc bảo đảm chế độ chính trị. Trong những năm qua, công tác thông tin đối ngoại thông qua báo chí nói chung và báo chí đối ngoại nói riêng đã ngày càng được chú trọng, từng bước phát triển mạnh mẽ, đóng góp tích cực vào những thành tựu hoạt động đối ngoại và sự phát triển đất nước trên các lĩnh vực đời sống xã hội, nâng cao vị thế nước ta trên trường quốc tế, mở rộng giao lưu quốc tế. Cuộc sống mỗi gia đình ngày càng được nâng cao, hình ảnh đất nước Việt Nam hòa bình, hữu nghị, tích cực hội nhập quốc tế và đầy tiềm năng phát triển, con người Việt Nam thân thiện, năng động ngày càng được nhiều nước trên thế giới biết đến.

1.2. Thông tin đối ngoại phục vụ triển khai các chính sách phát triển kinh tế - xã hội và đối ngoại của đất nước, bảo đảm lợi ích quốc gia, dân tộc, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ

Công tác thông tin đối ngoại gắn kết chặt chẽ với thông tin đối nội luôn bám sát phục vụ triển khai các chính sách phát triển kinh tế - xã hội và đối ngoại của đất nước, bảo đảm lợi ích quốc gia, dân tộc, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ. Công tác thông tin đối ngoại góp phần quảng bá công cuộc đổi mới, phát triển đất nước, nâng cao uy tín, vị thế và ảnh hưởng của Việt Nam ở khu vực và trên trường quốc tế, phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Ban Chỉ đạo Trung ương về công tác thông tin đối ngoại và Ban Chỉ đạo nhân quyền của Chính phủ luôn quan tâm công tác truyền thông về nhân quyền, thường xuyên bám sát chỉ đạo các hoạt động thông tin, tuyên truyền từ cơ sở đến trung ương với nhiệm vụ không ngừng tăng cường cung cấp thông tin chính thống, có định hướng về chính sách và những nỗ lực của Việt Nam trong việc phát huy dân chủ, bảo đảm quyền con người, quyền tự do tôn giáo, những thành tựu của đất nước ta trong phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống nhân dân.

Trong phát triển kinh tế - xã hội, vấn đề quan tâm đời sống nhân dân, đem lại sự phát triển đồng đều các vùng, miền và sự bình đẳng về quyền lợi mỗi người dân được quan tâm trước hết là những tiến bộ trong xóa đói giảm nghèo. Với chính sách toàn diện thúc đẩy mọi khía cạnh của đời sống, hướng đến nhóm dân cư dễ bị tổn thương và thiệt thòi nhất ở vùng sâu, vùng xa, các chương trình xóa đói, giảm nghèo đã đạt được mục tiêu chung là giảm nghèo, tăng thu nhập và cải thiện điều kiện sống của nhóm người dân những vùng này. Trong những năm gần đây, mặc dù tình hình kinh tế gặp khó khăn hơn trước, nhưng nhiệm vụ đảm bảo an sinh xã hội vẫn được Việt Nam ưu tiên duy trì. Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững đạt kết quả tích cực. Việt Nam đã được ghi nhận là nước có nhiều thành tích, có những tiến bộ vượt bậc trong công cuộc xóa đói, giảm nghèo. Những thành tựu đó là một phần minh chứng, khẳng định nhân quyền ở Việt Nam luôn được đảm bảo và thực thi một cách nghiêm chỉnh, đúng pháp luật và phù hợp với các điều ước quốc tế.

1.3. Thông tin đối ngoại về tín ngưỡng, tôn giáo

Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo thuộc phạm vi pháp luật dân sự là một trong những nội dung của quyền nhân thân. Các phương tiện thông tin đại chúng nước ta thường xuyên thông tin kịp thời về hoạt động xây dựng pháp luật, thể chế hóa các quy định trong Bộ luật Dân sự về quyền dân sự, bảo vệ quyền con người, quyền tự do tôn giáo. Pháp luật hiện hành của Việt Nam thể hiện đầy đủ các quyền con người được nêu trong Tuyên ngôn Nhân quyền và các Công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã tham gia. Theo thống kê, từ năm 1986 đến nay, Quốc hội Việt Nam đã thông qua trên 40 bộ luật và các luật bảo đảm quyền con người với những nguyên tắc ngày càng cụ thể hơn. Đó là nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ trên các lĩnh vực chính trị, dân sự. Nguyên tắc bình đẳng giới đã được xem là một nguyên tắc xuyên suốt pháp luật quốc gia.

Sự phát triển hoạt động báo chí, trong đó có các báo chí chuyên về vấn đề nhân quyền, báo chí bằng tiếng nước ngoài, báo chí điện tử phát triển đã thông tin rộng rãi về mối quan hệ giữa Nhà nước với các tôn giáo. Tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một quyền nhân thân cơ bản của công dân được đề cập trong pháp luật dân sự. Ðảng và Nhà nước Việt Nam luôn coi việc thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một biểu hiện cụ thể của vấn đề nhân quyền.

1.4. Thông tin đối ngoại về sự phát triển cộng đồng Việt Nam ở nước ngoài

Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm, sẵn sàng hỗ trợ cộng đồng vượt qua khó khăn, ổn định và phát triển, mong muốn cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, nguồn gốc xuất thân, địa vị xã hội, lý do ra nước ngoài tự nguyện tham gia vào khối đại đoàn kết toàn dân tộc để chung sức, đồng lòng xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.

Trong bối cảnh đất nước đang tiếp tục đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tích cực chủ động hội nhập quốc tế, công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài ngày càng có vai trò quan trọng. Công tác thông tin đối ngoại góp phần đáp ứng nguyện vọng chung của đông đảo bà con, không để bà con bị phân biệt đối xử, tạo thuận lợi cho bà con gắn bó hơn nữa với cội nguồn, với đất nước. Quyền lợi chính đáng của bà con ở trong và ngoài nước cần tiếp tục được quan tâm chăm lo để bà con thấy ở Đảng và Nhà nước là một chỗ dựa vững chắc khi quyền lợi của mình bị xâm phạm; đồng thời, chúng ta cũng cần tiếp tục tạo cơ hội và điều kiện để bà con góp sức cùng xây dựng đất nước tùy theo khả năng của mình và bằng những hình thức phù hợp với hoàn cảnh cụ thể.

1.5. Thông tin đối ngoại về phát triển giao lưu văn hóa đối ngoại

Sự phát triển của công nghệ thông tin với quy mô toàn cầu hiện nay tạo cơ hội tốt để Việt Nam nhanh chóng tiếp cận với công nghệ mới, các kỹ năng, các phương tiện thông tin, kỹ thuật truyền thông hiện đại, những kinh nghiệm tổ chức hoạt động, những cơ sở lý luận mới để từ đó hỗ trợ quá trình đổi mới và phát triển của thông tin nước ta nói chung và thông tin đối ngoại nói riêng. Hợp tác và giao lưu văn hóa giữa nước ta với các nước được đẩy mạnh. Đó chính là những tiền đề khích lệ văn hóa nội sinh phát triển, điều kiện để tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại, đồng thời cũng là cơ hội để giới thiệu với bạn bè khắp năm châu những vẻ đẹp độc đáo của nền văn hóa dân tộc.

Trong thế giới toàn cầu hóa, việc mở rộng giao lưu hợp tác quốc tế là một yêu cầu và xu thế tất yếu để phát triển. Trong quá trình đó, vai trò của văn hóa ngày càng được coi trọng… Bên cạnh đó, giao lưu quốc tế giữa các quốc gia hiện nay là một quá trình vừa hợp tác, vừa đấu tranh, trong đó bên cạnh đấu tranh về lợi ích kinh tế thì đấu tranh về tư tưởng, quan điểm và văn hóa ngày càng nổi lên, thậm chí có lúc gay gắt. Trong điều kiện đó, thông tin đối ngoại của ta đứng trước thách thức là làm sao phải xử lý thỏa đáng mối quan hệ giữa nhu cầu mở rộng, phát triển quan hệ đối ngoại với việc bảo vệ lợi ích quốc gia, nền văn hóa dân tộc. Hoạt động văn hóa đối ngoại của nước ta cùng với các hoạt động chính trị đối ngoại, kinh tế đối ngoại là ba trụ cột gắn bó, tác động lẫn nhau, tạo thế kiềng vững chắc, góp phần thực hiện thắng lợi đường lối đối ngoại toàn diện của Đảng, Nhà nước ta. Từ sự giao lưu, tương tác văn hóa đối ngoại, vị thế đất nước Việt Nam được nâng cao. Giao lưu văn hóa góp phần duy trì giá trị văn hóa và bản sắc dân tộc của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài; trở thành thành tố nổi bật trong ngoại giao văn hóa và quan hệ quốc tế của Việt Nam. Hợp tác và giao lưu quốc tế về văn hóa giúp đạt các mục tiêu mà chính sách văn hóa mà Việt Nam đã đặt ra, đó là tiếp thu tinh hoa văn háo của nhân loại.

Kết quả hoạt động văn hóa đối ngoại của nước ta trong những năm qua đã giúp bạn bè quốc tế, cộng đồng Việt Nam ở nước ngoài ngày càng yêu mến văn hóa, con người Việt Nam, ủng hộ công cuộc đổi mới của Việt Nam. Hoạt động văn hóa đối ngoại vừa là yêu cầu khách quan trong quá trình hội nhập quốc tế, vừa là là một trong những nội dung, nhiệm vụ chủ yếu của công tác thông tin đối ngoại ở nước ta.

1.6. Công tác thông tin đối ngoại gắn liền với công tác tuyên truyền biển đảo và phân giới cắm mốc, góp phần tích cực vào bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền biển đảo Việt Nam

Thời gian qua, công tác tuyên truyền biển, đảo luôn dành được sự quan tâm đặc biệt của các cấp, các ngành và mọi tầng lớp nhân nhân. Quy mô, nội dung, phương pháp tuyên truyền thường xuyên được đổi mới đã và đang góp phần nâng cao hiệu quả, tạo sự chuyển biến tích cực, nhận thức sâu sắc của các cấp, các ngành về vị trí, vai trò tầm chiến lược của biển, đảo đối với sự nghiệp xây dựng, bảo vệ tổ quốc trong xu thế hội nhập và phát triển đất nước. Do đó, trong những năm qua, chúng ta đẩy mạnh tuyên truyền sâu rộng vị trí, vai trò, tiềm năng thế mạnh của biển, đảo Việt Nam đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay cũng như các giai đoạn tiếp theo. Đặc biệt, trong quá trình đổi mới, hội nhập của đất nước, nhấn mạnh những thời cơ, thách thức; thuận lợi và khó khăn để phát huy hiệu quả to lớn của việc thực hiện chiến lược biến đổi với sự phát triển, ổn định của đất nước.

Công tác tuyên truyền về biển đảo, phân giới cắm mốc hiện nay không chỉ trên các phương tiện thông tin đại chúng mà phải đẩy mạnh tuyên truyền qua hệ thống báo cáo viên, tuyên truyền miệng, cổ động, quảng cáo đến mọi người dân để họ hiểu sâu sắc về biển đảo, biên giới và thấy được trách nhiệm trong công tác bảo vệ biển đảo, biên giới của Tổ quốc.

2.7. Công tác thông tin đối ngoại góp phần đấu tranh dư luận, phản bác các quan điểm sai trái của các phần tử cơ hội, các thế lực thù địch một cách chủ động, có tính thuyết phục và hiệu quả

Như chúng ta đã biết, âm mưu cơ bản, lâu dài của các thế lực cơ hội, thù địch là xóa bỏ chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thủ tiêu sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa, đưa nước ta theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản. Để thực hiện âm mưu đó, chúng tăng cường sử dụng “diễn biến hòa bình” - một chiến lược nằm trong hệ thống chiến lược phản cách mạng.

Trên mặt trận này, Đảng ta đã có nhiều văn bản chỉ thị, nghị quyết nêu rõ các quan điểm, nhiệm vụ và giải pháp lớn. Tiếp tục đẩy mạnh, nâng cao chất lượng “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, tạo chuyển biến căn bản trong việc ngăn chặn, từng bước đẩy lùi sự suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân. Chủ động phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và đấu tranh chống các quan điểm sai trái, bác bỏ các luận điệu tuyên truyền phản động, làm thất bại âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng. Các lực lượng báo chí của ta đã chú trọng mở rộng và tăng cường hoạt động đấu tranh trên mạng internet, tăng cường huy động lực lượng tham gia viết bài, nâng cao chất lượng các tin, bài phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, tìm kiếm và đưa lên mạng những bài viết của tác giả nước ngoài, hải ngoại có nội dung có lợi cho ta.

Một trong những nét nổi bật trong việc đấu tranh dư luận là chúng ta đã tăng cường tính chủ động trong việc đấu tranh với những luận điệu xuyên tạc, thông tin sai trái về Việt Nam. Chúng ta đã chủ động thông tin một cách kịp thời về tình hình trong nước, đặc biệt chú trọng các vấn đề có tính nhạy cảm, mới nảy sinh hay còn có những khác biệt giữa các bên liên quan.

Công tác thông tin đối ngoại góp phần mở rộng hợp tác quốc tế, tăng cường đối thoại, trao đổi kinh nghiệm về công tác bảo vệ, đấu tranh về nhân quyền với cơ quan an ninh, cảnh sát các nước. Tranh thủ giúp đỡ của nước ngoài trong việc trao đổi thông tin, tác động hạn chế hoạt động phức tạp của các cơ quan đặc biệt nước ngoài với Việt Nam, nhất là hoạt động về dân chủ, nhân quyền, đảm bảo lợi ích của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, hạn chế hoạt động chống đối của các tổ chức phản động, lưu vong.

Công tác thông tin đối ngoại góp phần tăng cường tham gia các phong trào, diễn đàn quốc tế, giải quyết các vấn đề toàn cầu nói chung, về nhân quyền nói riêng. Vận động cộng đồng Việt Nam ở nước ngoài hướng về quê hương, đóng góp tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, phát huy vai trò cầu nối hữu nghị, tăng cường quan hệ hợp tác, sự hiểu biết lẫn nhau giữa Việt Nam với các nước.

Nhóm nghiên cứu đề tài
(Bài viết là sản phẩm nghiên cứu của Đề tài khoa học cấp Bộ về “Tăng cường vai trò của thiết chế truyền thông trong bảo vệ quyền con người và quyền công dân ở Việt Nam”)



Tài liệu tham khảo:

1. Nghị quyết Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XI.

2. Kết luận số 16-KL/TW ngày 14/02/2012 của Bộ Chính trị về Chiến lược phát triển thông tin đối ngoại giai đoạn 2010 - 2020.

3. Chỉ thị số 26-CT/TW ngày 10/9/2008 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tiếp tục đổi mới và tăng cường công tác thông tin đối ngoại trong tình hình mới.

4. Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2020 (ban hành kèm theo Quyết định số 581/QĐ-TTg ngày 06/5/2009 của Thủ tướng Chính phủ).

5. Chiến lược ngoại giao văn hóa đến năm 2020 (ban hành theo Quyết định số 208/QĐ-TTg ngày 14/02/2011 của Thủ tướng Chính phủ).

6. Báo cáo Tổng kết 15 năm công tác thông tin đối ngoại của Ban Chỉ đạo công tác thông tin đối ngoại và các báo cáo về công tác thông tin đối ngoại hàng năm của các cơ quan, ban, Bộ, ngành, địa phương.

7. Tạp chí Thông tin đối ngoại, Ban Tuyên giáo Trung ương (các số từ năm 2006 đến năm 2015).

8. Các trang báo điện tử của Bộ Ngoại giao, báo Nhân Dân điện tử, báo Quân đội nhân dân, báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam...

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.

Theo dõi chúng tôi trên: