Thứ tư 14/01/2026 13:27
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thực trạng và giải pháp giảm thiểu tảo hôn trên địa bàn huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La

Sốp Cộp là huyện miền núi biên giới và là một trong 62 huyện nghèo của cả nước. Huyện có 08 xã, đều là các xã đặc biệt khó khăn, trong đó có 04 xã biên giới giáp nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào.

Tại đây, vấn đề tảo hôn vẫn còn tồn tại khá phổ biến và chưa nhận được sự quan tâm nhiều từ phía cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể cũng như cộng đồng dân cư. Các văn bản chỉ đạo từ phía chính quyền chủ yếu là công văn yêu cầu báo cáo số liệu tảo hôn. Riêng Hội đồng Phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật huyện thì đã có những kế hoạch tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về hôn nhân và gia đình (do phòng Tư pháp là cơ quan thường trực). Qua các số liệu báo cáo cho thấy, số lượng tảo hôn có xu hướng giảm dần từ năm 2013 đến năm 2015. Các xã có số lượng tảo hôn cao thường là các xã vùng sâu, vùng xa, điều kiện kinh tế kém phát triển, các xã biên giới, các xã có số lượng người dân tộc Mông sinh sống đông… Xã có số lượng tảo hôn ít nhất là xã Sốp Cộp, nơi có trung tâm hành chính huyện và là nơi hội tụ, giao lưu văn hóa, kinh tế, chính trị của huyện. Tỉ lệ tảo hôn ở nữ giới cao hơn gấp 3 lần so với nam giới. Các cặp tảo hôn thường là người dân tộc Mông.

1. Các yếu tố ảnh hưởng đến tảo hôn

Thứ nhất, về sự phát triển kinh tế - xã hội và đô thị hóa

Có thể thấy, sự phát triển kinh tế - xã hội kéo theo những thay đổi quan trọng trong đời sống xã hội, từ công nghiệp hóa, đô thị hóa, đến phát triển kinh tế, thậm chí đến cả cấu trúc về lực lượng lao động trong xã hội. Sự phát triển kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến nam và nữ trong mong muốn và khả năng tiến tới hôn nhân. Công nghiệp hóa, đô thị hóa và sự phát triển kinh tế - xã hội đòi hỏi con người phải có thêm nhiều sáng kiến để đáp ứng cuộc sống. Đồng thời, con người cần có thêm những kỹ năng và kinh nghiệm tích lũy để tìm việc và có việc làm phù hợp với nhu cầu và môi trường sống. Do đó, ở những nơi có điều kiện kinh tế - xã hội phát triển, thanh niên cần phải có nhiều kỹ năng và kinh nghiệm sống hơn, điều đó thúc đẩy bản thân họ phải trì hoãn lại việc tiến tới hôn nhân, để có thể có nhiều thời gian hơn tích lũy kinh nghiệm và kỹ năng, ngay kể cả bố, mẹ của họ cũng nhận thức được điều đó. Kỹ năng và kinh nghiệm tốt sẽ giúp thanh niên có việc làm tốt, thu nhập ổn định, bảo đảm cuộc sống. Ngược lại, ở những vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn, người dân chủ yếu sống dựa vào nông, lâm nghiệp, tự cung tự cấp. Bên cạnh đó, khả năng tiếp cận những thông tin khoa học, kỹ thuật tiên tiến còn hạn chế. Do đó, cơ hội việc làm ít hơn và đòi hỏi của kỹ năng công việc cũng như kinh nghiệm sống ít hơn. Họ tiếp thu những kinh nghiệm, kỹ năng đơn giản được truyền từ bố, mẹ. Yêu cầu kỹ năng và kinh nghiệm cuộc sống không cao là yếu tố đưa họ đến việc kết hôn sớm hơn.

Nhiều nhà nghiên cứu khoa học cho rằng, ở các nước đang phát triển, giữa thành thị và nông thôn có sự khác biệt rất lớn về hôn nhân. Phụ nữ ở khu vực đô thị có nhiều cơ hội tiếp thu những giá trị hiện đại, như: Phụ nữ cũng phải được hưởng thụ, phụ nữ kết hôn sớm là mất tuổi thanh xuân, những chuẩn mực trong xã hội... Mặt khác, những phụ nữ này nhận thức được rằng có một khoảng cách rất lớn giữa cộng đồng và quan hệ họ hàng, do đó, họ hàng thân thích không thể là yếu tố ảnh hưởng đến hôn nhân của họ. Hơn nữa, các chuẩn mực xã hội, hành vi tình dục, cơ hội lớn trong việc chọn bạn đời đã là những yếu tố khiến phụ nữ sinh sống nơi đô thị chống lại việc kết hôn sớm.

Thứ hai, về giáo dục

Giáo dục là một yếu tố quan trọng nhất, phổ biến nhất làm ảnh hưởng tới tảo hôn. Ở các nước đang phát triển trên thế giới, số trẻ đi học ngày càng tăng trong suốt những năm qua. Giáo dục có liên quan mật thiết với tảo hôn, liên quan đến cơ hội cho các thanh, thiếu niên học tiếp ở bậc trung học cơ sở hay trung học phổ thông hoặc bậc cao hơn nữa. Tại các nước đang phát triển, nhiều trẻ em không đến trường, kể cả bậc tiểu học, là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng tảo hôn với tỉ lệ cao. Hơn nữa, giáo dục làm hẹp phạm vi kết hôn của phụ nữ, bởi lẽ nhìn chung, phụ nữ mong muốn kết hôn được với người đàn ông ít nhất là có sự giáo dục tương đương với họ. Mặt khác, phụ nữ (hoặc đàn ông) có nền giáo dục tốt hơn sẽ nhận thức tốt hơn về vấn đề kết hôn, về luật pháp, về khả năng sinh sản và sức khỏe. Điều này làm ảnh hưởng lớn tới quyết định kết hôn của họ, khuyến khích họ trì hoãn kết hôn và mang thai. Bên cạnh đó, kết quả của giáo dục có liên quan đến lực lượng lao động. Bằng giáo dục, phụ nữ (hay đàn ông) đều muốn kiếm được lương cao hơn bằng cách chọn nghề tốt hơn, phát triển kinh tế, ổn định cuộc sống. Do đó, những người có nền tảng giáo dục tốt hơn luôn trì hoãn sự kết hôn quá sớm của mình và ngược lại.

Thứ ba, về dân số

Dân số cũng là một trong những yếu tố quyết định đến thời điểm kết hôn. Các nhà khoa học đã chỉ ra rằng, yếu tố chọn bạn đời trong hôn nhân là một vấn đề quan trọng ảnh hưởng đến thời điểm kết hôn. Giới tính này có quan hệ mật thiết với giới tính kia. Khi mà giới tính này có quá đông về số lượng, giới tính kia có quá ít về số lượng, thì giới tính có số đông có xu hướng kết hôn sớm để tăng cơ hội có bạn đời, những người còn lại cùng giới tính với họ ít có cơ hội kết hôn hơn. Đồng thời, giới tính có số lượng ít hơn sẽ có xu hướng kết hôn ở độ tuổi muộn hơn, vì họ có nhiều cơ hội lựa chọn bạn đời và họ sẽ cố để lựa chọn cho mình một người bạn đời ưng ý nhất.

Thứ tư, về văn hóa

Với 08 dân tộc cùng sinh sống trên địa bàn huyện Sốp Cộp, mỗi dân tộc có bản sắc văn hóa truyền thống riêng biệt về phong tục, tập quán, lễ hội, trang phục và thuộc các nhóm ngôn ngữ khác nhau… Do các dân tộc sống xen kẽ đã tạo ra sự giao thoa ảnh hưởng lẫn nhau cả về văn hóa và ngôn ngữ, từ đó tạo nên sự đa dạng về văn hóa vùng. Bên cạnh những bản sắc văn hóa truyền thống tốt đẹp của từng dân tộc, từng cộng đồng, cũng tồn tại một số phong tục tập quán còn mang tính lạc hậu, trong đó có những tập quán về hôn nhân có ảnh hưởng, tác động không nhỏ đến tình trạng tảo hôn trong đồng bào dân tộc thiểu số

Phong tục tập quán lạc hậu cũng là một trong những yếu tố còn tồn tại thực tế trên địa bàn huyện Sốp Cộp, nhất là đối với vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới và cộng đồng người Mông. Hủ tục có thể kể đến như: Cướp vợ, hứa hôn, cưỡng ép hôn nhân mang tính chất gả bán, tục “nối dây”, tâm lý sớm có con đàn cháu đống, có người nối dõi, kết hôn sớm để gia đình có thêm người làm… là những thực trạng cần phải khắc phục, ảnh hưởng đến tảo hôn. Kết hôn sớm làm mất đi cơ hội về học tập, việc làm tốt, cơ hội cải thiện đời sống và chăm sóc sức khỏe của người trẻ tuổi, bà mẹ, trẻ em, đặc biệt là ảnh hưởng tới tỉ lệ tử vong, tỉ lệ suy dinh dưỡng, thấp còi của trẻ em, dẫn tới ảnh hưởng đến thế hệ tương lai.

Ở một số địa phương, cộng đồng người dân vẫn kết hôn theo độ tuổi trong tập quán dẫn tới tình trạng tảo hôn vẫn còn tồn tại trong cộng đồng này. Thực tế cho thấy, mặc dù đã được tuyên truyền pháp luật về hôn nhân và gia đình, bà con hiểu được những quy định của pháp luật về độ tuổi kết hôn, song do phong tục tập quán lạc hậu đã đi vào cuộc sống của người dân từ rất lâu đời, các gia đình “dựng vợ, gả chồng” cho con của họ từ rất sớm nên tình trạng tảo hôn vẫn diễn ra. Vì chưa đủ tuổi theo luật định, nên việc đăng ký kết hôn không được thực hiện tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhưng hai bên gia đình vẫn tổ chức đám cưới theo phong tục; họ hàng hai bên, cộng đồng dân cư của cả bản vẫn mặc nhiên công nhận đó là một cặp vợ chồng.

2. Một số hậu quả của tảo hôn

Một là, ảnh hưởng đến sức khỏe bà mẹ và trẻ sơ sinh

Tảo hôn dẫn đến hậu quả mang thai sớm và sinh đẻ trong lứa tuổi chưa thành niên, khi cơ thể người mẹ chưa phát triển hoàn thiện. Mặt khác, do vẫn còn quá trẻ, nên thiếu hiểu biết, thiếu kinh nghiệm và chưa sẵn sàng tâm lý để mang thai đã ảnh hưởng đến sức khỏe bà mẹ, ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của thai nhi và trẻ sơ sinh. Đây là nguyên nhân làm gia tăng tỉ lệ trẻ em suy dinh dưỡng, thấp còi và tỉ lệ tử vong của trẻ em dưới 01 tuổi và dưới 05 tuổi, đồng thời cũng làm tăng tỉ lệ tử vong của bà mẹ liên quan đến thai sản. Theo thống kê, tỉ lệ tử vong của bà mẹ liên quan đến thai sản của huyện Sốp Cộp cao gấp 05 lần so với mức bình quân cả nước.

Hai là, ảnh hưởng đến chất lượng dân số, suy giảm giống nòi và chất lượng nguồn nhân lực

Tảo hôn để lại những hậu quả khó lường cho thế hệ tương lai. Tảo hôn cản trở sự phát triển của kinh tế - xã hội, sự tiến bộ xã hội và sự phát triển bền vững của vùng dân tộc thiểu số. Bên cạnh đó, thế hệ nối tiếp theo của các cặp tảo hôn được sinh ra chậm phát triển, suy dinh dưỡng, dị tật hoặc mắc các bệnh khác cao hơn so với những trẻ em được sinh ra từ các cặp bố mẹ khác.

Ba là, rơi vào vòng luẩn quẩn giữa đói nghèo - thất học - tảo hôn

Đói nghèo - thất học - tảo hôn là một vòng luẩn quẩn, là một chuỗi các mắt xích khép kín, khó có lối thoát. Thực tế cho thấy, nơi nào có tỷ lệ đói nghèo cao thì tỉ lệ tảo hôn cũng cao. Như chúng ta đã nghiên cứu, phát triển kinh tế - xã hội và giáo dục là những nguyên nhân dẫn đến tình trạng tảo hôn. Tuy nhiên, ở góc nhìn này, chúng ta thấy trình độ phát triển kinh tế và giáo dục còn là hậu quả của tảo hôn, làm suy giảm chất lượng cuộc sống.

Tảo hôn còn là rào cản để huyện Sốp Cộp nói riêng, Việt Nam nói chung thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia như: Giảm tình trạng đói nghèo, phổ cập tiểu học, tăng cường bình đẳng nam nữ, giảm tử vong trẻ em, cải thiện sức khoẻ bà mẹ, trẻ em và đấu tranh chống các bệnh dịch.

3. Một số kiến nghị, giải pháp

3.1. Kiến nghị đối với các cơ quan, đoàn thể

- Đối với cấp ủy Đảng: Cần ra nghị quyết chuyên đề về giảm thiểu tảo hôn. Các cấp chính quyền trên cơ sở nghị quyết chuyên đề của cấp ủy Đảng cụ thể hóa thành các chương trình hành động, kế hoạch tổ chức thực hiện. Sự góp mặt của các cấp ủy Đảng, chính quyền là nhân tố quyết định cho công tác giảm thiểu tình trạng tảo hôn trên địa bàn huyện Sốp Cộp.

- Đối với Ủy ban nhân dân các cấp: Ủy ban nhân dân các cấp cần cụ thể hóa nghị quyết của cấp ủy Đảng về giảm thiểu tình trạng tảo hôn. Có kế hoạch triển khai cụ thể trong công tác giảm thiểu tảo hôn, từ công tác tuyên tuyền, phổ biến giáo dục pháp luật, đến công tác xử lý vi phạm. Các kế hoạch triển khai thực hiện cần rõ người, rõ việc, rõ thời gian và rõ chỉ tiêu cần thực hiện. Xử lý hành chính đối với người vi phạm pháp luật về tảo hôn là một trong những biện pháp nhằm góp phần bảo đảm hiệu quả điều chỉnh của pháp luật về điều kiện độ tuổi kết hôn. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, xử lý hành chính đối với tảo hôn còn chưa triệt để dẫn đến hệ quả tất yếu là tình trạng vi phạm pháp luật gia tăng gây ảnh hưởng đến hiệu quả điều chỉnh của pháp luật về điều kiện về độ tuổi kết hôn. Vì thế, Ủy ban nhân dân các xã cần phải có các biện pháp khắc phục những bất cập trong việc xử lý hành chính đối với hành vi vi phạm pháp luật về độ tuổi kết hôn.

- Đối với các cơ quan tố tụng: Hiện nay, xử lý hình sự đối với các hành vi vi phạm pháp luật về độ tuổi kết hôn nói riêng, về hôn nhân và gia đình nói chung còn nhiều bất cập. Vì vậy, chế tài hình sự trở thành một thứ công cụ pháp lý bị lãng quên. Do đó, tình trạng vi phạm pháp luật về độ tuổi kết hôn vẫn còn xảy ra nhiều. Các cơ quan tiến hành tố tụng trên địa bàn cần phải có những nghiên cứu, rà soát, đánh giá và đề xuất hoàn thiện quy định của Bộ luật Hình sự phần các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình theo hướng thực tế hơn. Mặt khác, các cơ quan tố tụng trên địa bàn huyện cần phải coi chế tài hình sự là một công cụ pháp lý quan trọng trong việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của người kết hôn, lợi ích của gia đình và xã hội. Đây cũng là một nội dung quan trọng không thể tách rời cơ chế thực thi pháp luật về quyền con người nói chung và quyền tự do kết hôn nói riêng.

- Đối với công an: Công tác kiểm tra nhân khẩu, hộ khẩu đóng vai trò quan trọng trong kiểm tra, theo dõi những trường hợp tảo hôn. Các trường hợp tảo hôn không có đủ các hồ sơ, giấy tờ để người vợ chuyển khẩu, nhập khẩu sang bên nhà chồng, bởi ít nhất họ cũng thiếu giấy chứng nhận kết hôn. Trên thực tế, hầu hết lực lượng công an các xã trên địa bàn huyện Sốp Cộp đã không xem xét hồ sơ, giấy tờ hợp lệ nhưng vẫn chuyển khẩu, nhập khẩu theo nguyện vọng của công dân mà không cần giấy tờ cần xuất trình và giấy tờ cần nộp. Chính điều đó đã tạo cơ sở cho tảo hôn được tiến hành thuận lợi hơn. Vì vậy, lực lượng công an cần chấn chỉnh, tăng cường kiểm tra nhân khẩu, hộ khẩu, thực hiện chuyển khẩu, nhập khẩu theo đúng quy định của pháp luật. Theo đó, các trường hợp tảo hôn sẽ không thể có hộ khẩu, thậm chí là tạm trú, tạm vắng. Hệ quả là, địa phương nơi họ sinh sống sẽ không cho họ chuyển khẩu, địa phương nơi họ sẽ sinh sống không cho họ tạm trú và tạm vắng nên yêu cầu họ quay về nơi ở cũ. Để thực hiện được tốt công tác kiểm tra nhân khẩu, hộ khẩu thì cần phải có sự phối hợp chặt chẽ của các địa phương với nhau, kịp thời phát hiện tình trạng tảo hôn và yêu cầu các trường hợp đó thực hiện đúng quy định của pháp luật về điều kiện độ tuổi kết hôn.

- Đối với Mặt trận và các đoàn thể: Mặt trận và các đoàn thể (nhất là Đoàn Thanh niên, Hội Liên hiệp phụ nữ) cần phối hợp chặt chẽ với cấp ủy Đảng, chính quyền và cộng đồng bản trong giảm thiểu tình trạng tảo hôn là rất quan trọng, tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục nhân dân tuân theo các quy định của pháp luật, nhất là Luật Hôn nhân và gia đình. Sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị sẽ làm thay đổi dần nhận thức, tư duy của người dân về các hủ tục lạc hậu, trong đó có tảo hôn, để người dân có ý thức chấp hành pháp luật một cách tốt hơn.

3.2. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật, nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật về hôn nhân và gia đình của đồng bào các dân tộc thiểu số đang sinh sống trên địa bàn huyện Sốp Cộp

- Tăng cường tuyên truyền, phổ biến, cung cấp thông tin, kiến thức pháp luật về hôn nhân và gia đình trong trường học: Đưa nội dung giáo dục giới tính; các quy định pháp luật về hôn nhân và gia đình (như điều kiện về độ tuổi kết hôn, những điều cấm trong hôn nhân…); về tác hại, hậu quả của tảo hôn vào trong chương trình giáo dục ở trường phổ thông trung học và phổ thông dân tộc nội trú. Tăng cường công tác hướng nghiệp, hoạt động ngoại khóa, sinh hoạt đoàn, đội, câu lạc bộ, tổ, nhóm… trong trường học để tuyên truyền, cung cấp thông tin, nâng cao nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật về hôn nhân và gia đình đối với học sinh.

- Triển khai các hoạt động phù hợp với các yếu tố về văn hóa, giới tính, lứa tuổi và dân tộc để tuyên truyền, phổ biến, nâng cao nhận thức, vận động xóa bỏ những hủ tục lạc hậu và phòng chống tảo hôn: Tuyên truyền, vận động trực tiếp, trực diện thông qua các điểm truyền thông; qua các hoạt động tư vấn, trợ giúp pháp lý miễn phí tại cộng đồng và lưu động tại các bản. Về thực hiện nhiệm vụ này, phòng tư pháp huyện, công chức tư pháp các xã và 8/8 câu lạc bộ pháp lý của 08 xã trên địa bàn huyện cần tập trung huy động nguồn lực, vật lực để thực hiện tốt công tác tuyên truyền, vận động và trợ giúp pháp lý. Lồng ghép các hoạt động tuyên truyền, vận động với các hoạt động văn hóa, lễ hội tại cộng đồng, các cuộc họp, hội nghị, sinh hoạt của chính quyền, đoàn thể, các câu lạc bộ, các tổ, nhóm. Phát huy vai trò của người uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số; nêu gương người tốt, việc tốt trong việc thực hiện Luật Hôn nhân và gia đình và công tác dân số, kế hoạch hóa gia đình; tuyên truyền, vận động xóa bỏ những hủ tục lạc hậu tồn tại ở một số dân tộc thiểu số trong hôn nhân.

- Nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động: Xây dựng và nâng cao năng lực cán bộ truyền thông trên cơ sở là những công chức tư pháp xã, cán bộ, đảng viên là người dân tộc và đội ngũ cộng tác viên dân số bản. Khảo sát, đánh giá, lựa chọn địa bàn, dân tộc và cam kết của địa phương để xây dựng và triển khai thực hiện dự án truyền thông, mô hình can thiệp đối với dân tộc Mông (là dân tộc có tỉ lệ tảo hôn cao nhất huyện).

3.3. Tăng cường lãnh đạo, quản lý và nâng cao trách nhiệm của chính quyền, các tổ chức đoàn thể trong thực hiện các quy định của pháp luật về hôn nhân

- Đưa mục tiêu, nhiệm vụ về hôn nhân và gia đình, về phòng, chống tảo hôn vào nghị quyết của các cấp ủy Đảng, chương trình, kế hoạch hoạt động của chính quyền và các đoàn thể địa phương hàng năm.

- Triển khai các hoạt động can thiệp phù hợp: Tư vấn, hỗ trợ pháp lý, khám sức khỏe tiền hôn nhân.

- Xây dựng, đưa các quy định của pháp luật về tuổi kết hôn, đăng ký kết hôn, cam kết không tảo hôn, thực hiện đăng ký kết hôn, đăng ký khai sinh theo đúng quy định và bảo đảm thực hiện các nội dung chăm sóc sức khỏe sinh sản, sức khỏe bà mẹ, trẻ em… vào hương ước, quy ước bản, tiêu chuẩn gia đình văn hóa, bản văn hóa.

- Phối hợp chặt chẽ và tăng cường các hoạt động giao lưu giữa các địa phương lân cận trong việc ngăn chặn và phòng, chống vấn nạn tảo hôn.

- Tăng cường kiểm tra, kịp thời phát hiện, ngăn ngừa và xử lý nghiêm minh các trường hợp vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình.

3.4. Đầu tư cơ sở hạ tầng, từng bước cải thiện và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào trên địa bàn huyện

- Tiếp tục thực hiện các cơ chế, chính sách, chương trình, dự án hiện hành, đặc biệt là Chương trình 30a (theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo), Chương trình xây dựng nông thôn mới để đầu tư vào cơ sở hạ tầng, xóa đói giảm nghèo.

- Xây dựng và nâng cấp các tuyến đường từ trung tâm huyện tới các xã, bảo đảm đi được bốn mùa. Tiếp tục mở các tuyến đường tới các bản, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, kết hợp với chương trình xây dựng đường bê tông trong Chương trình xây dựng nông thôn mới cho các bản, với phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”.

- Xây dựng, nâng cấp một số trường học trên địa bàn, xóa các lớp học tranh tre lứa lá.

3.5. Huy động trẻ em đến lớp, thực hiện tốt công tác hướng nghiệp, dạy nghề

- Huy động trẻ em đến lớp, bảo đảm 100% trẻ em được phổ cập tiểu học và phổ cập trung học cơ sở.

- Đưa các nội dung hướng nghiệp dạy nghề vào nội dung giảng dạy cho học sinh, đặc biệt hướng tới các nghề mà địa bàn huyện đang còn thiếu như sửa chữa xe máy, xây dựng.

- Huy động tối đa các nguồn lực: Nguồn lực từ ngân sách nhà nước, nguồn xã hội hóa và các nguồn tài trợ khác, tạo sự đồng thuận trong xã hội cùng chung tay góp phần giảm thiểu tỉ lệ tảo hôn trên địa bàn. Hiện nay, nguồn kinh phí ngân sách nhà nước cấp cho Hội đồng Phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật huyện và công chức tư pháp xã là quá ít để phục vụ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật nói chung và pháp luật về hôn nhân và gia đình nói riêng.

ThS. Nguyễn Đình Toàn

Phòng Tư pháp huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La

Tài liệu tham khảo:

[1]. Bacchi, Carol (2009), Analysing policy: What’s the problem represented to be?, London: Sage.

[2]. J. Robert and T Rebecca (2003), Early female marriage in the developing world, Gender and Development, Vol.11, No.2, Marriage (Jul,2003), pp 9-19.

[3]. S. Susheela and S. Renee (1996), Early marriage among women in Developing countries, International Family Planning Perspective; 22:148-157&175.

[4]. Ủy ban nhân dân huyện Sốp Cộp (2016), Báo cáo số 168/BC-UBND ngày 25/3/2016 về kết quả khảo sát tỉ lệ tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống.

[5]. Ủy ban nhân dân huyện Sốp Cộp (2016), Báo cáo số 172/BC-UBND ngày 25/3/2016 về kết quả rà soát, số liệu thành phần dân tộc và tỷ lệ hộ nghèo của từng dân tộc trên địa bàn huyện.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.
Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Việc tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong giảng dạy chương trình Trung cấp lý luận chính trị là yêu cầu tất yếu, góp phần trực tiếp vào việc xây dựng bản lĩnh chính trị, củng cố niềm tin và năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ đương chức và dự nguồn cấp cơ sở. Trên cơ sở thực tiễn công tác giảng dạy và yêu cầu đổi mới giáo dục lý luận chính trị, cần đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị (Học phần) tại Trường Chính trị tỉnh Phú Thọ.

Theo dõi chúng tôi trên: