Chủ nhật 25/10/2026 04:56
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thực trạng và giải pháp giảm thiểu tảo hôn trên địa bàn huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La

Sốp Cộp là huyện miền núi biên giới và là một trong 62 huyện nghèo của cả nước. Huyện có 08 xã, đều là các xã đặc biệt khó khăn, trong đó có 04 xã biên giới giáp nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào.

Tại đây, vấn đề tảo hôn vẫn còn tồn tại khá phổ biến và chưa nhận được sự quan tâm nhiều từ phía cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể cũng như cộng đồng dân cư. Các văn bản chỉ đạo từ phía chính quyền chủ yếu là công văn yêu cầu báo cáo số liệu tảo hôn. Riêng Hội đồng Phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật huyện thì đã có những kế hoạch tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về hôn nhân và gia đình (do phòng Tư pháp là cơ quan thường trực). Qua các số liệu báo cáo cho thấy, số lượng tảo hôn có xu hướng giảm dần từ năm 2013 đến năm 2015. Các xã có số lượng tảo hôn cao thường là các xã vùng sâu, vùng xa, điều kiện kinh tế kém phát triển, các xã biên giới, các xã có số lượng người dân tộc Mông sinh sống đông… Xã có số lượng tảo hôn ít nhất là xã Sốp Cộp, nơi có trung tâm hành chính huyện và là nơi hội tụ, giao lưu văn hóa, kinh tế, chính trị của huyện. Tỉ lệ tảo hôn ở nữ giới cao hơn gấp 3 lần so với nam giới. Các cặp tảo hôn thường là người dân tộc Mông.

1. Các yếu tố ảnh hưởng đến tảo hôn

Thứ nhất, về sự phát triển kinh tế - xã hội và đô thị hóa

Có thể thấy, sự phát triển kinh tế - xã hội kéo theo những thay đổi quan trọng trong đời sống xã hội, từ công nghiệp hóa, đô thị hóa, đến phát triển kinh tế, thậm chí đến cả cấu trúc về lực lượng lao động trong xã hội. Sự phát triển kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến nam và nữ trong mong muốn và khả năng tiến tới hôn nhân. Công nghiệp hóa, đô thị hóa và sự phát triển kinh tế - xã hội đòi hỏi con người phải có thêm nhiều sáng kiến để đáp ứng cuộc sống. Đồng thời, con người cần có thêm những kỹ năng và kinh nghiệm tích lũy để tìm việc và có việc làm phù hợp với nhu cầu và môi trường sống. Do đó, ở những nơi có điều kiện kinh tế - xã hội phát triển, thanh niên cần phải có nhiều kỹ năng và kinh nghiệm sống hơn, điều đó thúc đẩy bản thân họ phải trì hoãn lại việc tiến tới hôn nhân, để có thể có nhiều thời gian hơn tích lũy kinh nghiệm và kỹ năng, ngay kể cả bố, mẹ của họ cũng nhận thức được điều đó. Kỹ năng và kinh nghiệm tốt sẽ giúp thanh niên có việc làm tốt, thu nhập ổn định, bảo đảm cuộc sống. Ngược lại, ở những vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn, người dân chủ yếu sống dựa vào nông, lâm nghiệp, tự cung tự cấp. Bên cạnh đó, khả năng tiếp cận những thông tin khoa học, kỹ thuật tiên tiến còn hạn chế. Do đó, cơ hội việc làm ít hơn và đòi hỏi của kỹ năng công việc cũng như kinh nghiệm sống ít hơn. Họ tiếp thu những kinh nghiệm, kỹ năng đơn giản được truyền từ bố, mẹ. Yêu cầu kỹ năng và kinh nghiệm cuộc sống không cao là yếu tố đưa họ đến việc kết hôn sớm hơn.

Nhiều nhà nghiên cứu khoa học cho rằng, ở các nước đang phát triển, giữa thành thị và nông thôn có sự khác biệt rất lớn về hôn nhân. Phụ nữ ở khu vực đô thị có nhiều cơ hội tiếp thu những giá trị hiện đại, như: Phụ nữ cũng phải được hưởng thụ, phụ nữ kết hôn sớm là mất tuổi thanh xuân, những chuẩn mực trong xã hội... Mặt khác, những phụ nữ này nhận thức được rằng có một khoảng cách rất lớn giữa cộng đồng và quan hệ họ hàng, do đó, họ hàng thân thích không thể là yếu tố ảnh hưởng đến hôn nhân của họ. Hơn nữa, các chuẩn mực xã hội, hành vi tình dục, cơ hội lớn trong việc chọn bạn đời đã là những yếu tố khiến phụ nữ sinh sống nơi đô thị chống lại việc kết hôn sớm.

Thứ hai, về giáo dục

Giáo dục là một yếu tố quan trọng nhất, phổ biến nhất làm ảnh hưởng tới tảo hôn. Ở các nước đang phát triển trên thế giới, số trẻ đi học ngày càng tăng trong suốt những năm qua. Giáo dục có liên quan mật thiết với tảo hôn, liên quan đến cơ hội cho các thanh, thiếu niên học tiếp ở bậc trung học cơ sở hay trung học phổ thông hoặc bậc cao hơn nữa. Tại các nước đang phát triển, nhiều trẻ em không đến trường, kể cả bậc tiểu học, là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng tảo hôn với tỉ lệ cao. Hơn nữa, giáo dục làm hẹp phạm vi kết hôn của phụ nữ, bởi lẽ nhìn chung, phụ nữ mong muốn kết hôn được với người đàn ông ít nhất là có sự giáo dục tương đương với họ. Mặt khác, phụ nữ (hoặc đàn ông) có nền giáo dục tốt hơn sẽ nhận thức tốt hơn về vấn đề kết hôn, về luật pháp, về khả năng sinh sản và sức khỏe. Điều này làm ảnh hưởng lớn tới quyết định kết hôn của họ, khuyến khích họ trì hoãn kết hôn và mang thai. Bên cạnh đó, kết quả của giáo dục có liên quan đến lực lượng lao động. Bằng giáo dục, phụ nữ (hay đàn ông) đều muốn kiếm được lương cao hơn bằng cách chọn nghề tốt hơn, phát triển kinh tế, ổn định cuộc sống. Do đó, những người có nền tảng giáo dục tốt hơn luôn trì hoãn sự kết hôn quá sớm của mình và ngược lại.

Thứ ba, về dân số

Dân số cũng là một trong những yếu tố quyết định đến thời điểm kết hôn. Các nhà khoa học đã chỉ ra rằng, yếu tố chọn bạn đời trong hôn nhân là một vấn đề quan trọng ảnh hưởng đến thời điểm kết hôn. Giới tính này có quan hệ mật thiết với giới tính kia. Khi mà giới tính này có quá đông về số lượng, giới tính kia có quá ít về số lượng, thì giới tính có số đông có xu hướng kết hôn sớm để tăng cơ hội có bạn đời, những người còn lại cùng giới tính với họ ít có cơ hội kết hôn hơn. Đồng thời, giới tính có số lượng ít hơn sẽ có xu hướng kết hôn ở độ tuổi muộn hơn, vì họ có nhiều cơ hội lựa chọn bạn đời và họ sẽ cố để lựa chọn cho mình một người bạn đời ưng ý nhất.

Thứ tư, về văn hóa

Với 08 dân tộc cùng sinh sống trên địa bàn huyện Sốp Cộp, mỗi dân tộc có bản sắc văn hóa truyền thống riêng biệt về phong tục, tập quán, lễ hội, trang phục và thuộc các nhóm ngôn ngữ khác nhau… Do các dân tộc sống xen kẽ đã tạo ra sự giao thoa ảnh hưởng lẫn nhau cả về văn hóa và ngôn ngữ, từ đó tạo nên sự đa dạng về văn hóa vùng. Bên cạnh những bản sắc văn hóa truyền thống tốt đẹp của từng dân tộc, từng cộng đồng, cũng tồn tại một số phong tục tập quán còn mang tính lạc hậu, trong đó có những tập quán về hôn nhân có ảnh hưởng, tác động không nhỏ đến tình trạng tảo hôn trong đồng bào dân tộc thiểu số

Phong tục tập quán lạc hậu cũng là một trong những yếu tố còn tồn tại thực tế trên địa bàn huyện Sốp Cộp, nhất là đối với vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới và cộng đồng người Mông. Hủ tục có thể kể đến như: Cướp vợ, hứa hôn, cưỡng ép hôn nhân mang tính chất gả bán, tục “nối dây”, tâm lý sớm có con đàn cháu đống, có người nối dõi, kết hôn sớm để gia đình có thêm người làm… là những thực trạng cần phải khắc phục, ảnh hưởng đến tảo hôn. Kết hôn sớm làm mất đi cơ hội về học tập, việc làm tốt, cơ hội cải thiện đời sống và chăm sóc sức khỏe của người trẻ tuổi, bà mẹ, trẻ em, đặc biệt là ảnh hưởng tới tỉ lệ tử vong, tỉ lệ suy dinh dưỡng, thấp còi của trẻ em, dẫn tới ảnh hưởng đến thế hệ tương lai.

Ở một số địa phương, cộng đồng người dân vẫn kết hôn theo độ tuổi trong tập quán dẫn tới tình trạng tảo hôn vẫn còn tồn tại trong cộng đồng này. Thực tế cho thấy, mặc dù đã được tuyên truyền pháp luật về hôn nhân và gia đình, bà con hiểu được những quy định của pháp luật về độ tuổi kết hôn, song do phong tục tập quán lạc hậu đã đi vào cuộc sống của người dân từ rất lâu đời, các gia đình “dựng vợ, gả chồng” cho con của họ từ rất sớm nên tình trạng tảo hôn vẫn diễn ra. Vì chưa đủ tuổi theo luật định, nên việc đăng ký kết hôn không được thực hiện tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhưng hai bên gia đình vẫn tổ chức đám cưới theo phong tục; họ hàng hai bên, cộng đồng dân cư của cả bản vẫn mặc nhiên công nhận đó là một cặp vợ chồng.

2. Một số hậu quả của tảo hôn

Một là, ảnh hưởng đến sức khỏe bà mẹ và trẻ sơ sinh

Tảo hôn dẫn đến hậu quả mang thai sớm và sinh đẻ trong lứa tuổi chưa thành niên, khi cơ thể người mẹ chưa phát triển hoàn thiện. Mặt khác, do vẫn còn quá trẻ, nên thiếu hiểu biết, thiếu kinh nghiệm và chưa sẵn sàng tâm lý để mang thai đã ảnh hưởng đến sức khỏe bà mẹ, ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của thai nhi và trẻ sơ sinh. Đây là nguyên nhân làm gia tăng tỉ lệ trẻ em suy dinh dưỡng, thấp còi và tỉ lệ tử vong của trẻ em dưới 01 tuổi và dưới 05 tuổi, đồng thời cũng làm tăng tỉ lệ tử vong của bà mẹ liên quan đến thai sản. Theo thống kê, tỉ lệ tử vong của bà mẹ liên quan đến thai sản của huyện Sốp Cộp cao gấp 05 lần so với mức bình quân cả nước.

Hai là, ảnh hưởng đến chất lượng dân số, suy giảm giống nòi và chất lượng nguồn nhân lực

Tảo hôn để lại những hậu quả khó lường cho thế hệ tương lai. Tảo hôn cản trở sự phát triển của kinh tế - xã hội, sự tiến bộ xã hội và sự phát triển bền vững của vùng dân tộc thiểu số. Bên cạnh đó, thế hệ nối tiếp theo của các cặp tảo hôn được sinh ra chậm phát triển, suy dinh dưỡng, dị tật hoặc mắc các bệnh khác cao hơn so với những trẻ em được sinh ra từ các cặp bố mẹ khác.

Ba là, rơi vào vòng luẩn quẩn giữa đói nghèo - thất học - tảo hôn

Đói nghèo - thất học - tảo hôn là một vòng luẩn quẩn, là một chuỗi các mắt xích khép kín, khó có lối thoát. Thực tế cho thấy, nơi nào có tỷ lệ đói nghèo cao thì tỉ lệ tảo hôn cũng cao. Như chúng ta đã nghiên cứu, phát triển kinh tế - xã hội và giáo dục là những nguyên nhân dẫn đến tình trạng tảo hôn. Tuy nhiên, ở góc nhìn này, chúng ta thấy trình độ phát triển kinh tế và giáo dục còn là hậu quả của tảo hôn, làm suy giảm chất lượng cuộc sống.

Tảo hôn còn là rào cản để huyện Sốp Cộp nói riêng, Việt Nam nói chung thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia như: Giảm tình trạng đói nghèo, phổ cập tiểu học, tăng cường bình đẳng nam nữ, giảm tử vong trẻ em, cải thiện sức khoẻ bà mẹ, trẻ em và đấu tranh chống các bệnh dịch.

3. Một số kiến nghị, giải pháp

3.1. Kiến nghị đối với các cơ quan, đoàn thể

- Đối với cấp ủy Đảng: Cần ra nghị quyết chuyên đề về giảm thiểu tảo hôn. Các cấp chính quyền trên cơ sở nghị quyết chuyên đề của cấp ủy Đảng cụ thể hóa thành các chương trình hành động, kế hoạch tổ chức thực hiện. Sự góp mặt của các cấp ủy Đảng, chính quyền là nhân tố quyết định cho công tác giảm thiểu tình trạng tảo hôn trên địa bàn huyện Sốp Cộp.

- Đối với Ủy ban nhân dân các cấp: Ủy ban nhân dân các cấp cần cụ thể hóa nghị quyết của cấp ủy Đảng về giảm thiểu tình trạng tảo hôn. Có kế hoạch triển khai cụ thể trong công tác giảm thiểu tảo hôn, từ công tác tuyên tuyền, phổ biến giáo dục pháp luật, đến công tác xử lý vi phạm. Các kế hoạch triển khai thực hiện cần rõ người, rõ việc, rõ thời gian và rõ chỉ tiêu cần thực hiện. Xử lý hành chính đối với người vi phạm pháp luật về tảo hôn là một trong những biện pháp nhằm góp phần bảo đảm hiệu quả điều chỉnh của pháp luật về điều kiện độ tuổi kết hôn. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, xử lý hành chính đối với tảo hôn còn chưa triệt để dẫn đến hệ quả tất yếu là tình trạng vi phạm pháp luật gia tăng gây ảnh hưởng đến hiệu quả điều chỉnh của pháp luật về điều kiện về độ tuổi kết hôn. Vì thế, Ủy ban nhân dân các xã cần phải có các biện pháp khắc phục những bất cập trong việc xử lý hành chính đối với hành vi vi phạm pháp luật về độ tuổi kết hôn.

- Đối với các cơ quan tố tụng: Hiện nay, xử lý hình sự đối với các hành vi vi phạm pháp luật về độ tuổi kết hôn nói riêng, về hôn nhân và gia đình nói chung còn nhiều bất cập. Vì vậy, chế tài hình sự trở thành một thứ công cụ pháp lý bị lãng quên. Do đó, tình trạng vi phạm pháp luật về độ tuổi kết hôn vẫn còn xảy ra nhiều. Các cơ quan tiến hành tố tụng trên địa bàn cần phải có những nghiên cứu, rà soát, đánh giá và đề xuất hoàn thiện quy định của Bộ luật Hình sự phần các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình theo hướng thực tế hơn. Mặt khác, các cơ quan tố tụng trên địa bàn huyện cần phải coi chế tài hình sự là một công cụ pháp lý quan trọng trong việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của người kết hôn, lợi ích của gia đình và xã hội. Đây cũng là một nội dung quan trọng không thể tách rời cơ chế thực thi pháp luật về quyền con người nói chung và quyền tự do kết hôn nói riêng.

- Đối với công an: Công tác kiểm tra nhân khẩu, hộ khẩu đóng vai trò quan trọng trong kiểm tra, theo dõi những trường hợp tảo hôn. Các trường hợp tảo hôn không có đủ các hồ sơ, giấy tờ để người vợ chuyển khẩu, nhập khẩu sang bên nhà chồng, bởi ít nhất họ cũng thiếu giấy chứng nhận kết hôn. Trên thực tế, hầu hết lực lượng công an các xã trên địa bàn huyện Sốp Cộp đã không xem xét hồ sơ, giấy tờ hợp lệ nhưng vẫn chuyển khẩu, nhập khẩu theo nguyện vọng của công dân mà không cần giấy tờ cần xuất trình và giấy tờ cần nộp. Chính điều đó đã tạo cơ sở cho tảo hôn được tiến hành thuận lợi hơn. Vì vậy, lực lượng công an cần chấn chỉnh, tăng cường kiểm tra nhân khẩu, hộ khẩu, thực hiện chuyển khẩu, nhập khẩu theo đúng quy định của pháp luật. Theo đó, các trường hợp tảo hôn sẽ không thể có hộ khẩu, thậm chí là tạm trú, tạm vắng. Hệ quả là, địa phương nơi họ sinh sống sẽ không cho họ chuyển khẩu, địa phương nơi họ sẽ sinh sống không cho họ tạm trú và tạm vắng nên yêu cầu họ quay về nơi ở cũ. Để thực hiện được tốt công tác kiểm tra nhân khẩu, hộ khẩu thì cần phải có sự phối hợp chặt chẽ của các địa phương với nhau, kịp thời phát hiện tình trạng tảo hôn và yêu cầu các trường hợp đó thực hiện đúng quy định của pháp luật về điều kiện độ tuổi kết hôn.

- Đối với Mặt trận và các đoàn thể: Mặt trận và các đoàn thể (nhất là Đoàn Thanh niên, Hội Liên hiệp phụ nữ) cần phối hợp chặt chẽ với cấp ủy Đảng, chính quyền và cộng đồng bản trong giảm thiểu tình trạng tảo hôn là rất quan trọng, tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục nhân dân tuân theo các quy định của pháp luật, nhất là Luật Hôn nhân và gia đình. Sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị sẽ làm thay đổi dần nhận thức, tư duy của người dân về các hủ tục lạc hậu, trong đó có tảo hôn, để người dân có ý thức chấp hành pháp luật một cách tốt hơn.

3.2. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật, nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật về hôn nhân và gia đình của đồng bào các dân tộc thiểu số đang sinh sống trên địa bàn huyện Sốp Cộp

- Tăng cường tuyên truyền, phổ biến, cung cấp thông tin, kiến thức pháp luật về hôn nhân và gia đình trong trường học: Đưa nội dung giáo dục giới tính; các quy định pháp luật về hôn nhân và gia đình (như điều kiện về độ tuổi kết hôn, những điều cấm trong hôn nhân…); về tác hại, hậu quả của tảo hôn vào trong chương trình giáo dục ở trường phổ thông trung học và phổ thông dân tộc nội trú. Tăng cường công tác hướng nghiệp, hoạt động ngoại khóa, sinh hoạt đoàn, đội, câu lạc bộ, tổ, nhóm… trong trường học để tuyên truyền, cung cấp thông tin, nâng cao nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật về hôn nhân và gia đình đối với học sinh.

- Triển khai các hoạt động phù hợp với các yếu tố về văn hóa, giới tính, lứa tuổi và dân tộc để tuyên truyền, phổ biến, nâng cao nhận thức, vận động xóa bỏ những hủ tục lạc hậu và phòng chống tảo hôn: Tuyên truyền, vận động trực tiếp, trực diện thông qua các điểm truyền thông; qua các hoạt động tư vấn, trợ giúp pháp lý miễn phí tại cộng đồng và lưu động tại các bản. Về thực hiện nhiệm vụ này, phòng tư pháp huyện, công chức tư pháp các xã và 8/8 câu lạc bộ pháp lý của 08 xã trên địa bàn huyện cần tập trung huy động nguồn lực, vật lực để thực hiện tốt công tác tuyên truyền, vận động và trợ giúp pháp lý. Lồng ghép các hoạt động tuyên truyền, vận động với các hoạt động văn hóa, lễ hội tại cộng đồng, các cuộc họp, hội nghị, sinh hoạt của chính quyền, đoàn thể, các câu lạc bộ, các tổ, nhóm. Phát huy vai trò của người uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số; nêu gương người tốt, việc tốt trong việc thực hiện Luật Hôn nhân và gia đình và công tác dân số, kế hoạch hóa gia đình; tuyên truyền, vận động xóa bỏ những hủ tục lạc hậu tồn tại ở một số dân tộc thiểu số trong hôn nhân.

- Nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động: Xây dựng và nâng cao năng lực cán bộ truyền thông trên cơ sở là những công chức tư pháp xã, cán bộ, đảng viên là người dân tộc và đội ngũ cộng tác viên dân số bản. Khảo sát, đánh giá, lựa chọn địa bàn, dân tộc và cam kết của địa phương để xây dựng và triển khai thực hiện dự án truyền thông, mô hình can thiệp đối với dân tộc Mông (là dân tộc có tỉ lệ tảo hôn cao nhất huyện).

3.3. Tăng cường lãnh đạo, quản lý và nâng cao trách nhiệm của chính quyền, các tổ chức đoàn thể trong thực hiện các quy định của pháp luật về hôn nhân

- Đưa mục tiêu, nhiệm vụ về hôn nhân và gia đình, về phòng, chống tảo hôn vào nghị quyết của các cấp ủy Đảng, chương trình, kế hoạch hoạt động của chính quyền và các đoàn thể địa phương hàng năm.

- Triển khai các hoạt động can thiệp phù hợp: Tư vấn, hỗ trợ pháp lý, khám sức khỏe tiền hôn nhân.

- Xây dựng, đưa các quy định của pháp luật về tuổi kết hôn, đăng ký kết hôn, cam kết không tảo hôn, thực hiện đăng ký kết hôn, đăng ký khai sinh theo đúng quy định và bảo đảm thực hiện các nội dung chăm sóc sức khỏe sinh sản, sức khỏe bà mẹ, trẻ em… vào hương ước, quy ước bản, tiêu chuẩn gia đình văn hóa, bản văn hóa.

- Phối hợp chặt chẽ và tăng cường các hoạt động giao lưu giữa các địa phương lân cận trong việc ngăn chặn và phòng, chống vấn nạn tảo hôn.

- Tăng cường kiểm tra, kịp thời phát hiện, ngăn ngừa và xử lý nghiêm minh các trường hợp vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình.

3.4. Đầu tư cơ sở hạ tầng, từng bước cải thiện và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào trên địa bàn huyện

- Tiếp tục thực hiện các cơ chế, chính sách, chương trình, dự án hiện hành, đặc biệt là Chương trình 30a (theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo), Chương trình xây dựng nông thôn mới để đầu tư vào cơ sở hạ tầng, xóa đói giảm nghèo.

- Xây dựng và nâng cấp các tuyến đường từ trung tâm huyện tới các xã, bảo đảm đi được bốn mùa. Tiếp tục mở các tuyến đường tới các bản, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, kết hợp với chương trình xây dựng đường bê tông trong Chương trình xây dựng nông thôn mới cho các bản, với phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”.

- Xây dựng, nâng cấp một số trường học trên địa bàn, xóa các lớp học tranh tre lứa lá.

3.5. Huy động trẻ em đến lớp, thực hiện tốt công tác hướng nghiệp, dạy nghề

- Huy động trẻ em đến lớp, bảo đảm 100% trẻ em được phổ cập tiểu học và phổ cập trung học cơ sở.

- Đưa các nội dung hướng nghiệp dạy nghề vào nội dung giảng dạy cho học sinh, đặc biệt hướng tới các nghề mà địa bàn huyện đang còn thiếu như sửa chữa xe máy, xây dựng.

- Huy động tối đa các nguồn lực: Nguồn lực từ ngân sách nhà nước, nguồn xã hội hóa và các nguồn tài trợ khác, tạo sự đồng thuận trong xã hội cùng chung tay góp phần giảm thiểu tỉ lệ tảo hôn trên địa bàn. Hiện nay, nguồn kinh phí ngân sách nhà nước cấp cho Hội đồng Phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật huyện và công chức tư pháp xã là quá ít để phục vụ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật nói chung và pháp luật về hôn nhân và gia đình nói riêng.

ThS. Nguyễn Đình Toàn

Phòng Tư pháp huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La

Tài liệu tham khảo:

[1]. Bacchi, Carol (2009), Analysing policy: What’s the problem represented to be?, London: Sage.

[2]. J. Robert and T Rebecca (2003), Early female marriage in the developing world, Gender and Development, Vol.11, No.2, Marriage (Jul,2003), pp 9-19.

[3]. S. Susheela and S. Renee (1996), Early marriage among women in Developing countries, International Family Planning Perspective; 22:148-157&175.

[4]. Ủy ban nhân dân huyện Sốp Cộp (2016), Báo cáo số 168/BC-UBND ngày 25/3/2016 về kết quả khảo sát tỉ lệ tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống.

[5]. Ủy ban nhân dân huyện Sốp Cộp (2016), Báo cáo số 172/BC-UBND ngày 25/3/2016 về kết quả rà soát, số liệu thành phần dân tộc và tỷ lệ hộ nghèo của từng dân tộc trên địa bàn huyện.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: