Thứ hai 25/05/2026 16:06
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước

Sau 06 năm thực hiện Luật Trợ giúp pháp lý, trong tổ chức và hoạt động của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước (sau đây gọi tắt là Trung tâm) đã đạt được những kết quả sau:

1. Thực trạng tổ chức và hoạt động của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước

1.1. Các kết quả đạt được

Thứ nhất, thể chế pháp lý điều chỉnh tổ chức, hoạt động của Trung tâm tương đối đầy đủ, toàn diện, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, khả thi, phù hợp với điều kiện giai đoạn đầu thực hiện Luật Trợ giúp pháp lý. Mô hình tổ chức và hoạt động của Trung tâm đã được hướng dẫn cụ thể tại các Nghị định, Quyết định, và Thông tư, ngoài ra còn được định hình rõ nét trong Chiến lược phát triển trợ giúp pháp lý Việt Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 (kèm theo Quyết định số 678/QĐ-TTg ngày 10/5/2010 của Thủ tướng Chính phủ). Uỷ ban nhân dân các tỉnh đã ban hành Quyết định phê duyệt Đề án quy hoạch mạng lưới Trung tâm và Chi nhánh; đổi tên, quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Trung tâm; thành lập các phòng chuyên môn, nghiệp vụ; thành lập các Chi nhánh; xếp hạng đơn vị sự nghiệp đối với Trung tâm. Một số tỉnh đã phê duyệt phương án tự chủ trong quản lý bộ máy, biên chế và kinh phí bảo đảm cho hoạt động của Trung tâm (Lào Cai); hoặc ban hành kế hoạch công tác trợ giúp pháp lý hàng năm để huy động các nguồn lực, giao trách nhiệm cho các cấp, các ngành trong triển khai thực hiện (Nghệ An); hoặc bổ sung thêm nhiệm vụ cho Trung tâm trong thực hiện trợ giúp pháp lý cho một số đối tượng đặc thù như trẻ em, người lao động trong các doanh nghiệp (TP. Hồ Chí Minh, Bình Dương); thậm chí thí điểm sẽ thực hiện việc cung cấp dịch vụ pháp lý cho một số doanh nghiệp và đối tượng khác từ năm 2014 trở đi (Nghệ An); hoặc tham gia tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, cùng lãnh đạo ủy ban nhân dân tỉnh (Kiên Giang). Giám đốc Sở Tư pháp một số tỉnh đã ban hành theo thẩm quyền hoặc phân cấp để Giám đốc Trung tâm ban hành quy chế làm việc; quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các phòng chuyên môn, các Chi nhánh thuộc Trung tâm cũng như các quy chế nghiệp vụ, quy chế chi tiêu nội bộ của Trung tâm.

Thứ hai, tổ chức bộ máy của Trung tâm được củng cố, kiện toàn đáp ứng yêu cầu những năm đầu thực hiện Luật Trợ giúp pháp lý. Đến nay, 100% Trung tâm đã đổi tên, khắc con dấu mới và hoạt động theo Luật Trợ giúp pháp lý; có quy chế tổ chức và hoạt động riêng. Bộ máy lãnh đạo được kiện toàn với Giám đốc và Phó Giám đốc. Các phòng chuyên môn và chi nhánh được thành lập, bảo đảm chuyên môn hóa, tách hoạt động quản lý hành chính với hoạt động nghiệp vụ trợ giúp pháp lý, hướng mạnh hoạt động trợ giúp pháp lý về cơ sở với 120 phòng chuyên môn; 161 Chi nhánh được thành lập(1). Trung bình mỗi Trung tâm có từ 15 - 20 biên chế (80% - 90% có trình độ cử nhân Luật). Một số Trung tâm có trên 30 biên chế (Lào Cai, Cần Thơ, Quảng Nam, Hà Nội). Đội ngũ người thực hiện trợ giúp pháp lý tăng về số lượng, có đủ năng lực chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụ trợ giúp pháp lý. Cả nước đã có 304 trợ giúp viên; 8.535 cộng tác viên (cấp tỉnh: 2.713 người; cấp huyện: 3.043 người và cấp xã 3.319 người), trong đó luật sư: 1.045 người; tư vấn viên pháp luật: 150 người. Công tác bồi dưỡng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trợ giúp pháp lý đã được coi trọng với trên 1.000 đợt tập huấn được tổ chức cho trên 91.000 lượt người tham dự. Chất lượng nguồn nhân lực trợ giúp pháp lý tại cơ sở được nâng lên đáng kể, về cơ bản đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, nhất là tham gia tố tụng để đại diện, bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người được trợ giúp pháp lý.

Thứ ba, các hoạt động nghiệp vụ trợ giúp pháp lý được triển khai khá bài bản, theo chương trình, kế hoạch đã được ủy ban nhân dân tỉnh hoặc Sở Tư pháp phê duyệt. Công tác tiếp dân, tiếp nhận, thụ lý và thực hiện trợ giúp pháp lý đã đi vào nề nếp. Việc phân công, kiểm tra, giám sát người thực hiện trợ giúp pháp lý được chú trọng hơn. Hồ sơ, sổ sách thụ lý vụ việc được lập, quản lý, khai thác, sử dụng và lưu trữ theo đúng quy định và hướng dẫn của Cục Trợ giúp pháp lý. Hoạt động tư vấn pháp luật, nhất là trợ giúp pháp lý lưu động được quan tâm. Hoạt động tham gia tố tụng, đại diện ngoài tố tụng ngày càng đi vào nề nếp, ổn định và bảo đảm chất lượng. Đến hết tháng 6/2011, cả nước đã thực hiện được gần 490.000 vụ việc cho 498.000 đối tượng. Trong đó có trên 464.000 vụ tư vấn pháp luật (chiếm 93,28%); gần 26.000 vụ việc tham gia tố tụng, trong đó có 20.399 vụ bào chữa, 5.366 vụ đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp (chiếm 5,18%); trên 380 vụ việc đại diện ngoài tố tụng (chiếm 0,08%); gần 1.700 vụ việc kiến nghị (chiếm 0,34%) và trên 5.600 vụ việc khác (chiếm 1,13%).

Thứ tư, công tác đánh giá và quản lý nhà nước về chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý được hầu hết các Trung tâm triển khai thực hiện nghiêm túc, nhờ vậy, chất lượng vụ việc được nâng lên; không để xảy ra những sai sót, vi phạm pháp luật để người được trợ giúp phải khiếu nại, tố cáo, phản ánh, kiến nghị hoặc yêu cầu bồi thường thiệt hại. Theo báo cáo của 59/63 Trung tâm, sau 04 năm triển khai thực hiện Bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý, các Trung tâm đã đánh giá 57.126 vụ việc/218.502 tổng số vụ việc đã hoàn thành (chiếm tỷ lệ 26,13%). Trong đó tự đánh giá: 45.948 vụ việc; Trung tâm đánh giá: 35.389 vụ việc; các tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý đánh giá: 885 vụ việc. Số vụ việc đạt chất lượng tốt chiếm từ 60-70%; số vụ việc đạt chất lượng từ 30-40% và không đạt chất lượng chiếm gần 1%.

Thứ năm, quan hệ giữa Trung tâm với các cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan thông tin, truyền thông, báo chí và chính quyền cơ sở và các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan trong quá trình thực hiện các hoạt động nghiệp vụ trợ giúp pháp lý ngày càng chặt chẽ, bài bản hơn và phát huy hiệu quả trên thực tế. Hội đồng phối hợp công tác trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng và Tổ giúp việc cho Hội đồng được thành lập (63/63 tỉnh, thành phố) và đi vào hoạt động thường xuyên. Đến nay, các Trung tâm đã phối hợp với cơ quan báo chí để thông tin, truyền thông về tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý cho nhân dân với 1.711 chuyên trang, chuyên mục và số lần phát sóng; đã phối hợp chặt chẽ với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, đặc biệt là chính quyền cơ sở khi triển khai các hoạt động nghiệp vụ trợ giúp pháp lý với trên 1.000 đợt trợ giúp pháp lý lưu động, sinh hoạt chuyên đề pháp luật và hướng dẫn sinh hoạt Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý.

Thứ sáu, kinh phí, cơ sở vật chất bảo đảm cho hoạt động của Trung tâm được quan tâm hơn. Ngân sách trung ương đã dành nguồn kinh phí nhất định cho các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Ngân sách địa phương bảo đảm tương đối đầy đủ kinh phí chi cho tổ chức bộ máy, cán bộ và một nguồn kinh phí nhất định cho hoạt động nghiệp vụ trợ giúp pháp lý. Theo báo cáo, tổng kinh phí cấp cho 63 Trung tâm trong 05 năm là 335.455.447.200 đồng (địa phương gần 200 tỷ đồng; Chương trình mục tiêu quốc gia gần 30 tỷ đồng; Quỹ Trợ giúp pháp lý Việt Nam gần 8 tỷ đồng; Dự án hỗ trợ hệ thống trợ giúp pháp lý ở Việt Nam gần 98 tỷ đồng). Một số Trung tâm, Chi nhánh đã có trụ sở riêng, thuận lợi cho tiếp người được trợ giúp pháp lý. Trang thiết bị, cơ sở vật chất của Trung tâm cũng được quan tâm hơn trước. Cả nước đã có 24/63 Trung tâm có trụ sở làm việc riêng, độc lập; 21 Trung tâm được trang bị xe ôtô để đi trợ giúp pháp lý lưu động và phục vụ các hoạt động trợ giúp pháp lý ở cơ sở.

1.2. Một số tồn tại, hạn chế

Tuy nhiên, trong tổ chức và hoạt động của Trung tâm vẫn còn một số tồn tại, hạn chế sau đây:

Một là, sau khi Luật Công chức, Luật Viên chức có hiệu lực pháp luật, thể chế pháp lý về tổ chức và hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập có sự điều chỉnh, trong khi đó thể chế pháp lý điều chỉnh về mô hình tổ chức và hoạt động của Trung tâm vẫn chưa được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp. Thực trạng này đã ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động của Trung tâm, nhất là chế độ, chính sách đãi ngộ đối với đội ngũ cán bộ, viên chức của Trung tâm chưa được điều chỉnh tương xứng với yêu cầu và trách nhiệm của công việc (không có chế độ phụ cấp công vụ; chưa có chế độ phụ cấp thâm niên theo nghề để trợ giúp viên gắn bó với công tác trợ giúp pháp lý; đội ngũ cán bộ, viên chức khác không được hưởng chế độ phụ cấp ưu đãi theo nghề…).

Hai là, việc củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy, cán bộ của Trung tâm vẫn chưa bảo đảm tiến độ đề ra. Việc quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng gắn với sử dụng đội ngũ lãnh đạo, quản lý còn lúng túng, bị động. Tình trạng Giám đốc Trung tâm do lãnh đạo Sở Tư pháp kiêm nhiệm vẫn còn (Yên Bái, Quảng Trị, Bến Tre, Sóc Trăng). Một số tỉnh chưa có Giám đốc (Hà Nội, Sơn La), chưa có Phó Giám đốc (12/63 tỉnh) hoặc Trưởng các phòng chuyên môn, Trưởng Chi nhánh; 05/63 tỉnh chưa triển khai thành lập các Chi nhánh (Thái Bình, Hà Nam) hoặc tuy có thành lập nhưng hoạt động không theo mô hình được quy định trong Luật Trợ giúp pháp lý. Một số địa phương, Trưởng Chi nhánh vẫn do lãnh đạo Trung tâm, Trưởng phòng chuyên môn hoặc Trưởng phòng Tư pháp kiêm nhiệm và chưa có trợ giúp viên làm việc thường xuyên tại các Chi nhánh (Hoà Bình, Điện Biên). Một số địa phương, số lượng trợ giúp viên biên chế rất thấp, từ 03 – 05 người (chiếm 30 – 40%)(2); có địa phương không có nguồn để bổ sung. Một số lãnh đạo Trung tâm nhận thức chưa đầy đủ về vị trí, vai trò và trách nhiệm của mình trước yêu cầu phát triển ngày càng nhanh chóng và phức tạp của công tác trợ giúp pháp lý, nên chưa thực sự thay đổi tư duy, nỗ lực tự hoàn thiện mình để nâng cao năng lực quản lý, chỉ đạo, điều hành đáp ứng yêu cầu phát triển của mạng lưới trợ giúp pháp lý tại địa phương.

Ba là, chất lượng nguồn nhân lực làm công tác trợ giúp pháp lý phát triển chưa tương xứng với yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, tìm kiếm nguồn lực cán bộ để bổ sung cho đội ngũ trợ giúp viên còn bị động, lúng túng, thiếu tính tổng thể. Đội ngũ trợ giúp viên phát triển chậm, thiếu ổn định, làm việc với tinh thần trách nhiệm chưa cao, thiếu kinh nghiệm tham gia tố tụng. Một số cộng tác viên giỏi phải kiêm nhiệm nhiều việc trong cơ quan, đơn vị, nên không có điều kiện tham gia thường xuyên. Chất lượng hoạt động của một số cộng tác viên chưa bảo đảm; thiếu cộng tác viên là luật sư; chưa thu hút được người có kiến thức, hiểu biết pháp luật tham gia trợ giúp pháp lý. Công tác bồi dưỡng nghiệp vụ thường xuyên cho đội ngũ người thực hiện trợ giúp pháp lý còn chưa được chú trọng đúng mức, nội dung thường tập trung vào cập nhật văn bản mới, thời lượng cho các kỹ năng thực hiện trợ giúp pháp lý cụ thể chưa nhiều.

Bốn là, vẫn còn một số Trung tâm triển khai hoạt động trợ giúp pháp lý theo phong trào, chất lượng chưa cao, thậm chí còn chạy theo số lượng mà chưa chú trọng đến chất lượng vụ việc. Chất lượng và hiệu quả của các đợt trợ giúp pháp lý lưu động, tổ chức và duy trì sinh hoạt Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý, sinh hoạt chuyên đề pháp luật, đặc biệt là công tác đánh giá chất lượng vụ việc và quản lý nhà nước về chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý vẫn là những vấn đề cần phải được lưu tâm trong những năm tới.

Năm là, kinh phí, cơ sở vật chất, trang thiết bị làm việc của Trung tâm và Chi nhánh ở một số tỉnh còn chưa được quan tâm đầu tư đúng mức, chưa tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ. Một số Trung tâm, Chi nhánh chưa có trụ sở làm việc riêng, chưa thuận lợi cho người dân tiếp cận, trang bị máy tính, phương tiện làm việc không đủ theo định mức tiêu chuẩn. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý về tổ chức và hoạt động của Trung tâm chưa được quan tâm đúng mức.

Những tồn tại, hạn chế nêu trên xuất phát từ những nguyên nhân sau đây:

Thứ nhất, Luật Trợ giúp pháp lý và các văn bản hướng dẫn được ban hành đã mang lại sự thay đổi nhanh chóng cho mô hình trợ giúp pháp lý so với thời điểm triển khai thực hiện Quyết định số 734/TTg. Trong khi đó nhận thức của cấp uỷ, chính quyền, địa phương chưa theo kịp với sự thay đổi của thể chế, chính sách. Năng lực lãnh đạo, chỉ đạo và tham mưu của một số lãnh đạo Sở Tư pháp và Trung tâm chưa theo kịp yêu cầu nhiệm vụ, nên trong triển khai còn lúng túng, bị động, thậm chí e dè, chờ đợi.

Thứ hai, để triển khai thực hiện Luật Trợ giúp pháp lý và các văn bản hướng dẫn thi hành, một khối lượng công việc rất lớn, đồ sộ được đặt ra, đòi hỏi phải tập trung cao độ nguồn lực, mới đáp ứng được yêu cầu, trong khi đó, nguồn nhân lực của Trung tâm rất hạn chế. Ngành Tư pháp lại được giao triển khai nhiều nhiệm vụ mới, trong điều kiện biên chế, tổ chức bộ máy không được quan tâm củng cố, kiện toàn cũng phần nào ảnh hưởng đến khả năng tham mưu, tổ chức thực hiện.

Ngoài ra, do bị ảnh hưởng bởi thói quen, nếp nghĩ cũ, nên một số tỉnh còn thụ động, chông chờ vào cấp trên, vào sự hỗ trợ, tài trợ của các dự án và các chương trình mục tiêu quốc gia. Các điều kiện bảo đảm cho việc triển khai thực hiện Luật Trợ giúp pháp lý và cho công tác trợ giúp pháp lý không tương xứng với mục tiêu và yêu cầu của nhiệm vụ.

2. Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Trung tâm

2.1. Nhận thức đầy đủ hơn về vị trí, vai trò của công tác trợ giúp pháp lý và yêu cầu đặt ra đối với Trung tâm trong điều kiện mới

Nhận diện đầy đủ hơn về vị trí, vai trò, trách nhiệm của Trung tâm hiện nay, nhất là trước yêu cầu của cải cách hành chính, cải cách tư pháp, phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế gắn với bảo đảm quyền con người, quyền công dân, để các Trung tâm và Chi nhánh thực sự trở thành lực lượng nòng cốt trong cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được trợ giúp pháp lý.

Nghiên cứu làm rõ mối quan hệ giữa Trung tâm với các tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý, với các cơ quan quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong quá trình thực hiện các hoạt động nghiệp vụ trợ giúp pháp lý. Tiếp tục nghiên cứu và nhận diện đầy đủ về xu thế phát triển của trợ giúp pháp lý trên thế giới, khả năng khuyến khích, huy động các nguồn lực xã hội tham gia trợ giúp pháp lý và khả năng bảo đảm của Nhà nước cho công tác trợ giúp pháp lý để xác định những vấn đề, những hoạt động trọng tâm cần triển khai thực hiện trong điều kiện nguồn nhân lực hạn chế.

2.2. Hoàn thiện thể chế, chính sách liên quan đến tổ chức và hoạt động của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước

Rà soát, sửa đổi, bổ sung Nghị định số 07/2007/NĐ-CP và một số văn bản liên quan đến tổ chức và hoạt động của Trung tâm cho phù hợp với Luật Viên chức và quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước về đơn vị sự nghiệp công lập không có thu. Định hình rõ mô hình tổ chức và hoạt động của Trung tâm gắn với xếp hạng đơn vị sự nghiệp công lập cho phù hợp với vị trí, vai trò, nhiệm vụ và quyền hạn của Trung tâm. Hoàn thiện thể chế để nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu Trung tâm, của người thực hiện trợ giúp pháp lý.

Hoàn thiện thể chế điều chỉnh tổ chức, hoạt động của Trung tâm như: Quy chế tổ chức và hoạt động; quy chế làm việc; quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các phòng chuyên môn và các chi nhánh; quyết định phân công giữa các lãnh đạo Trung tâm; các quy trình nghiệp vụ trợ giúp pháp lý (tiếp công dân; tiếp nhận, thụ lý và thực hiện vụ việc trợ giúp pháp lý; tiếp nhận và xử lý thông tin; giải quyết khiếu nại, tố cáo; phản ánh kiến nghị về việc thụ lý và thực hiện trợ giúp pháp lý; đánh giá chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý; trợ giúp pháp lý lưu động; sinh hoạt Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý; sinh hoạt chuyên đề pháp luật; cử trợ giúp viên, cộng tác viên trợ giúp pháp lý là luật sư tham gia tố tụng, đại diện ngoài tố tụng và thực hiện các hình thức khác; quản lý, sử dụng cộng tác viên trợ giúp pháp lý và thực hiện chế độ, thù lao cho người thực hiện trợ giúp pháp lý); quy chế chi tiêu nội bộ; quy chế quản lý và sử dụng công sản.

Hoàn thiện thể chế về kinh phí bảo đảm cho hoạt động của Trung tâm mà trọng tâm là sửa đổi, bổ sung Thông tư liên tịch số 81/2008/TTLT-BTP-BTC ngày 29/6/2008 để xác định rõ định mức kinh phí khoán hành chính, kinh phí chi cho các hoạt động chuyên môn nghiệp vụ trợ giúp pháp lý do ngân sách nhà nước cấp hàng năm cho Trung tâm. Tiếp tục nghiên cứu, đề xuất việc sửa đổi, bổ sung chính sách, chế độ đãi ngộ đối với người thực hiện trợ giúp pháp lý tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ và chế độ, chính sách đãi ngộ đối với cán bộ của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và các chức danh tư pháp khác (các chế độ phụ cấp thâm niên nghề, ưu đãi theo nghề, thu hút, vụ việc, trang phục đối với trợ giúp viên pháp lý; nâng mức thù lao phụ cấp vụ việc cho cộng tác viên; đổi mới công tác thi đua, khen thưởng để động viên khích lệ kịp thời…).

Nghiên cứu xây dựng vị trí việc làm đối với từng vị trí công tác, chức danh nghề nghiệp tại Trung tâm từ lãnh đạo Trung tâm đến lãnh đạo các phòng chuyên môn, Trưởng Chi nhánh đến trợ giúp viên và các cán bộ, viên chức, người lao động khác của Trung tâm. Tiếp tục nghiên cứu, làm rõ về điều kiện tham gia khoá bồi dưỡng nghiệp vụ cấp chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ trợ giúp pháp lý một cách linh hoạt, để bảo đảm có đủ nguồn lực bổ sung. Tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện cơ chế quản lý, sử dụng đội ngũ cộng tác viên tham gia hoạt động trợ giúp pháp lý để tận dụng và khai thác có hiệu quả nguồn lực tại chỗ.

Bổ sung quy định về đánh giá chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý và chất lượng, hiệu quả hoàn thành công việc được giao của các chức danh, vị trí công tác, đặc biệt là các trợ giúp viên cho tương xứng với chế độ, chính sách đãi ngộ. Xây dựng cơ chế kiểm tra, giám sát đối với đội ngũ người thực hiện trợ giúp pháp lý trong quá trình thực hiện các hoạt động nghiệp vụ, để không lợi dụng danh nghĩa, hoạt động trợ giúp pháp lý nhằm trục lợi hoặc thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm quy tắc nghề nghiệp. Nghiên cứu, xây dựng cơ chế kiểm tra, giám sát việc khai thác, sử dụng các nguồn lực đầu tư có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước cho hoạt động trợ giúp pháp lý tại các địa phương để bảo đảm sử dụng tiết kiệm, hiệu quả, không để sai sót, vi phạm làm ảnh hưởng đến uy tín của Trung tâm.

2.3. Tiếp tục củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy của Trung tâm bảo đảm đủ năng lực hoàn thành nhiệm vụ được giao

Kiện toàn đội ngũ lãnh đạo Trung tâm đủ về số lượng, bảo đảm về năng lực quản lý, điều hành, triển khai thực hiện các nhiệm vụ. Quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng gắn với sử dụng đội ngũ viên chức lãnh đạo để tạo nguồn ổn định, lâu dài cho Trung tâm, bảo đảm tính kế thừa, phát triển, không để hụt hẫng trong quá trình chuyển giao các thế hệ lãnh đạo của Trung tâm.

Kiện toàn các phòng chuyên môn của Trung tâm mà trọng tâm là các phòng trực tiếp cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí. Tách hoạt động nghiệp vụ trợ giúp pháp lý với hoạt động tổ chức hành chính phục vụ công tác nghiệp vụ và đánh giá chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý. Đảm bảo mỗi phòng chuyên môn đều có Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng và các trợ giúp viên chuyên sâu các lĩnh vực pháp luật; có đội ngũ viên chức giúp việc cho trợ giúp viên.

Củng cố, kiện toàn mạng lưới Chi nhánh của Trung tâm, chú trọng tại các địa bàn xa trung tâm, điều kiện giao thông khó khăn, để có đủ năng lực cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí trong phạm vi phân công. Chi nhánh gồm Trưởng Chi nhánh, trợ giúp viên chuyên sâu và các cộng tác viên theo các lĩnh vực pháp luật có khả năng thực hiện trợ giúp pháp lý ngay tại địa bàn. Có cơ chế hợp lý để bảo đảm điều kiện cần thiết cho Chi nhánh hoạt động; phân cấp mạnh cho Chi nhánh trong thực hiện các hoạt động nghiệp vụ trợ giúp pháp lý.

2.4. Xây dựng đội ngũ cán bộ, viên chức của Trung tâm đủ về số lượng, bảo đảm về chất lượng, không ngừng đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của Trung tâm

Xác định rõ vị trí công tác, số lượng chức danh cần có tại Trung tâm (cả lãnh đạo, quản lý và chuyên môn nghề nghiệp). Quy hoạch, tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng gắn với sử dụng có hiệu quả đội ngũ cán bộ, viên chức chuyên môn, nhất là đội ngũ trợ giúp viên. Có kế hoạch tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng nguồn bổ sung cho đội ngũ trợ giúp viên bảo đảm hoàn thành mục tiêu đề ra. Tiếp tục củng cố, nâng cao hiệu quả hoạt động của đội ngũ cộng tác viên trợ giúp pháp lý mà trọng tâm là khai thác và sử dụng có hiệu quả các cộng tác viên là luật sư, cán bộ, công chức làm việc tại các cơ quan tiến hành tố tụng.

Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ trợ giúp viên và các viên chức của Trung tâm theo hướng kết hợp giữa tự học, tự nghiên cứu hoàn thiện mình với đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn lại, trong đó đặc biệt chú trọng việc tự học tập nâng cao trình độ, cập nhật kiến thức mới và kỹ năng làm việc. Tiếp tục nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trợ giúp pháp lý, không chỉ về kiến thức pháp luật, chuyên môn, nghiệp vụ trợ giúp pháp lý mà còn gắn với đào tạo, bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước, tin học, ngoại ngữ, tiếng nói của đồng bào dân tộc thiểu số (tại vùng có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số); các kỹ năng mềm, nhất là kỹ năng làm việc với các đối tượng đặc thù. Xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trợ giúp pháp lý của địa phương hàng năm và dài hạn. Đổi mới nội dung, phương pháp đào tạo theo hướng tập trung vào hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn nghề nghiệp, kỹ năng trợ giúp pháp lý, kỹ năng làm việc với các đối tượng đặc thù và thực hiện trợ giúp pháp lý trên từng lĩnh vực.

2.5. Nâng cao hiệu quả hoạt động, tăng cường mối quan hệ phối hợp trong công tác trợ giúp pháp lý

Đổi mới cách thức tổ chức các đợt trợ giúp pháp lý lưu động, để thu hút sự tham gia đông đảo của người thực hiện trợ giúp pháp lý tại địa phương. Nâng cao hiệu quả hoạt động của Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý tại cơ sở, để kịp thời giải toả vướng mắc pháp luật của người được trợ giúp pháp lý ngay tại cộng đồng. Nâng cao chất lượng trợ giúp pháp lý trong tố tụng; chú trọng đúng mức công tác đánh giá và quản lý chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý.

Nâng cao hiệu quả hoạt động của các chuyên trang, chuyên mục trợ giúp pháp lý trên các cơ quan thông tin, truyền thông, báo chí. Tăng cường phối hợp trợ giúp pháp lý trong tố tụng, mà trọng tâm là hoạt động giới thiệu người được trợ giúp pháp lý đến với tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý và kiểm tra, giám sát việc thực hiện vụ việc trợ giúp pháp lý từ phía cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng công tác phối hợp giữa Trung tâm với các cấp uỷ, chính quyền, đoàn thể của địa phương trong triển khai các hoạt động nghiệp vụ trợ giúp pháp lý tại cơ sở.

2.6. Tăng cường công tác quản lý nhà nước kết hợp với kiểm tra, giám sát, phản biện xã hội đối với tổ chức và hoạt động của Trung tâm

Duy trì chế độ kiểm tra định kỳ và đột xuất về tổ chức và hoạt động của Trung tâm từ phía các cơ quan quản lý nhà nước, để bảo đảm đúng pháp luật, không để xảy ra sai sót. Kịp thời phát hiện, đấu tranh và xử lý đối với các hành vi vi phạm pháp luật về trợ giúp pháp lý. Làm tốt công tác khen thưởng, tôn vinh, nêu gương người tốt, việc tốt, điển hình hoặc có đóng góp tích cực cho trợ giúp pháp lý; phê phán, lên án với hành vi lệch lạc, lợi dụng trợ giúp pháp lý để trục lợi. Xây dựng cơ chế kiểm tra, giám sát, phản hồi kết quả giải quyết vụ việc đối với vụ việc phức tạp, kéo dài. Làm tốt công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo; xử lý phản ánh, kiến nghị của công dân liên quan đến tổ chức và hoạt động của Trung tâm. Quản lý chặt chẽ các nguồn lực đầu tư cho hoạt động của Trung tâm để bảo đảm sử dụng đúng định mức, tiêu chuẩn và có hiệu quả trong điều kiện các nguồn lực có hạn.

Tăng cường vai trò giám sát, phản biện của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, cũng như các cơ quan thông tin, báo chí đối với tổ chức và hoạt động của Trung tâm. Tăng cường hơn nữa công tác giám sát xã hội trong việc khai thác, quản lý và sử dụng các nguồn lực đầu tư cho công tác trợ giúp pháp lý, nhất là nguồn kinh phí hỗ trợ từ các dự án hợp tác quốc tế, các chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo hoặc các nguồn vốn có nguồn gốc từ sự đóng góp của nhân dân.

2.7. Bảo đảm các điều kiện về kinh phí, cơ sở vật chất, phương tiện làm việc cho Trung tâm và Chi nhánh

Cần có giải pháp bảo đảm đủ nguồn lực kinh phí chi cho các hoạt động nghiệp vụ trợ giúp pháp lý của Trung tâm và chi chế độ, chính sách đãi ngộ đối với đội ngũ người thực hiện trợ giúp pháp lý từ nguồn ngân sách địa phương, nhất là trong điều kiện các dự án hợp tác quốc tế về trợ giúp pháp lý kết thúc.

Đầu tư xây dựng trụ sở làm việc cho Trung tâm, Chi nhánh, bảo đảm khang trang, sạch đẹp, đủ về diện tích theo định mức, tiêu chuẩn, bảo đảm thuận tiện cho người được trợ giúp pháp lý tiếp cận. ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin trong tổ chức và hoạt động của Trung tâm. Có giải pháp để chia sẻ thông tin liên quan đến các hoạt động nghiệp vụ trợ giúp pháp lý giữa các tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý.

Làm tốt công tác khuyến khích, huy động các nguồn lực xã hội tham gia trợ giúp pháp lý, đặc biệt là sự hỗ trợ, tài trợ, đầu tư từ các tổ chức, các doanh nghiệp, các nhà hảo tâm trong và ngoài nước cho hoạt động trợ giúp pháp lý.

Tài liệu tham khảo:

(1). Đã có 42/63 Trung tâm có Trưởng phòng hoặc Phó Trưởng phòng; 53/63 Trung tâm đã bổ nhiệm Trưởng Chi nhánh, có 26/63 Trưởng Chi nhánh chuyên trách (chiếm 41,3%); 27/63 Trưởng Chi nhánh do lãnh đạo Phòng Tư pháp kiêm nhiệm (chiếm 42,8%).

(2). Bắc Kạn, Quảng Ninh, Thái Bình, Đà Nẵng, Quảng Trị, Phú Yên, Đắk Lắk, Tuyên Quang, Bạc Liêu, Yên Bái.

TS. Đỗ Xuân Lân

Cục Trợ giúp pháp lý, Bộ Tư pháp

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: