Thứ năm 15/01/2026 07:09
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước

Sau 06 năm thực hiện Luật Trợ giúp pháp lý, trong tổ chức và hoạt động của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước (sau đây gọi tắt là Trung tâm) đã đạt được những kết quả sau:

1. Thực trạng tổ chức và hoạt động của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước

1.1. Các kết quả đạt được

Thứ nhất, thể chế pháp lý điều chỉnh tổ chức, hoạt động của Trung tâm tương đối đầy đủ, toàn diện, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, khả thi, phù hợp với điều kiện giai đoạn đầu thực hiện Luật Trợ giúp pháp lý. Mô hình tổ chức và hoạt động của Trung tâm đã được hướng dẫn cụ thể tại các Nghị định, Quyết định, và Thông tư, ngoài ra còn được định hình rõ nét trong Chiến lược phát triển trợ giúp pháp lý Việt Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 (kèm theo Quyết định số 678/QĐ-TTg ngày 10/5/2010 của Thủ tướng Chính phủ). Uỷ ban nhân dân các tỉnh đã ban hành Quyết định phê duyệt Đề án quy hoạch mạng lưới Trung tâm và Chi nhánh; đổi tên, quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Trung tâm; thành lập các phòng chuyên môn, nghiệp vụ; thành lập các Chi nhánh; xếp hạng đơn vị sự nghiệp đối với Trung tâm. Một số tỉnh đã phê duyệt phương án tự chủ trong quản lý bộ máy, biên chế và kinh phí bảo đảm cho hoạt động của Trung tâm (Lào Cai); hoặc ban hành kế hoạch công tác trợ giúp pháp lý hàng năm để huy động các nguồn lực, giao trách nhiệm cho các cấp, các ngành trong triển khai thực hiện (Nghệ An); hoặc bổ sung thêm nhiệm vụ cho Trung tâm trong thực hiện trợ giúp pháp lý cho một số đối tượng đặc thù như trẻ em, người lao động trong các doanh nghiệp (TP. Hồ Chí Minh, Bình Dương); thậm chí thí điểm sẽ thực hiện việc cung cấp dịch vụ pháp lý cho một số doanh nghiệp và đối tượng khác từ năm 2014 trở đi (Nghệ An); hoặc tham gia tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, cùng lãnh đạo ủy ban nhân dân tỉnh (Kiên Giang). Giám đốc Sở Tư pháp một số tỉnh đã ban hành theo thẩm quyền hoặc phân cấp để Giám đốc Trung tâm ban hành quy chế làm việc; quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các phòng chuyên môn, các Chi nhánh thuộc Trung tâm cũng như các quy chế nghiệp vụ, quy chế chi tiêu nội bộ của Trung tâm.

Thứ hai, tổ chức bộ máy của Trung tâm được củng cố, kiện toàn đáp ứng yêu cầu những năm đầu thực hiện Luật Trợ giúp pháp lý. Đến nay, 100% Trung tâm đã đổi tên, khắc con dấu mới và hoạt động theo Luật Trợ giúp pháp lý; có quy chế tổ chức và hoạt động riêng. Bộ máy lãnh đạo được kiện toàn với Giám đốc và Phó Giám đốc. Các phòng chuyên môn và chi nhánh được thành lập, bảo đảm chuyên môn hóa, tách hoạt động quản lý hành chính với hoạt động nghiệp vụ trợ giúp pháp lý, hướng mạnh hoạt động trợ giúp pháp lý về cơ sở với 120 phòng chuyên môn; 161 Chi nhánh được thành lập(1). Trung bình mỗi Trung tâm có từ 15 - 20 biên chế (80% - 90% có trình độ cử nhân Luật). Một số Trung tâm có trên 30 biên chế (Lào Cai, Cần Thơ, Quảng Nam, Hà Nội). Đội ngũ người thực hiện trợ giúp pháp lý tăng về số lượng, có đủ năng lực chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụ trợ giúp pháp lý. Cả nước đã có 304 trợ giúp viên; 8.535 cộng tác viên (cấp tỉnh: 2.713 người; cấp huyện: 3.043 người và cấp xã 3.319 người), trong đó luật sư: 1.045 người; tư vấn viên pháp luật: 150 người. Công tác bồi dưỡng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trợ giúp pháp lý đã được coi trọng với trên 1.000 đợt tập huấn được tổ chức cho trên 91.000 lượt người tham dự. Chất lượng nguồn nhân lực trợ giúp pháp lý tại cơ sở được nâng lên đáng kể, về cơ bản đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, nhất là tham gia tố tụng để đại diện, bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người được trợ giúp pháp lý.

Thứ ba, các hoạt động nghiệp vụ trợ giúp pháp lý được triển khai khá bài bản, theo chương trình, kế hoạch đã được ủy ban nhân dân tỉnh hoặc Sở Tư pháp phê duyệt. Công tác tiếp dân, tiếp nhận, thụ lý và thực hiện trợ giúp pháp lý đã đi vào nề nếp. Việc phân công, kiểm tra, giám sát người thực hiện trợ giúp pháp lý được chú trọng hơn. Hồ sơ, sổ sách thụ lý vụ việc được lập, quản lý, khai thác, sử dụng và lưu trữ theo đúng quy định và hướng dẫn của Cục Trợ giúp pháp lý. Hoạt động tư vấn pháp luật, nhất là trợ giúp pháp lý lưu động được quan tâm. Hoạt động tham gia tố tụng, đại diện ngoài tố tụng ngày càng đi vào nề nếp, ổn định và bảo đảm chất lượng. Đến hết tháng 6/2011, cả nước đã thực hiện được gần 490.000 vụ việc cho 498.000 đối tượng. Trong đó có trên 464.000 vụ tư vấn pháp luật (chiếm 93,28%); gần 26.000 vụ việc tham gia tố tụng, trong đó có 20.399 vụ bào chữa, 5.366 vụ đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp (chiếm 5,18%); trên 380 vụ việc đại diện ngoài tố tụng (chiếm 0,08%); gần 1.700 vụ việc kiến nghị (chiếm 0,34%) và trên 5.600 vụ việc khác (chiếm 1,13%).

Thứ tư, công tác đánh giá và quản lý nhà nước về chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý được hầu hết các Trung tâm triển khai thực hiện nghiêm túc, nhờ vậy, chất lượng vụ việc được nâng lên; không để xảy ra những sai sót, vi phạm pháp luật để người được trợ giúp phải khiếu nại, tố cáo, phản ánh, kiến nghị hoặc yêu cầu bồi thường thiệt hại. Theo báo cáo của 59/63 Trung tâm, sau 04 năm triển khai thực hiện Bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý, các Trung tâm đã đánh giá 57.126 vụ việc/218.502 tổng số vụ việc đã hoàn thành (chiếm tỷ lệ 26,13%). Trong đó tự đánh giá: 45.948 vụ việc; Trung tâm đánh giá: 35.389 vụ việc; các tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý đánh giá: 885 vụ việc. Số vụ việc đạt chất lượng tốt chiếm từ 60-70%; số vụ việc đạt chất lượng từ 30-40% và không đạt chất lượng chiếm gần 1%.

Thứ năm, quan hệ giữa Trung tâm với các cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan thông tin, truyền thông, báo chí và chính quyền cơ sở và các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan trong quá trình thực hiện các hoạt động nghiệp vụ trợ giúp pháp lý ngày càng chặt chẽ, bài bản hơn và phát huy hiệu quả trên thực tế. Hội đồng phối hợp công tác trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng và Tổ giúp việc cho Hội đồng được thành lập (63/63 tỉnh, thành phố) và đi vào hoạt động thường xuyên. Đến nay, các Trung tâm đã phối hợp với cơ quan báo chí để thông tin, truyền thông về tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý cho nhân dân với 1.711 chuyên trang, chuyên mục và số lần phát sóng; đã phối hợp chặt chẽ với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, đặc biệt là chính quyền cơ sở khi triển khai các hoạt động nghiệp vụ trợ giúp pháp lý với trên 1.000 đợt trợ giúp pháp lý lưu động, sinh hoạt chuyên đề pháp luật và hướng dẫn sinh hoạt Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý.

Thứ sáu, kinh phí, cơ sở vật chất bảo đảm cho hoạt động của Trung tâm được quan tâm hơn. Ngân sách trung ương đã dành nguồn kinh phí nhất định cho các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Ngân sách địa phương bảo đảm tương đối đầy đủ kinh phí chi cho tổ chức bộ máy, cán bộ và một nguồn kinh phí nhất định cho hoạt động nghiệp vụ trợ giúp pháp lý. Theo báo cáo, tổng kinh phí cấp cho 63 Trung tâm trong 05 năm là 335.455.447.200 đồng (địa phương gần 200 tỷ đồng; Chương trình mục tiêu quốc gia gần 30 tỷ đồng; Quỹ Trợ giúp pháp lý Việt Nam gần 8 tỷ đồng; Dự án hỗ trợ hệ thống trợ giúp pháp lý ở Việt Nam gần 98 tỷ đồng). Một số Trung tâm, Chi nhánh đã có trụ sở riêng, thuận lợi cho tiếp người được trợ giúp pháp lý. Trang thiết bị, cơ sở vật chất của Trung tâm cũng được quan tâm hơn trước. Cả nước đã có 24/63 Trung tâm có trụ sở làm việc riêng, độc lập; 21 Trung tâm được trang bị xe ôtô để đi trợ giúp pháp lý lưu động và phục vụ các hoạt động trợ giúp pháp lý ở cơ sở.

1.2. Một số tồn tại, hạn chế

Tuy nhiên, trong tổ chức và hoạt động của Trung tâm vẫn còn một số tồn tại, hạn chế sau đây:

Một là, sau khi Luật Công chức, Luật Viên chức có hiệu lực pháp luật, thể chế pháp lý về tổ chức và hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập có sự điều chỉnh, trong khi đó thể chế pháp lý điều chỉnh về mô hình tổ chức và hoạt động của Trung tâm vẫn chưa được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp. Thực trạng này đã ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động của Trung tâm, nhất là chế độ, chính sách đãi ngộ đối với đội ngũ cán bộ, viên chức của Trung tâm chưa được điều chỉnh tương xứng với yêu cầu và trách nhiệm của công việc (không có chế độ phụ cấp công vụ; chưa có chế độ phụ cấp thâm niên theo nghề để trợ giúp viên gắn bó với công tác trợ giúp pháp lý; đội ngũ cán bộ, viên chức khác không được hưởng chế độ phụ cấp ưu đãi theo nghề…).

Hai là, việc củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy, cán bộ của Trung tâm vẫn chưa bảo đảm tiến độ đề ra. Việc quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng gắn với sử dụng đội ngũ lãnh đạo, quản lý còn lúng túng, bị động. Tình trạng Giám đốc Trung tâm do lãnh đạo Sở Tư pháp kiêm nhiệm vẫn còn (Yên Bái, Quảng Trị, Bến Tre, Sóc Trăng). Một số tỉnh chưa có Giám đốc (Hà Nội, Sơn La), chưa có Phó Giám đốc (12/63 tỉnh) hoặc Trưởng các phòng chuyên môn, Trưởng Chi nhánh; 05/63 tỉnh chưa triển khai thành lập các Chi nhánh (Thái Bình, Hà Nam) hoặc tuy có thành lập nhưng hoạt động không theo mô hình được quy định trong Luật Trợ giúp pháp lý. Một số địa phương, Trưởng Chi nhánh vẫn do lãnh đạo Trung tâm, Trưởng phòng chuyên môn hoặc Trưởng phòng Tư pháp kiêm nhiệm và chưa có trợ giúp viên làm việc thường xuyên tại các Chi nhánh (Hoà Bình, Điện Biên). Một số địa phương, số lượng trợ giúp viên biên chế rất thấp, từ 03 – 05 người (chiếm 30 – 40%)(2); có địa phương không có nguồn để bổ sung. Một số lãnh đạo Trung tâm nhận thức chưa đầy đủ về vị trí, vai trò và trách nhiệm của mình trước yêu cầu phát triển ngày càng nhanh chóng và phức tạp của công tác trợ giúp pháp lý, nên chưa thực sự thay đổi tư duy, nỗ lực tự hoàn thiện mình để nâng cao năng lực quản lý, chỉ đạo, điều hành đáp ứng yêu cầu phát triển của mạng lưới trợ giúp pháp lý tại địa phương.

Ba là, chất lượng nguồn nhân lực làm công tác trợ giúp pháp lý phát triển chưa tương xứng với yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, tìm kiếm nguồn lực cán bộ để bổ sung cho đội ngũ trợ giúp viên còn bị động, lúng túng, thiếu tính tổng thể. Đội ngũ trợ giúp viên phát triển chậm, thiếu ổn định, làm việc với tinh thần trách nhiệm chưa cao, thiếu kinh nghiệm tham gia tố tụng. Một số cộng tác viên giỏi phải kiêm nhiệm nhiều việc trong cơ quan, đơn vị, nên không có điều kiện tham gia thường xuyên. Chất lượng hoạt động của một số cộng tác viên chưa bảo đảm; thiếu cộng tác viên là luật sư; chưa thu hút được người có kiến thức, hiểu biết pháp luật tham gia trợ giúp pháp lý. Công tác bồi dưỡng nghiệp vụ thường xuyên cho đội ngũ người thực hiện trợ giúp pháp lý còn chưa được chú trọng đúng mức, nội dung thường tập trung vào cập nhật văn bản mới, thời lượng cho các kỹ năng thực hiện trợ giúp pháp lý cụ thể chưa nhiều.

Bốn là, vẫn còn một số Trung tâm triển khai hoạt động trợ giúp pháp lý theo phong trào, chất lượng chưa cao, thậm chí còn chạy theo số lượng mà chưa chú trọng đến chất lượng vụ việc. Chất lượng và hiệu quả của các đợt trợ giúp pháp lý lưu động, tổ chức và duy trì sinh hoạt Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý, sinh hoạt chuyên đề pháp luật, đặc biệt là công tác đánh giá chất lượng vụ việc và quản lý nhà nước về chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý vẫn là những vấn đề cần phải được lưu tâm trong những năm tới.

Năm là, kinh phí, cơ sở vật chất, trang thiết bị làm việc của Trung tâm và Chi nhánh ở một số tỉnh còn chưa được quan tâm đầu tư đúng mức, chưa tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ. Một số Trung tâm, Chi nhánh chưa có trụ sở làm việc riêng, chưa thuận lợi cho người dân tiếp cận, trang bị máy tính, phương tiện làm việc không đủ theo định mức tiêu chuẩn. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý về tổ chức và hoạt động của Trung tâm chưa được quan tâm đúng mức.

Những tồn tại, hạn chế nêu trên xuất phát từ những nguyên nhân sau đây:

Thứ nhất, Luật Trợ giúp pháp lý và các văn bản hướng dẫn được ban hành đã mang lại sự thay đổi nhanh chóng cho mô hình trợ giúp pháp lý so với thời điểm triển khai thực hiện Quyết định số 734/TTg. Trong khi đó nhận thức của cấp uỷ, chính quyền, địa phương chưa theo kịp với sự thay đổi của thể chế, chính sách. Năng lực lãnh đạo, chỉ đạo và tham mưu của một số lãnh đạo Sở Tư pháp và Trung tâm chưa theo kịp yêu cầu nhiệm vụ, nên trong triển khai còn lúng túng, bị động, thậm chí e dè, chờ đợi.

Thứ hai, để triển khai thực hiện Luật Trợ giúp pháp lý và các văn bản hướng dẫn thi hành, một khối lượng công việc rất lớn, đồ sộ được đặt ra, đòi hỏi phải tập trung cao độ nguồn lực, mới đáp ứng được yêu cầu, trong khi đó, nguồn nhân lực của Trung tâm rất hạn chế. Ngành Tư pháp lại được giao triển khai nhiều nhiệm vụ mới, trong điều kiện biên chế, tổ chức bộ máy không được quan tâm củng cố, kiện toàn cũng phần nào ảnh hưởng đến khả năng tham mưu, tổ chức thực hiện.

Ngoài ra, do bị ảnh hưởng bởi thói quen, nếp nghĩ cũ, nên một số tỉnh còn thụ động, chông chờ vào cấp trên, vào sự hỗ trợ, tài trợ của các dự án và các chương trình mục tiêu quốc gia. Các điều kiện bảo đảm cho việc triển khai thực hiện Luật Trợ giúp pháp lý và cho công tác trợ giúp pháp lý không tương xứng với mục tiêu và yêu cầu của nhiệm vụ.

2. Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Trung tâm

2.1. Nhận thức đầy đủ hơn về vị trí, vai trò của công tác trợ giúp pháp lý và yêu cầu đặt ra đối với Trung tâm trong điều kiện mới

Nhận diện đầy đủ hơn về vị trí, vai trò, trách nhiệm của Trung tâm hiện nay, nhất là trước yêu cầu của cải cách hành chính, cải cách tư pháp, phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế gắn với bảo đảm quyền con người, quyền công dân, để các Trung tâm và Chi nhánh thực sự trở thành lực lượng nòng cốt trong cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được trợ giúp pháp lý.

Nghiên cứu làm rõ mối quan hệ giữa Trung tâm với các tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý, với các cơ quan quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong quá trình thực hiện các hoạt động nghiệp vụ trợ giúp pháp lý. Tiếp tục nghiên cứu và nhận diện đầy đủ về xu thế phát triển của trợ giúp pháp lý trên thế giới, khả năng khuyến khích, huy động các nguồn lực xã hội tham gia trợ giúp pháp lý và khả năng bảo đảm của Nhà nước cho công tác trợ giúp pháp lý để xác định những vấn đề, những hoạt động trọng tâm cần triển khai thực hiện trong điều kiện nguồn nhân lực hạn chế.

2.2. Hoàn thiện thể chế, chính sách liên quan đến tổ chức và hoạt động của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước

Rà soát, sửa đổi, bổ sung Nghị định số 07/2007/NĐ-CP và một số văn bản liên quan đến tổ chức và hoạt động của Trung tâm cho phù hợp với Luật Viên chức và quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước về đơn vị sự nghiệp công lập không có thu. Định hình rõ mô hình tổ chức và hoạt động của Trung tâm gắn với xếp hạng đơn vị sự nghiệp công lập cho phù hợp với vị trí, vai trò, nhiệm vụ và quyền hạn của Trung tâm. Hoàn thiện thể chế để nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu Trung tâm, của người thực hiện trợ giúp pháp lý.

Hoàn thiện thể chế điều chỉnh tổ chức, hoạt động của Trung tâm như: Quy chế tổ chức và hoạt động; quy chế làm việc; quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các phòng chuyên môn và các chi nhánh; quyết định phân công giữa các lãnh đạo Trung tâm; các quy trình nghiệp vụ trợ giúp pháp lý (tiếp công dân; tiếp nhận, thụ lý và thực hiện vụ việc trợ giúp pháp lý; tiếp nhận và xử lý thông tin; giải quyết khiếu nại, tố cáo; phản ánh kiến nghị về việc thụ lý và thực hiện trợ giúp pháp lý; đánh giá chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý; trợ giúp pháp lý lưu động; sinh hoạt Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý; sinh hoạt chuyên đề pháp luật; cử trợ giúp viên, cộng tác viên trợ giúp pháp lý là luật sư tham gia tố tụng, đại diện ngoài tố tụng và thực hiện các hình thức khác; quản lý, sử dụng cộng tác viên trợ giúp pháp lý và thực hiện chế độ, thù lao cho người thực hiện trợ giúp pháp lý); quy chế chi tiêu nội bộ; quy chế quản lý và sử dụng công sản.

Hoàn thiện thể chế về kinh phí bảo đảm cho hoạt động của Trung tâm mà trọng tâm là sửa đổi, bổ sung Thông tư liên tịch số 81/2008/TTLT-BTP-BTC ngày 29/6/2008 để xác định rõ định mức kinh phí khoán hành chính, kinh phí chi cho các hoạt động chuyên môn nghiệp vụ trợ giúp pháp lý do ngân sách nhà nước cấp hàng năm cho Trung tâm. Tiếp tục nghiên cứu, đề xuất việc sửa đổi, bổ sung chính sách, chế độ đãi ngộ đối với người thực hiện trợ giúp pháp lý tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ và chế độ, chính sách đãi ngộ đối với cán bộ của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và các chức danh tư pháp khác (các chế độ phụ cấp thâm niên nghề, ưu đãi theo nghề, thu hút, vụ việc, trang phục đối với trợ giúp viên pháp lý; nâng mức thù lao phụ cấp vụ việc cho cộng tác viên; đổi mới công tác thi đua, khen thưởng để động viên khích lệ kịp thời…).

Nghiên cứu xây dựng vị trí việc làm đối với từng vị trí công tác, chức danh nghề nghiệp tại Trung tâm từ lãnh đạo Trung tâm đến lãnh đạo các phòng chuyên môn, Trưởng Chi nhánh đến trợ giúp viên và các cán bộ, viên chức, người lao động khác của Trung tâm. Tiếp tục nghiên cứu, làm rõ về điều kiện tham gia khoá bồi dưỡng nghiệp vụ cấp chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ trợ giúp pháp lý một cách linh hoạt, để bảo đảm có đủ nguồn lực bổ sung. Tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện cơ chế quản lý, sử dụng đội ngũ cộng tác viên tham gia hoạt động trợ giúp pháp lý để tận dụng và khai thác có hiệu quả nguồn lực tại chỗ.

Bổ sung quy định về đánh giá chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý và chất lượng, hiệu quả hoàn thành công việc được giao của các chức danh, vị trí công tác, đặc biệt là các trợ giúp viên cho tương xứng với chế độ, chính sách đãi ngộ. Xây dựng cơ chế kiểm tra, giám sát đối với đội ngũ người thực hiện trợ giúp pháp lý trong quá trình thực hiện các hoạt động nghiệp vụ, để không lợi dụng danh nghĩa, hoạt động trợ giúp pháp lý nhằm trục lợi hoặc thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm quy tắc nghề nghiệp. Nghiên cứu, xây dựng cơ chế kiểm tra, giám sát việc khai thác, sử dụng các nguồn lực đầu tư có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước cho hoạt động trợ giúp pháp lý tại các địa phương để bảo đảm sử dụng tiết kiệm, hiệu quả, không để sai sót, vi phạm làm ảnh hưởng đến uy tín của Trung tâm.

2.3. Tiếp tục củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy của Trung tâm bảo đảm đủ năng lực hoàn thành nhiệm vụ được giao

Kiện toàn đội ngũ lãnh đạo Trung tâm đủ về số lượng, bảo đảm về năng lực quản lý, điều hành, triển khai thực hiện các nhiệm vụ. Quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng gắn với sử dụng đội ngũ viên chức lãnh đạo để tạo nguồn ổn định, lâu dài cho Trung tâm, bảo đảm tính kế thừa, phát triển, không để hụt hẫng trong quá trình chuyển giao các thế hệ lãnh đạo của Trung tâm.

Kiện toàn các phòng chuyên môn của Trung tâm mà trọng tâm là các phòng trực tiếp cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí. Tách hoạt động nghiệp vụ trợ giúp pháp lý với hoạt động tổ chức hành chính phục vụ công tác nghiệp vụ và đánh giá chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý. Đảm bảo mỗi phòng chuyên môn đều có Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng và các trợ giúp viên chuyên sâu các lĩnh vực pháp luật; có đội ngũ viên chức giúp việc cho trợ giúp viên.

Củng cố, kiện toàn mạng lưới Chi nhánh của Trung tâm, chú trọng tại các địa bàn xa trung tâm, điều kiện giao thông khó khăn, để có đủ năng lực cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí trong phạm vi phân công. Chi nhánh gồm Trưởng Chi nhánh, trợ giúp viên chuyên sâu và các cộng tác viên theo các lĩnh vực pháp luật có khả năng thực hiện trợ giúp pháp lý ngay tại địa bàn. Có cơ chế hợp lý để bảo đảm điều kiện cần thiết cho Chi nhánh hoạt động; phân cấp mạnh cho Chi nhánh trong thực hiện các hoạt động nghiệp vụ trợ giúp pháp lý.

2.4. Xây dựng đội ngũ cán bộ, viên chức của Trung tâm đủ về số lượng, bảo đảm về chất lượng, không ngừng đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của Trung tâm

Xác định rõ vị trí công tác, số lượng chức danh cần có tại Trung tâm (cả lãnh đạo, quản lý và chuyên môn nghề nghiệp). Quy hoạch, tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng gắn với sử dụng có hiệu quả đội ngũ cán bộ, viên chức chuyên môn, nhất là đội ngũ trợ giúp viên. Có kế hoạch tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng nguồn bổ sung cho đội ngũ trợ giúp viên bảo đảm hoàn thành mục tiêu đề ra. Tiếp tục củng cố, nâng cao hiệu quả hoạt động của đội ngũ cộng tác viên trợ giúp pháp lý mà trọng tâm là khai thác và sử dụng có hiệu quả các cộng tác viên là luật sư, cán bộ, công chức làm việc tại các cơ quan tiến hành tố tụng.

Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ trợ giúp viên và các viên chức của Trung tâm theo hướng kết hợp giữa tự học, tự nghiên cứu hoàn thiện mình với đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn lại, trong đó đặc biệt chú trọng việc tự học tập nâng cao trình độ, cập nhật kiến thức mới và kỹ năng làm việc. Tiếp tục nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trợ giúp pháp lý, không chỉ về kiến thức pháp luật, chuyên môn, nghiệp vụ trợ giúp pháp lý mà còn gắn với đào tạo, bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước, tin học, ngoại ngữ, tiếng nói của đồng bào dân tộc thiểu số (tại vùng có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số); các kỹ năng mềm, nhất là kỹ năng làm việc với các đối tượng đặc thù. Xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trợ giúp pháp lý của địa phương hàng năm và dài hạn. Đổi mới nội dung, phương pháp đào tạo theo hướng tập trung vào hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn nghề nghiệp, kỹ năng trợ giúp pháp lý, kỹ năng làm việc với các đối tượng đặc thù và thực hiện trợ giúp pháp lý trên từng lĩnh vực.

2.5. Nâng cao hiệu quả hoạt động, tăng cường mối quan hệ phối hợp trong công tác trợ giúp pháp lý

Đổi mới cách thức tổ chức các đợt trợ giúp pháp lý lưu động, để thu hút sự tham gia đông đảo của người thực hiện trợ giúp pháp lý tại địa phương. Nâng cao hiệu quả hoạt động của Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý tại cơ sở, để kịp thời giải toả vướng mắc pháp luật của người được trợ giúp pháp lý ngay tại cộng đồng. Nâng cao chất lượng trợ giúp pháp lý trong tố tụng; chú trọng đúng mức công tác đánh giá và quản lý chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý.

Nâng cao hiệu quả hoạt động của các chuyên trang, chuyên mục trợ giúp pháp lý trên các cơ quan thông tin, truyền thông, báo chí. Tăng cường phối hợp trợ giúp pháp lý trong tố tụng, mà trọng tâm là hoạt động giới thiệu người được trợ giúp pháp lý đến với tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý và kiểm tra, giám sát việc thực hiện vụ việc trợ giúp pháp lý từ phía cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng công tác phối hợp giữa Trung tâm với các cấp uỷ, chính quyền, đoàn thể của địa phương trong triển khai các hoạt động nghiệp vụ trợ giúp pháp lý tại cơ sở.

2.6. Tăng cường công tác quản lý nhà nước kết hợp với kiểm tra, giám sát, phản biện xã hội đối với tổ chức và hoạt động của Trung tâm

Duy trì chế độ kiểm tra định kỳ và đột xuất về tổ chức và hoạt động của Trung tâm từ phía các cơ quan quản lý nhà nước, để bảo đảm đúng pháp luật, không để xảy ra sai sót. Kịp thời phát hiện, đấu tranh và xử lý đối với các hành vi vi phạm pháp luật về trợ giúp pháp lý. Làm tốt công tác khen thưởng, tôn vinh, nêu gương người tốt, việc tốt, điển hình hoặc có đóng góp tích cực cho trợ giúp pháp lý; phê phán, lên án với hành vi lệch lạc, lợi dụng trợ giúp pháp lý để trục lợi. Xây dựng cơ chế kiểm tra, giám sát, phản hồi kết quả giải quyết vụ việc đối với vụ việc phức tạp, kéo dài. Làm tốt công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo; xử lý phản ánh, kiến nghị của công dân liên quan đến tổ chức và hoạt động của Trung tâm. Quản lý chặt chẽ các nguồn lực đầu tư cho hoạt động của Trung tâm để bảo đảm sử dụng đúng định mức, tiêu chuẩn và có hiệu quả trong điều kiện các nguồn lực có hạn.

Tăng cường vai trò giám sát, phản biện của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, cũng như các cơ quan thông tin, báo chí đối với tổ chức và hoạt động của Trung tâm. Tăng cường hơn nữa công tác giám sát xã hội trong việc khai thác, quản lý và sử dụng các nguồn lực đầu tư cho công tác trợ giúp pháp lý, nhất là nguồn kinh phí hỗ trợ từ các dự án hợp tác quốc tế, các chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo hoặc các nguồn vốn có nguồn gốc từ sự đóng góp của nhân dân.

2.7. Bảo đảm các điều kiện về kinh phí, cơ sở vật chất, phương tiện làm việc cho Trung tâm và Chi nhánh

Cần có giải pháp bảo đảm đủ nguồn lực kinh phí chi cho các hoạt động nghiệp vụ trợ giúp pháp lý của Trung tâm và chi chế độ, chính sách đãi ngộ đối với đội ngũ người thực hiện trợ giúp pháp lý từ nguồn ngân sách địa phương, nhất là trong điều kiện các dự án hợp tác quốc tế về trợ giúp pháp lý kết thúc.

Đầu tư xây dựng trụ sở làm việc cho Trung tâm, Chi nhánh, bảo đảm khang trang, sạch đẹp, đủ về diện tích theo định mức, tiêu chuẩn, bảo đảm thuận tiện cho người được trợ giúp pháp lý tiếp cận. ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin trong tổ chức và hoạt động của Trung tâm. Có giải pháp để chia sẻ thông tin liên quan đến các hoạt động nghiệp vụ trợ giúp pháp lý giữa các tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý.

Làm tốt công tác khuyến khích, huy động các nguồn lực xã hội tham gia trợ giúp pháp lý, đặc biệt là sự hỗ trợ, tài trợ, đầu tư từ các tổ chức, các doanh nghiệp, các nhà hảo tâm trong và ngoài nước cho hoạt động trợ giúp pháp lý.

Tài liệu tham khảo:

(1). Đã có 42/63 Trung tâm có Trưởng phòng hoặc Phó Trưởng phòng; 53/63 Trung tâm đã bổ nhiệm Trưởng Chi nhánh, có 26/63 Trưởng Chi nhánh chuyên trách (chiếm 41,3%); 27/63 Trưởng Chi nhánh do lãnh đạo Phòng Tư pháp kiêm nhiệm (chiếm 42,8%).

(2). Bắc Kạn, Quảng Ninh, Thái Bình, Đà Nẵng, Quảng Trị, Phú Yên, Đắk Lắk, Tuyên Quang, Bạc Liêu, Yên Bái.

TS. Đỗ Xuân Lân

Cục Trợ giúp pháp lý, Bộ Tư pháp

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.
Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Tóm tắt: Thông báo thi hành án là thủ tục không thể thiếu trong từng giai đoạn của quá trình tổ chức thi hành án dân sự. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về thông báo thi hành án còn tồn tại một số bất cập, hạn chế như chưa tương xứng giữa quyền với nghĩa vụ của đương sự, giữa trách nhiệm với quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và chủ yếu được thực hiện theo hình thức thông báo trực tiếp… Bài viết phân tích pháp luật thực định và thực tiễn thi hành, từ đó, đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến thông báo thi hành án để phù hợp thực tiễn, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích những bất cập trong quy định của pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con, từ đó, đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy quyền được giáo dục của con trong gia đình được thực hiện hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển của trẻ em và xã hội trong bối cảnh hiện nay.
Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết tập trung nghiên cứu một số học thuyết và phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật, chỉ ra những bất cập tồn tại trong quy định pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam chưa phù hợp với các học thuyết này. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng trong thời gian tới.
Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Tóm tắt: Cải cách thủ tục hành chính là yếu tố quan trọng, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính, thúc đẩy cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, đặc biệt là tạo động lực cho đổi mới sáng tạo. Nghiên cứu này phân tích sự cần thiết của cải cách thủ tục hành chính và thực trạng cải cách thủ tục hành chính ở Việt Nam trong việc khơi thông động lực đổi mới sáng tạo, từ đó, đề xuất giải pháp cải cách.
Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích quá trình phát triển tư tưởng về mối quan hệ giữa luật pháp và kinh tế học, tập trung vào trường phái kinh tế học pháp luật với phương pháp phân tích chi phí - lợi ích làm nổi bật vai trò quan trọng của việc cân nhắc các tác động hành vi cùng hiệu quả phân bổ nguồn lực trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật. Trên cơ sở đó, đề xuất áp dụng phương pháp kinh tế học pháp luật vào quy trình lập pháp tại Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả, tính minh bạch, sự công bằng xã hội và góp phần thúc đẩy cải cách pháp luật bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế, chuyển đổi số.
Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Tranh chấp lao động cá nhân là tranh chấp phổ biến nhất trong quan hệ lao động và ngày càng diễn biến phức tạp, cùng với đó, nhu cầu về cơ chế giải quyết tranh chấp hiệu quả, linh hoạt và bảo đảm quyền lợi cho các bên cũng ngày càng tăng trong lĩnh vực lao động. Trọng tài lao động với tính chất độc lập và được thiết kế theo cơ chế ba bên, có tiềm năng trở thành phương thức giải quyết tranh chấp lao động cá nhân hiệu quả. Bài viết phân tích thực trạng pháp luật hiện hành về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.
Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích các dấu hiệu nhận diện đặc trưng của tài sản số, những khó khăn, bất cập khi thiếu khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số, kinh nghiệm của Hoa Kỳ và giá trị tham khảo cho Việt Nam. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm xây dựng khung pháp lý vững chắc giúp Việt Nam có cơ hội phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực công nghệ, bảo vệ quyền lợi của người sở hữu tài sản số, tận dụng tối đa tiềm năng từ tài sản số và tiếp tục vững bước trên con đường phát triển kinh tế số.

Theo dõi chúng tôi trên: