Thứ năm 30/04/2026 17:37
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thực trạng vai trò của thiết chế truyền thông trong việc bảo vệ quyền con người và quyền công dân ở Việt Nam hiện nay

Ở Việt Nam, hoạt động truyền thông, báo chí ra đời khá sớm và đã từng bước nỗ lực xây dựng và truyền tải rất nhiều thông tin hữu ích ở nhiều lĩnh vực khác nhau. Trong lĩnh vực bảo vệ quyền con người, thông qua các kênh thông tin truyền thông, các giá trị xã hội, các quy tắc, luật lệ thành văn cũng như bất thành văn của xã hội được phổ biến và nhắc đi nhắc lại cho mọi người cùng biết, thuyết phục mọi người cùng đồng tình và vận động mọi người cùng nhau tuân thủ để bảo đảm những lợi ích thiết yếu và hợp pháp cho từng cá nhân hay bất cứ tổ chức nào.

Trong những năm gần đây, truyền thông báo chí có sức mạnh và tầm ảnh hưởng to lớn trong việc thực hiện chức năng và vai trò đối với hoạt động thực thi pháp luật nói chung và hoạt động bảo vệ quyền con người nói riêng. Những thành tựu quan trọng của truyền thông tại Việt Nam trên nhiều phương diện, nhiều lĩnh vực (trong đó có lĩnh vực bảo vệ quyền con người) là dẫn chứng chân thực cho sự ra đời tất yếu của các thiết chế truyền thông trong việc duy trì, phát triển và thúc đẩy giá trị chung của nhân loại - nhân quyền.

1. Vai trò của thiết chế truyền thông trong việc bảo vệ quyền con người

Ở nhiều quốc gia trên thế giới, các loại hình truyền thông đã trở thành một “đòn bẩy” thiết yếu trong hàng loạt các hoạt động hướng tới mục đích bảo về nhân quyền, quyền công dân trong phạm vi lãnh thổ quốc gia. Nếu như các thiết chế khác tác động gián tiếp đến việc bảo vệ quyền con người, thì thiết chế truyền thông với nhiều loại hình truyền thông đa dạng đã tác động trực tiếp đến hoạt động bảo vệ quyền con người bằng những vai trò tích cực nhất. Những vai trò của thiết chế truyền thông trong việc bảo vệ quyền con người, đó là:

Một là, thiết chế truyền thông thể hiện vai trò tích cực tuyên truyền, giới thiệu, phổ biến các nội dung quan trọng về vấn đề nhân quyền trong các văn kiện pháp lý quốc tế tới các quốc gia trên toàn thế giới, tới từng dân tộc, không giới hạn phạm vi lãnh thổ, biên giới. Nhờ có hoạt động truyền thông, báo chí và chức năng đưa tin của các phương tiện truyền thông đại chúng mà các nội dung quan trọng về nhân quyền được phổ quát tới nhiều nơi, ở nhiều khu vực khác nhau trên toàn thế giới, giúp cho các quốc gia, các vùng lãnh thổ tiếp cận thông tin nhanh chóng và thuận tiện để hiểu được các quy định của pháp luật quốc tế và thực hiện hiệu quả các cam kết quốc tế về nhân quyền tại quốc gia sở tại.

Hai là, báo chí, truyền thông là phương tiện quan trọng công khai các thành tựu trong quá trình bảo vệ quyền con người của các quốc gia trên thế giới. Vai trò này đã giúp cho quá trình bảo vệ quyền con người ở nhiều quốc gia được phổ biến, giới thiệu, truyền bá và trở thành những bài học kinh nghiệm nâng cao công tác quản lý, tổ chức hoạt động bảo về quyền con người cho quốc tế và cho những quốc gia khác.

Ba là, truyền thông đại chúng là diễn đàn để nhân dân, công dân của mỗi quốc gia bày tỏ ý kiến, quan điểm về hoạt động giáo dục, bảo vệ quyền con người. Cũng nhờ truyền thông mà nhiều quan điểm, ý kiến, đề xuất, giải pháp khả thi được cơ quan nhà nước tiếp nhận và hiện thực hóa để nâng cao hiệu qua trong hoạt động bảo vệ quyền con người nói chung và quyền công dân nói riêng.

Bốn là, thiết chế truyền thông đã truyền tải được nhanh chóng các vụ việc, các vấn đề, các hành vi vi phạm và xâm hại nghiêm trọng quyền con người, đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, cửa quyền, hách dịch, đấu tranh chống các hành vi tiêu cực, phê phán và cảnh báo những hành vi vi phạm Hiến pháp, pháp luật. Vai trò này của thiết chế truyền thông đã có tác dụng trong việc ngăn chặn kịp thời những hành vi sai trái và bảo đảm tối đa những lợi ích hợp pháp, chính đáng của mỗi cá nhân đối với việc hưởng quyền con người và quyền công dân. Ngoài ra, trên cơ sở tham khảo những thông tin mà truyền thông, báo chí truyền tải, các cơ quan chức năng, các nhà chức trách cũng có căn cứ, cơ sở để giải quyết, làm rõ, xử lý kịp thời các hành vi vi phạm về nhân quyền.

Năm là, thiết chế truyền thông có vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin, bảo đảm quyền được tiếp nhận thông tin về quyền con người của mỗi cá nhân và đây cũng là cơ sở hình thành các chức năng khác của thiết chế truyền thông đối với hoạt động bảo đảm, bảo vệ và thúc đẩy quyền con người như chức năng giáo dục, vai trò giám sát, quản lý, điều tiết các vấn đề khác liên quan đến quyền con người.

Tại Việt Nam, vai trò chủ yếu và quan trọng nhất của các thiết chế truyền thông trong việc bảo vệ quyền con người đó là bảo đảm được tính chất cung cấp thông tin nhân quyền, tuyên truyền, phổ biến và giáo dục về nhân quyền cho nhiều chủ thể khác nhau trong xã hội. Với điều kiện kinh tế - xã hội và điều kiện về nhận thức ở Việt Nam như hiện tại, vai trò này càng phát huy được những hiệu quả nhất định trong quá trình tương tác với các thiết chế khác nhằm mục đích đưa pháp luật quyền con người vào đời sống cụ thể và bảo vệ con người, bảo vệ các chủ thể khác nhau khỏi những hành vi xâm phạm quyền con người.

Truyền thông ngày càng phát triển và trở thành một “món ăn” không thể thiếu trong mỗi gia đình và toàn xã hội thì việc tác động của truyền thông đối với vấn đề bảo vệ quyền con người là hoàn toàn dễ dàng và tiện lợi. Tuy nhiên, việc quản lý hoạt động của thiết chế truyền thông từ cơ quan nhà nước cũng là một vấn đề cần thiết để hoạt động truyền thông đi vào khuôn khổ và phát huy được những vai trò bản năng của mình trong đời sống xã hội nói chung và việc bảo vệ nhân quyền nói riêng.

2. Thực trạng vai trò của thiết chế truyền thông trong việc bảo vệ quyền con người ở Việt Nam

Vai trò của thiết chế truyền thông như đã nêu trên luôn được đặt ra với tư cách là nhiệm vụ, chức năng và sứ mệnh của các loại hình truyền thông trong việc phổ biến, tuyên truyền, giáo dục về quyền con người. Tuy nhiên, thiết chế truyền thông có đảm đương được những vai trò này với mục tiêu bảo đảm và thúc đẩy quyền con người hay không lại là một vấn đề đáng lưu ý với các quốc gia và cộng đồng quốc tế. Thực tế cho thấy, ở mỗi quốc gia khác nhau thì thiết chế truyền thông trong việc bảo vệ quyền con người sẽ thực hiện những vai trò khác nhau (có thể là thực hiện cùng lúc nhiều vai trò hoặc có thể thực hiện xen kẽ, đan xen hoặc riêng lẻ các vai trò). Việc này sẽ quyết định đến tính hiệu quả của hoạt động báo chí, truyền thông đến vấn đề bảo vệ quyền con người và thúc đẩy những giá trị mang tính giáo dục đối với nhân quyền. Sự đa dạng hóa của loại hình truyền thông khác nhau trong thiết chế truyền thông sẽ là cơ sở để nảy sinh hai mặt của công tác dùng truyền thông tác động đến nhân quyền - mặt tích cực và mặt tiêu cực.

Ở Việt Nam, quyền con người không chỉ được quy định trong Hiến pháp, pháp luật mà còn được thực thi trong thực tế. Hiện nay, theo thống kê sơ bộ, có rất nhiều hình thức truyền thông nhằm tác động trực tiếp đến vấn đề nhân quyền. Các con số làm dẫn chứng cụ thể cho tác động của truyền thông lên đời sống xã hội nói chung và lên nhân quyền nói riêng như: Có hơn 800 cơ quan báo chí in, gần 70 đài phát thanh, truyền hình; Ðài Tiếng nói Việt Nam phủ sóng gần 100% diện tích lãnh thổ, qua vệ tinh tới nhiều nước trên thế giới; hơn 90% hộ gia đình đã sử dụng sóng của Ðài Truyền hình Việt Nam. Đồng thời, người dân Việt Nam được tiếp xúc với 75 kênh truyền hình nước ngoài, trong đó có các kênh nổi tiếng. Ngoài ra, có hơn 20 cơ quan báo chí nước ngoài đã có phóng viên thường trú tại Việt Nam. Đặc biệt, internet đã được Nhà nước khuyến khích sử dụng và phát triển ấn tượng. Đến nay, Việt Nam có hơn 74 báo và tạp chí điện tử, 336 mạng xã hội, 1.174 trang thông tin điện tử được cấp phép hoạt động; giá cả dịch vụ internet ở Việt Nam rẻ nhất khu vực, người dân có thể tiếp cận tin tức của các cơ quan thông tấn, báo chí lớn trên thế giới, như: AFP, AP, BBC, VOA, Reuters, Kyodo, The Economist, Financial Times[1]... Nhiều cuộc điều tra xã hội đã cho thấy, phần lớn người dân Việt Nam thường biết tới các thông tin thời sự, pháp luật và nhân quyền thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng. Nói cách khác, báo chí, truyền thông là phương tiện hữu hiệu trong việc cung cấp, trang bị thông tin, kiến thức trên tất cả các lĩnh vực, bao gồm các các nội dung liên quan đến quyền con người nhằm góp phần nâng cao nhận thức về quyền và nghĩa vụ của bản thân mình. Đây là lý do tạo nên sự tin tưởng của công chúng đối với chất lượng và nội dung thông tin được báo chí đưa ra. Chính từ sự tin tưởng đó, công chúng mới đi theo định hướng của báo chí, có phản hồi và tích cực hợp tác, thậm chí trở thành nguồn tin của báo chí trong các nội dung liên quan đến hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục nhân quyền.

Nhờ vào các thực trạng về sự phát triển truyền thông ở Việt Nam mà hàng loạt các vấn đề về quyền con người trong thời gian gần đây được đưa tin, có thể kể đến như: Vụ án oan của ông Nguyễn Thanh Chấn (ở huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang); vụ án oan của “người tù thế kỷ” Huỳnh Văn Nén (ở huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận); vụ án xét xử em Nguyễn Mai Trung Tuấn; vụ án của tử tù Hồ Duy Hải; các vụ việc đòi quyền lợi của cộng đồng LGBT; các quan điểm, chính sách kiến nghị sửa đổi, bổ sung, thay thế, ban hành mới luật của Việt Nam để phù hợp với pháp luật quốc tế và nhu cầu thiết yếu của vấn đề nhân quyền…. Vai trò của truyền thông tại Việt Nam là khá rõ ràng, hơn bất cứ một công cụ điều chỉnh các quan hệ xã hội nào khác, thì truyền thông có quyền năng tăng cường nhận thức trực tiếp hoặc gián tiếp ở nhiều tầng lớp trong xã hội, đặc biệt truyền thông cũng làm gia tăng các suy nghĩ, nhìn nhận về vấn đề quyền con người. Đã một thời gian khá dài, đặc biệt trong những năm gần đây, từ “quyền” và cụm từ “quyền con người” được báo chí sử dụng thường xuyên với mục đích phản ảnh chân thực các góc cạnh của cuộc sống liên quan đến nhân quyền. Điều đó cho thấy, sự phản ánh này đồng nghĩa với việc các cơ quan truyền thông, báo chí đã tác động trực tiếp tới vấn đề bảo vệ quyền con người khi cung cấp hàng loạt những thông tin hữu ích, có giá trị cho người dân.

Ở khía cạnh tích cực, thiết chế truyền thông ở Việt Nam hiện nay đã mang lại nhiều hiệu quả khá khả quan như: Nhờ có truyền thông, báo chí thông qua các hình thức tuyên truyền, phổ biến và vận động nên nhiều kế hoạch, mục tiêu thiên niên kỷ (xóa đói giảm nghèo, phổ cập giáo dục) mà Việt Nam tham gia ký kết trong nhiều điều ước quốc tế đã hoàn thành trước thời hạn cam kết. Điều này có thể thấy rõ qua các hoạt động hợp tác tổ chức chương trình tuyên truyền nhân quyền của Việt Nam với UN, UNDP, EU, ASEAN, Hội đồng Anh…; nhiều bài viết, bản tin, nhiều thông tin phản ánh chính xác và kịp thời những thành tựu trong công tác bảo đảm và thúc đẩy quyền con người ở Việt Nam[2]; các cơ quan báo chí, truyền thông đã chủ động và kịp thời cung cấp những thông tin trung thực, khách quan về những vấn đề, vụ việc mà các thế lực cơ hội, thù địch thường xuyên tìm cách xuyên tạc, vu cáo như chính sách dân tộc, tôn giáo của Việt Nam, tình hình nhân quyền trong nước… giúp bạn bè quốc tế và người Việt Nam ở nước ngoài hiểu rõ về những chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về vấn đề dân chủ, nhân quyền. Để giúp người dân có nhận thức đúng đắn về quyền con người, đề cao tinh thần cảnh giác, tích cực tham gia đấu tranh chống diễn biến hòa bình, nhiều tờ báo đã mở các chuyên trang, chuyên mục tuyên truyền sâu rộng về các vấn đề thuộc lĩnh vực quyền con người, trong đó có nhiều nội dung về quyền con người, quyền công dân, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, góp phần kịp thời định hướng dư luận trước những ý kiến sai lệch về dân chủ, nhân quyền cũng như thông tin xuyên tạc, phản ánh sai thực tế về tình hình nhân quyền Việt Nam. Sau khi hàng loạt các vụ việc thực tế về vi phạm quyền con người được báo chí, truyền thông đưa tin như: Vụ việc ông Huỳnh Nghĩa đã chết tại nhà riêng sau khi bị cảnh sát hành hung trong một cuộc thẩm vấn tại tỉnh Đắk Nông; vụ án 5 công an dùng nhục hình đánh chết người ở Phú Yên; vụ án các điều tra viên bức cung, tra tấn ông Nguyễn Thanh Chấn... có thể thấy rằng, sự ảnh hưởng không hề nhỏ của các cá nhân, cơ quan, tổ chức truyền thông trong việc tác động vào nhận thức của người dân nhằm lên án các hành vi sai trái, xâm phạm nhân quyền nghiêm trọng trên thực tế của các cá nhân, tổ chức có liên quan. Đây cũng là hoạt động đáng khích lệ đối với truyền thông khi thiết chế này thực sự là một công cụ xã hội sắc bén trong hoạt động bảo vệ, thúc đẩy nhân quyền.

Bên cạnh những điểm tích cực của thiết chế truyền thông tác động đến việc bảo đảm và thúc đẩy quyền con người, thì một số loại hình truyền thông cụ thể vẫn còn bất cập, nhược điểm trong công tác thông tin, tuyên truyền về quyền con người cần phải khắc phục kịp thời như: Việc thông tin, tuyền truyền, giáo dục quyền con người chưa diễn ra thường xuyên, thiếu tính toàn diện, nhiều hoạt động mang tính chất tự phát, không có kế hoạch, lộ trình cụ thể rõ ràng, nhiều bài viết, chương trình, bản tin chưa phản ánh đúng thực chất sự việc liên quan đến nhân quyền; trong một số trường hợp, việc đấu tranh phản bác, vạch trần âm mưu, thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền chống phá cách mạng của các thế lực thù địch còn bị động, một số bài viết trên báo, tạp chí chưa sâu sắc, thuyết phục, hiểu biết, kỹ năng tác nghiệp của đội ngũ phóng viên, biên tập viên viết về quyền con người còn một số mặt hạn chế, ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng thông tin, tuyên truyền; cơ quan truyền thông, báo chí vẫn chưa sâu sát được đến tất cả các vùng miền, các đối tượng khác nhau trên lãnh thổ nên việc người dân được tiếp cận những thông tin chính thống về quyền con người còn hạn chế, trình độ nhận thức và việc tự bảo vệ quyền của mình ở nhiều người còn chưa cao…

Nhìn chung, các thiết chế truyền thông trong việc bảo đảm, bảo vệ quyền con người ở Việt Nam trong thời gian qua đã có những tác động tích cực đến đời sống xã hội. Tuy nhiên, công tác truyền thông, báo chí của một số loại hình truyền thông vẫn chưa được thực hiện đồng bộ, bài bản nên những giá trị phổ quát về quyền con người của toàn nhân loại nói chung và ở Việt Nam nói riêng vẫn chưa được tất cả mọi người trong xã hội quan tâm và nhận thức đầy đủ. Do đó, cần có những giải pháp cụ thể, quyết liệt nhằm phát huy tối đa vai trò quan trọng của thiết chế truyền thông đối với việc bảo vệ, bảo đảm và thúc đẩy quyền con người ở Việt Nam.

3. Một số đề xuất nâng cao hiệu quả của thiết chế truyền thông trong việc bảo vệ quyền con người, quyền công dân ở Việt Nam

Để nâng cao hiệu quả của thiết chế truyền thông trong việc bảo vệ quyền con người ở Việt Nam cần áp dụng nhiều biện pháp khác nhau. Cụ thể như sau:

Thứ nhất, cần nâng cao chất lượng của thiết chế truyền thông trong việc bảo vệ quyền con người. Muốn làm được điều này, Đảng và Nhà nước chỉ đạo các cơ quan chuyên môn, cơ quan quản lý trực tiếp hoạt động truyền thông, báo chí trong vấn đề bảo vệ quyền con người xây dựng một lộ trình cụ thể, có kế hoạch rõ ràng, có chiến lược lâu dài. Đồng thời, để hoạt động truyền thông có hiệu quả tích cực, cần thiết phải có các cơ chế bảo vệ nhân quyền cấp quốc gia, có cơ quan chuyên trách phụ trách quản lý hoạt động truyền thông về quyền con người phối kết hợp với các cơ quan báo chí, truyền thông trong và ngoài nước để thực hiện các mục tiêu cốt lõi của vấn đề bảo vệ nhân quyền.

Thứ hai, các văn bản luật, văn bản dưới luật, các chính sách của Đảng và Nhà nước ta về quyền con người, bảo vệ quyền con người cần được phổ biến rộng rãi. Để nâng cao hiệu quả và chất lượng truyền thông về quyền con người, các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể cần cố gắng xuất bản, in ấn các văn bản pháp luật, các nội dung chính sách của Đảng, Nhà nước và các tài liệu hướng dẫn, phổ biến nâng cao kiến thức, nhận thức về quyền con người cho người dân ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa, miền núi, hải đảo hoặc các vùng có điều kiện kinh tế và trình độ dân trí thấp…

Thứ ba, thực hiện các chương trình, kế hoạch, nội dung, chuyên đề về quyền con người dưới nhiều hình khác nhau phù hợp với nhiều đối tượng khác nhau trong nhiều hoàn cảnh khác nhau để đối tượng hướng tới có thể hiểu sâu sắc quan điểm, đường lối, chính sách, văn bản pháp luật và quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của họ. Ngoài ra, cũng cần thiết phải thực hiện hoạt động giáo dục về nhân quyền trong hệ thống giáo dục quốc dân (kết cấu thành các môn học bắt buộc ở các cấp độ học khác nhau) và ngoài hệ thống giáo dục quốc dân (tổ chức diễn đàn trao đổi, tuyên truyền, giải thích, giáo dục về nhân quyền).

Thứ tư, có những giải pháp triệt để khi những loại hình truyền thông báo chí đưa tin sai sự thật, xuyên tạc sự việc, vi phạm quy định pháp luật về báo chí hoặc có những hành vi nói xấu, bôi nhọ các tổ chức, cá nhân liên quan khác. Giải quyết triệt để vấn đề này sẽ góp phần gia tăng hiệu quả và nâng cao chất lượng của truyền thông, báo chí trong quá trình thực hiện chức năng bảo vệ quyền con người.

Thứ năm, tăng cường chuyên môn, nghiệp vụ về nhân quyền cho đội ngũ cán bộ, công chức Nhà nước. Đội ngũ này phải là những người nhiệt huyết, có trách nhiệm, có đạo đức, biết tôn trọng quyền con người, quyền công dân.

Hoàn thiện và nâng cao vai trò của thiết chế truyền thông trong công tác bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp cho con người, cho các công dân là điều quan trọng cần thiết phải thực hiện. Từ những ưu điểm và hạn chế của thiết chế truyền thông tác động lên nhân quyền hiện nay giúp chúng ta dễ dàng nhận ra những bài học kinh nghiệm quý báu trong công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa với mục tiêu cốt lõi là tôn trọng những quyền năng và phẩm giá bẩm sinh của con người sao cho phù hợp và hài hòa với chuẩn mực quốc tế cũng như thực hiện đúng các cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

Nhóm nghiên cứu Đề tài
(Bài viết là sản phẩm của Đề tài khoa học cấp Bộ "Tăng cường vai trò của thiết chế truyền thông trong bảo vệ quyền con người và quyền công dân ở Việt Nam").


[1]Cần có cái nhìn đúng về quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân ở Việt Nam”, TS. Cao Đức Thái, Giảng viên cao cấp, nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu Quyền con người Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.

[2] Các sự kiện nổi bật của Việt Nam trong năm 2016

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tóm tắt: Chương VII dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) quy định về tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo gần như giữ nguyên nội dung Chương VII Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016. Tuy nhiên, phân tích từ góc độ liên thông giữa Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 với Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Đất đai năm 2024, cho thấy có một số bất cập, nếu được hoàn thiện trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) sẽ giúp hệ thống pháp luật liên quan đến chế định này được hoàn thiện, đồng bộ hơn.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.

Theo dõi chúng tôi trên: