Thứ năm 12/03/2026 07:04
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm của lực lượng công an cấp xã theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam và một số vấn đề cần hoàn thiện

Nhìn chung, với những quy định nêu trên, thì lực lượng Công an cấp xã đã được gia tăng thẩm quyền và có hành lang pháp lý cho việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ giữ vững trật tự, an toàn xã hội tại cơ sở, đáp ứng yêu cầu trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm. Tuy nhiên, thực tiễn thi hành quy định pháp luật tố tụng hình sự về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm của lực lượng Công an cấp xã vẫn còn một số vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện.

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu quy định của pháp luật tố tụng hình sự về tiếp nhận, phân loại và xử lý tố giác, tin báo về tội phạm của lực lượng Công an cấp xã, đánh giá hạn chế và đề xuất một số vấn đề cần hoàn thiện quy định này.

Abstract: The article studies the provisions of the criminal procedure law on receipt, classification and handling of denunciations and crime reports of the commune police force, assesses limitations and proposes some issues to be completed for improving this provision.

1. Quy định của pháp luật về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm của lực lượng Công an cấp xã

Tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm có ý nghĩa quan trọng trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm và là căn cứ để kịp thời xác định có hay không hành vi phạm tội. Qua hoạt động phân loại, kiểm tra, xác minh ban đầu, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng sẽ xem xét để quyết định khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự. Tuy nhiên, thời gian qua, việc tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm còn gặp nhiều khó khăn. Đặc biệt là trong thời gian thực hiện giãn cách xã hội, nhiều trường hợp khi tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã không kịp tiếp cận ngay hiện trường hoặc chưa kịp thời thu thập các thông tin tài liệu khi vụ việc vừa xảy ra. Vấn đề này ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình xác minh, thu thập chứng cứ để định hướng điều tra.

Theo báo cáo của lực lượng Công an nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương[1], kể từ khi thực hiện Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 31/3/2020 của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện các biện pháp cấp bách phòng, chống dịch Covid-19, đến tháng 10/2021, còn 171 tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố gần hết thời hạn kiểm tra, xác minh, còn 77 vụ án gần hết thời hạn điều tra, nhưng chưa có căn cứ để ban hành quyết định tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Đây chính là những trở ngại, hạn chế do khách quan đem lại và là những khó khăn, vướng mắc từ thực tiễn cần được xem xét, tháo gỡ để giải quyết, đáp ứng yêu cầu công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm. Chính vì vậy, tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XV, ngày 12/11/2021, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, trong đó có quy định về việc tăng nhiệm vụ, quyền hạn cho lực lượng Công an cấp xã trong việc tiếp nhận, phân loại, xử lý tố giác, tin báo về tội phạm. Khoản 1 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự đã sửa đổi khoản 3 Điều 146 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, theo đó, Công an xã, phường, thị trấn, Đồn Công an có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, lập biên bản tiếp nhận, tiến hành kiểm tra, xác minh sơ bộ và chuyển ngay tố giác, tin báo về tội phạm kèm theo tài liệu, đồ vật có liên quan cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền. Để kịp thời cụ thể hóa quy định này, ngày 29/11/2021, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã ban hành Thông tư liên tịch số 01/2021/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư liên tịch số 01/2017/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNNPTNT-VKSNDTC quy định việc phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền trong việc thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố (Thông tư liên tịch số 01/2021/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC). Khi tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm thì Công an xã thực hiện các công việc như sau:

(i) Đối với tố giác, tin báo về hành vi phạm tội quả tang; tố giác, tin báo về hành vi phạm tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng hoặc được dư luận xã hội quan tâm; tố giác, tin báo về tội phạm đã rõ người thực hiện hành vi phạm tội hoặc rõ người bị tố giác mà có căn cứ cho rằng người đó có thể bỏ trốn, có căn cứ và cần thiết phải áp dụng các biện pháp ngăn chặn thì Công an cấp xã lập biên bản tiếp nhận, báo ngay bằng các hình thức liên lạc nhanh nhất cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền; tổ chức ngay lực lượng đến bảo vệ hiện trường, lấy lời khai người tố giác, báo tin về tội phạm, người bị tố giác, người bị hại, người làm chứng hoặc những người có liên quan; xác minh, làm rõ nhân thân, lai lịch của người bị tố giác, bị hại và những người có liên quan; phát hiện, tạm giữ, bảo quản tài liệu, đồ vật có liên quan đến hành vi có dấu hiệu tội phạm và chuyển tố giác, tin báo về tội phạm kèm theo tài liệu, đồ vật có liên quan cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền trong thời hạn không quá 24 giờ kể từ khi tiếp nhận; đối với các xã ở vùng rừng núi xa xôi, hẻo lánh điều kiện đi lại khó khăn thì thời hạn chuyển tố giác, tin báo về tội phạm không quá 48 giờ kể từ khi tiếp nhận.

(ii) Đối với tố giác, tin báo về tội phạm không thuộc trường hợp quy định nêu trên, Công an cấp xã lập biên bản tiếp nhận, lấy lời khai của người tố giác, báo tin về tội phạm, lấy lời khai người bị tố giác, người bị hại, người làm chứng và những người có liên quan; có mặt kiểm tra, xác định nơi xảy ra vụ việc, vẽ sơ đồ nơi xảy ra vụ việc, bảo vệ hiện trường; xác minh, làm rõ nhân thân, lai lịch của người bị tố giác, bị hại và những người có liên quan; xác minh sơ bộ thông tin về hậu quả thiệt hại; phát hiện, tạm giữ, bảo quản tài liệu, đồ vật có liên quan đến hành vi có dấu hiệu tội phạm và chuyển ngay tố giác, tin báo về tội phạm kèm theo tài liệu, đồ vật có liên quan cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền. Thời hạn kể từ khi tiếp nhận đến khi chuyển tố giác, tin báo về tội phạm kèm theo tài liệu, đồ vật có liên quan cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền không quá 07 ngày.

(iii) Trường hợp khẩn cấp, cấp bách, cần ngăn chặn ngay tội phạm hoặc cần tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám xét hoặc trưng cầu giám định ngay thì Công an cấp xã phải báo ngay đến Cơ quan điều tra có thẩm quyền bằng hình thức liên lạc nhanh nhất và thực hiện các biện pháp xử lý kịp thời.

2. Hạn chế trong quy định pháp luật về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm của lực lượng Công an cấp xã

Nhìn chung, với những quy định nêu trên, thì lực lượng Công an cấp xã đã được gia tăng thẩm quyền và có hành lang pháp lý cho việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ giữ vững trật tự, an toàn xã hội tại cơ sở, đáp ứng yêu cầu trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm. Tuy nhiên, thực tiễn thi hành quy định pháp luật tố tụng hình sự về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm của lực lượng Công an cấp xã vẫn còn một số vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện.

Thứ nhất, có hay không việc xác định thời điểm bắt đầu tính thời hạn giải quyết tố giác, tin báo tội phạm của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng khi lực lượng Công an cấp xã lập biên bản tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm?

Thời hạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm là một khoảng thời gian do luật định, được tính từ thời điểm tiếp nhận và kết thúc khi cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng ra quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự hoặc quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm.

Khi tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, cán bộ Công an cấp xã phải lập biên bản tiếp nhận theo mẫu số 01 ban hành theo Thông tư số 119/2021/TT-BCA ngày 08/12/2021 của Bộ trưởng Công an quy định biểu mẫu, giấy tờ, sổ sách về điều tra hình sự[2] (Thông tư số 119/2021/TT-BCA), có chữ ký hoặc điểm chỉ của người tố giác, báo tin và hướng dẫn họ viết đơn trình báo (có thể ghi âm, ghi hình có âm thanh việc tiếp nhận khi thấy cần thiết). Trường hợp người tố giác, báo tin từ chối cung cấp thông tin cá nhân thì vẫn phải tiến hành tiếp nhận theo trình tự, thủ tục và ghi rõ lý do từ chối vào biên bản[3]. Căn cứ vào hướng dẫn này, thì thời hạn giải quyết tin báo tố giác, tin báo về tội phạm sẽ được tính như thế nào theo quy định tại khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021). Vấn đề này còn có 02 quan điểm khác nhau:

Quan điểm thứ nhất: Công an cấp xã không có thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm mà chỉ tiến hành một số hoạt động xác minh ban đầu. Do đó, thời hạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm được tính từ ngày cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm. Quan điểm này xuất phát từ khoản 1 Điều 11 Thông tư liên tịch số 01/2021/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC quy định: “Thời hạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố không quá 20 ngày kể từ ngày cơ quan có thẩm quyền nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố…”.

Quan điểm thứ hai: Căn cứ vào trình tự, thủ tục được quy định tại Thông tư số 28/2020/TT-BCA ngày 26/3/2020 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định trình tự, thủ tục tiếp nhận, phân loại, xử lý, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố của lực lượng Công an nhân dân, Công an cấp xã phải lập biên bản tiếp nhận theo biểu mẫu số 01 ban hành kèm theo Thông tư số 119/2021/TT-BCA. Mặt khác, theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021), kể từ ngày 01/12/2021, Công an cấp xã đã chính thức được gia tăng thẩm quyền khi tiếp nhận, xử lý tố giác, tin báo về tội phạm, nên thời điểm tiếp nhận sẽ được tính từ khi Công an cấp xã lập biên bản tiếp nhận.

Thứ hai, về kiểm sát hoạt động tiếp nhận, phân loại và xử lý tố giác, tin báo về tội phạm của lực lượng Công an cấp xã.

Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 160 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021), Viện kiểm sát có nhiệm vụ “kiểm sát việc tiếp nhận, trực tiếp kiểm sát, kiểm sát việc kiểm tra, xác minh và việc lập hồ sơ giải quyết nguồn tin về tội phạm…”. Tuy nhiên, với quy định hiện hành, quá trình Công an cấp xã tiếp nhận, phân loại, xử lý tố giác, tin báo về tội phạm thì Viện kiểm sát có thực hiện kiểm sát hay không thì vẫn chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể. Có ý kiến cho rằng, không cần phải có hoạt động giám sát. Nhưng, cũng có ý kiến lại cho rằng, việc tiếp nhận tố giác, tin báo được tính từ khi tiếp nhận của lực lượng Công an cấp xã thì việc giám sát của Viện kiểm sát trong trường hợp này lại là rất cần thiết. Theo quan điểm của tác giả, đây chính là một trong những bất cập ảnh hưởng đến các quá trình tiến hành tố tụng tiếp theo của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

Thứ ba, lực lượng Công an cấp xã còn thiếu biên chế, cán bộ có đủ trình độ, năng lực trong việc tiếp nhận, phân loại và xử lý tố giác, tin báo về tội phạm.

Để tiếp nhận và giải quyết kịp thời nguồn tin về tội phạm lực lượng Công an cấp xã phải bố trí cán bộ trực ban theo quy định của Bộ Công an[4]. Cán bộ khi thực hiện nhiệm vụ trực ban hình sự phải có kỹ năng tiếp công dân, kỹ năng xử lý các tình huống, am hiểu các quy định của pháp luật, nhất là các quy định liên quan đến công tác tiếp nhận, phân loại, xử lý, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị phản ánh của công dân[5]. Khi tiếp nhận tố giác, tin báo phải được ghi vào sổ trực ban hình sự. Đồng thời, đối với những vụ việc đơn giản, pháp luật tố tụng hình sự còn cho phép lực lượng Công an cấp xã khi tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm được tiến hành một số hoạt động như: Lập biên bản tiếp nhận, lấy lời khai, vẽ sơ đồ nơi xảy ra vụ việc[6]… sau đó chuyển cho cơ quan có thẩm quyền. Về bản chất, đây là hoạt động tố tụng hình sự, liên quan đến thu thập tài liệu, chứng cứ. Như vậy, căn cứ vào các quy định này thì cán bộ làm công tác tiếp nhận, phân loại và xử lý tố giác, tin báo về tội phạm phải là Công an chính quy và đã qua bồi dưỡng nghiệp vụ điều tra hoặc đã từng công tác tại cơ quan điều tra mới có thể đáp ứng kịp thời nhiệm vụ này. Thời gian qua, mặc dù, Bộ Công an đã điều động lực lượng Công an chính quy về địa bàn cấp xã, nhưng nhìn chung vẫn còn thiếu, nên công tác phân loại và xử lý tố giác, tin báo về tội phạm còn có những hạn chế nhất định.

3. Một số đề xuất, kiến nghị

Một là, Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao cần thống nhất cách hiểu về cách tính thời hạn bắt đầu giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm là khi cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng nhận được tố giác, tin báo về tội phạm. Bởi vì, theo khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định: “Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải kiểm tra, xác minh và ra một trong các quyết định: Khởi tố vụ án hình sự, không khởi tố vụ án hình sự, đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố”. Do đó, nếu theo quan điểm thứ nhất cần có văn bản quy định cụ thể để giải thích: “Công an cấp xã không có thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo tội phạm. Do đó, thời hạn giải quyết tố giác, tin báo tội phạm được tính từ khi cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng tiếp nhận”. Tác giả hoàn toàn ủng hộ quan điểm này, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan có thẩm quyền tố tụng có đủ thời gian kiểm tra, đánh giá thông tin tài liệu do lực lượng Công an cấp xã cung cấp. Tại khoản 1 Điều 11 Thông tư liên tịch số 01/2017/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC, kiến nghị khởi tố, kiến nghị sửa đổi: “Thời hạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố không quá 20 ngày kể từ ngày cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố…”.

Hai là, để bảo đảm tố giác, tin báo của nhân dân được thực hiện nghiêm túc thì cũng rất cần có sự kiểm tra, giám sát của các cơ quan có thẩm quyền. Tác giả kiến nghị sửa đổi, bổ sung quy định tại khoản 2 Điều 160 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 theo hướng: “Viện kiểm sát sẽ kiểm sát việc tiếp nhận, phân loại, xử lý tin tố giác, tin báo về tội phạm của công an cấp xã”. Đồng thời, cần có hướng dẫn cụ thể “ngay sau khi tiếp nhận tin báo, tố giác về tội phạm, Công an cấp xã phải thông báo cho Viện kiểm sát cấp huyện trên địa bàn biết để phối hợp, kiểm sát”. Bổ sung này nhằm mục đích nâng cao hiệu quả công tác tiếp nhận, phân loại, xử lý tố giác, tin báo về tội phạm cũng như tăng cường trách nhiệm của Công an cấp xã.

Ba là, Bộ Công an tăng cường công tác điều động, luân chuyển cán bộ chính quy có trình độ chuyên môn cao đã làm công tác điều tra hoặc đã được bồi dưỡng nghiệp vụ điều tra về Công an cấp xã. Bên cạnh đó, các trường đại học, học viện trong lực lượng Công an nhân dân cần thường xuyên mở các lớp đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ điều tra cho lực lượng Công an cấp xã để nâng cao trình độ, chuyên môn trong công tác tiếp nhận, phân loại, xử lý tố giác, tin báo về tội phạm theo đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định.

PGS.TS. Nguyễn Thành Phúc
Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Cảnh sát nhân dân


[1]. Báo cáo số 1038/BC-BCA ngày 02/9/2021 của Bộ Công an về tổng kết thực tiễn thi hành trách nhiệm của Công an xã trong điều tra hình sự theo quy định Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015; thi hành Điều 148 và Điều 229 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 trong thời gian áp dụng Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 31/3/2020 của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện các biện pháp cấp bách phòng, chống dịch Covid-19 đến nay.

[2]. Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 22/01/2022 và thay thế Thông tư số 61/2017/TT-BCA ngày 14/12/2017 quy định biểu mẫu, giấy tờ, sổ sách về điều tra hình sự.

[3]. Khoản 1 Điều 5 Thông tư số 28/2020/TT-BCA ngày 26/3/2020 của Bộ Công an quy định trình tự, thủ tục tiếp nhận, phân loại, xử lý, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố của lực lượng Công an nhân dân.

[4]. Khoản 2 Điều 4 Thông tư số 28/2020/TT-BCA.

[5]. Khoản 3 Điều 4 Thông tư số 28/2020/TT-BCA.

[6]. Điều 1 Thông tư liên tịch số 01/2021/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: