Thứ hai 08/06/2026 18:12
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm của lực lượng công an cấp xã theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam và một số vấn đề cần hoàn thiện

Nhìn chung, với những quy định nêu trên, thì lực lượng Công an cấp xã đã được gia tăng thẩm quyền và có hành lang pháp lý cho việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ giữ vững trật tự, an toàn xã hội tại cơ sở, đáp ứng yêu cầu trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm. Tuy nhiên, thực tiễn thi hành quy định pháp luật tố tụng hình sự về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm của lực lượng Công an cấp xã vẫn còn một số vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện.

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu quy định của pháp luật tố tụng hình sự về tiếp nhận, phân loại và xử lý tố giác, tin báo về tội phạm của lực lượng Công an cấp xã, đánh giá hạn chế và đề xuất một số vấn đề cần hoàn thiện quy định này.

Abstract: The article studies the provisions of the criminal procedure law on receipt, classification and handling of denunciations and crime reports of the commune police force, assesses limitations and proposes some issues to be completed for improving this provision.

1. Quy định của pháp luật về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm của lực lượng Công an cấp xã

Tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm có ý nghĩa quan trọng trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm và là căn cứ để kịp thời xác định có hay không hành vi phạm tội. Qua hoạt động phân loại, kiểm tra, xác minh ban đầu, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng sẽ xem xét để quyết định khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự. Tuy nhiên, thời gian qua, việc tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm còn gặp nhiều khó khăn. Đặc biệt là trong thời gian thực hiện giãn cách xã hội, nhiều trường hợp khi tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã không kịp tiếp cận ngay hiện trường hoặc chưa kịp thời thu thập các thông tin tài liệu khi vụ việc vừa xảy ra. Vấn đề này ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình xác minh, thu thập chứng cứ để định hướng điều tra.

Theo báo cáo của lực lượng Công an nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương[1], kể từ khi thực hiện Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 31/3/2020 của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện các biện pháp cấp bách phòng, chống dịch Covid-19, đến tháng 10/2021, còn 171 tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố gần hết thời hạn kiểm tra, xác minh, còn 77 vụ án gần hết thời hạn điều tra, nhưng chưa có căn cứ để ban hành quyết định tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Đây chính là những trở ngại, hạn chế do khách quan đem lại và là những khó khăn, vướng mắc từ thực tiễn cần được xem xét, tháo gỡ để giải quyết, đáp ứng yêu cầu công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm. Chính vì vậy, tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XV, ngày 12/11/2021, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, trong đó có quy định về việc tăng nhiệm vụ, quyền hạn cho lực lượng Công an cấp xã trong việc tiếp nhận, phân loại, xử lý tố giác, tin báo về tội phạm. Khoản 1 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự đã sửa đổi khoản 3 Điều 146 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, theo đó, Công an xã, phường, thị trấn, Đồn Công an có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, lập biên bản tiếp nhận, tiến hành kiểm tra, xác minh sơ bộ và chuyển ngay tố giác, tin báo về tội phạm kèm theo tài liệu, đồ vật có liên quan cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền. Để kịp thời cụ thể hóa quy định này, ngày 29/11/2021, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã ban hành Thông tư liên tịch số 01/2021/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư liên tịch số 01/2017/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNNPTNT-VKSNDTC quy định việc phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền trong việc thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố (Thông tư liên tịch số 01/2021/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC). Khi tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm thì Công an xã thực hiện các công việc như sau:

(i) Đối với tố giác, tin báo về hành vi phạm tội quả tang; tố giác, tin báo về hành vi phạm tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng hoặc được dư luận xã hội quan tâm; tố giác, tin báo về tội phạm đã rõ người thực hiện hành vi phạm tội hoặc rõ người bị tố giác mà có căn cứ cho rằng người đó có thể bỏ trốn, có căn cứ và cần thiết phải áp dụng các biện pháp ngăn chặn thì Công an cấp xã lập biên bản tiếp nhận, báo ngay bằng các hình thức liên lạc nhanh nhất cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền; tổ chức ngay lực lượng đến bảo vệ hiện trường, lấy lời khai người tố giác, báo tin về tội phạm, người bị tố giác, người bị hại, người làm chứng hoặc những người có liên quan; xác minh, làm rõ nhân thân, lai lịch của người bị tố giác, bị hại và những người có liên quan; phát hiện, tạm giữ, bảo quản tài liệu, đồ vật có liên quan đến hành vi có dấu hiệu tội phạm và chuyển tố giác, tin báo về tội phạm kèm theo tài liệu, đồ vật có liên quan cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền trong thời hạn không quá 24 giờ kể từ khi tiếp nhận; đối với các xã ở vùng rừng núi xa xôi, hẻo lánh điều kiện đi lại khó khăn thì thời hạn chuyển tố giác, tin báo về tội phạm không quá 48 giờ kể từ khi tiếp nhận.

(ii) Đối với tố giác, tin báo về tội phạm không thuộc trường hợp quy định nêu trên, Công an cấp xã lập biên bản tiếp nhận, lấy lời khai của người tố giác, báo tin về tội phạm, lấy lời khai người bị tố giác, người bị hại, người làm chứng và những người có liên quan; có mặt kiểm tra, xác định nơi xảy ra vụ việc, vẽ sơ đồ nơi xảy ra vụ việc, bảo vệ hiện trường; xác minh, làm rõ nhân thân, lai lịch của người bị tố giác, bị hại và những người có liên quan; xác minh sơ bộ thông tin về hậu quả thiệt hại; phát hiện, tạm giữ, bảo quản tài liệu, đồ vật có liên quan đến hành vi có dấu hiệu tội phạm và chuyển ngay tố giác, tin báo về tội phạm kèm theo tài liệu, đồ vật có liên quan cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền. Thời hạn kể từ khi tiếp nhận đến khi chuyển tố giác, tin báo về tội phạm kèm theo tài liệu, đồ vật có liên quan cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền không quá 07 ngày.

(iii) Trường hợp khẩn cấp, cấp bách, cần ngăn chặn ngay tội phạm hoặc cần tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám xét hoặc trưng cầu giám định ngay thì Công an cấp xã phải báo ngay đến Cơ quan điều tra có thẩm quyền bằng hình thức liên lạc nhanh nhất và thực hiện các biện pháp xử lý kịp thời.

2. Hạn chế trong quy định pháp luật về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm của lực lượng Công an cấp xã

Nhìn chung, với những quy định nêu trên, thì lực lượng Công an cấp xã đã được gia tăng thẩm quyền và có hành lang pháp lý cho việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ giữ vững trật tự, an toàn xã hội tại cơ sở, đáp ứng yêu cầu trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm. Tuy nhiên, thực tiễn thi hành quy định pháp luật tố tụng hình sự về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm của lực lượng Công an cấp xã vẫn còn một số vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện.

Thứ nhất, có hay không việc xác định thời điểm bắt đầu tính thời hạn giải quyết tố giác, tin báo tội phạm của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng khi lực lượng Công an cấp xã lập biên bản tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm?

Thời hạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm là một khoảng thời gian do luật định, được tính từ thời điểm tiếp nhận và kết thúc khi cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng ra quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự hoặc quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm.

Khi tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, cán bộ Công an cấp xã phải lập biên bản tiếp nhận theo mẫu số 01 ban hành theo Thông tư số 119/2021/TT-BCA ngày 08/12/2021 của Bộ trưởng Công an quy định biểu mẫu, giấy tờ, sổ sách về điều tra hình sự[2] (Thông tư số 119/2021/TT-BCA), có chữ ký hoặc điểm chỉ của người tố giác, báo tin và hướng dẫn họ viết đơn trình báo (có thể ghi âm, ghi hình có âm thanh việc tiếp nhận khi thấy cần thiết). Trường hợp người tố giác, báo tin từ chối cung cấp thông tin cá nhân thì vẫn phải tiến hành tiếp nhận theo trình tự, thủ tục và ghi rõ lý do từ chối vào biên bản[3]. Căn cứ vào hướng dẫn này, thì thời hạn giải quyết tin báo tố giác, tin báo về tội phạm sẽ được tính như thế nào theo quy định tại khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021). Vấn đề này còn có 02 quan điểm khác nhau:

Quan điểm thứ nhất: Công an cấp xã không có thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm mà chỉ tiến hành một số hoạt động xác minh ban đầu. Do đó, thời hạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm được tính từ ngày cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm. Quan điểm này xuất phát từ khoản 1 Điều 11 Thông tư liên tịch số 01/2021/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC quy định: “Thời hạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố không quá 20 ngày kể từ ngày cơ quan có thẩm quyền nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố…”.

Quan điểm thứ hai: Căn cứ vào trình tự, thủ tục được quy định tại Thông tư số 28/2020/TT-BCA ngày 26/3/2020 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định trình tự, thủ tục tiếp nhận, phân loại, xử lý, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố của lực lượng Công an nhân dân, Công an cấp xã phải lập biên bản tiếp nhận theo biểu mẫu số 01 ban hành kèm theo Thông tư số 119/2021/TT-BCA. Mặt khác, theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021), kể từ ngày 01/12/2021, Công an cấp xã đã chính thức được gia tăng thẩm quyền khi tiếp nhận, xử lý tố giác, tin báo về tội phạm, nên thời điểm tiếp nhận sẽ được tính từ khi Công an cấp xã lập biên bản tiếp nhận.

Thứ hai, về kiểm sát hoạt động tiếp nhận, phân loại và xử lý tố giác, tin báo về tội phạm của lực lượng Công an cấp xã.

Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 160 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021), Viện kiểm sát có nhiệm vụ “kiểm sát việc tiếp nhận, trực tiếp kiểm sát, kiểm sát việc kiểm tra, xác minh và việc lập hồ sơ giải quyết nguồn tin về tội phạm…”. Tuy nhiên, với quy định hiện hành, quá trình Công an cấp xã tiếp nhận, phân loại, xử lý tố giác, tin báo về tội phạm thì Viện kiểm sát có thực hiện kiểm sát hay không thì vẫn chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể. Có ý kiến cho rằng, không cần phải có hoạt động giám sát. Nhưng, cũng có ý kiến lại cho rằng, việc tiếp nhận tố giác, tin báo được tính từ khi tiếp nhận của lực lượng Công an cấp xã thì việc giám sát của Viện kiểm sát trong trường hợp này lại là rất cần thiết. Theo quan điểm của tác giả, đây chính là một trong những bất cập ảnh hưởng đến các quá trình tiến hành tố tụng tiếp theo của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

Thứ ba, lực lượng Công an cấp xã còn thiếu biên chế, cán bộ có đủ trình độ, năng lực trong việc tiếp nhận, phân loại và xử lý tố giác, tin báo về tội phạm.

Để tiếp nhận và giải quyết kịp thời nguồn tin về tội phạm lực lượng Công an cấp xã phải bố trí cán bộ trực ban theo quy định của Bộ Công an[4]. Cán bộ khi thực hiện nhiệm vụ trực ban hình sự phải có kỹ năng tiếp công dân, kỹ năng xử lý các tình huống, am hiểu các quy định của pháp luật, nhất là các quy định liên quan đến công tác tiếp nhận, phân loại, xử lý, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị phản ánh của công dân[5]. Khi tiếp nhận tố giác, tin báo phải được ghi vào sổ trực ban hình sự. Đồng thời, đối với những vụ việc đơn giản, pháp luật tố tụng hình sự còn cho phép lực lượng Công an cấp xã khi tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm được tiến hành một số hoạt động như: Lập biên bản tiếp nhận, lấy lời khai, vẽ sơ đồ nơi xảy ra vụ việc[6]… sau đó chuyển cho cơ quan có thẩm quyền. Về bản chất, đây là hoạt động tố tụng hình sự, liên quan đến thu thập tài liệu, chứng cứ. Như vậy, căn cứ vào các quy định này thì cán bộ làm công tác tiếp nhận, phân loại và xử lý tố giác, tin báo về tội phạm phải là Công an chính quy và đã qua bồi dưỡng nghiệp vụ điều tra hoặc đã từng công tác tại cơ quan điều tra mới có thể đáp ứng kịp thời nhiệm vụ này. Thời gian qua, mặc dù, Bộ Công an đã điều động lực lượng Công an chính quy về địa bàn cấp xã, nhưng nhìn chung vẫn còn thiếu, nên công tác phân loại và xử lý tố giác, tin báo về tội phạm còn có những hạn chế nhất định.

3. Một số đề xuất, kiến nghị

Một là, Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao cần thống nhất cách hiểu về cách tính thời hạn bắt đầu giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm là khi cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng nhận được tố giác, tin báo về tội phạm. Bởi vì, theo khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định: “Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải kiểm tra, xác minh và ra một trong các quyết định: Khởi tố vụ án hình sự, không khởi tố vụ án hình sự, đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố”. Do đó, nếu theo quan điểm thứ nhất cần có văn bản quy định cụ thể để giải thích: “Công an cấp xã không có thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo tội phạm. Do đó, thời hạn giải quyết tố giác, tin báo tội phạm được tính từ khi cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng tiếp nhận”. Tác giả hoàn toàn ủng hộ quan điểm này, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan có thẩm quyền tố tụng có đủ thời gian kiểm tra, đánh giá thông tin tài liệu do lực lượng Công an cấp xã cung cấp. Tại khoản 1 Điều 11 Thông tư liên tịch số 01/2017/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC, kiến nghị khởi tố, kiến nghị sửa đổi: “Thời hạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố không quá 20 ngày kể từ ngày cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố…”.

Hai là, để bảo đảm tố giác, tin báo của nhân dân được thực hiện nghiêm túc thì cũng rất cần có sự kiểm tra, giám sát của các cơ quan có thẩm quyền. Tác giả kiến nghị sửa đổi, bổ sung quy định tại khoản 2 Điều 160 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 theo hướng: “Viện kiểm sát sẽ kiểm sát việc tiếp nhận, phân loại, xử lý tin tố giác, tin báo về tội phạm của công an cấp xã”. Đồng thời, cần có hướng dẫn cụ thể “ngay sau khi tiếp nhận tin báo, tố giác về tội phạm, Công an cấp xã phải thông báo cho Viện kiểm sát cấp huyện trên địa bàn biết để phối hợp, kiểm sát”. Bổ sung này nhằm mục đích nâng cao hiệu quả công tác tiếp nhận, phân loại, xử lý tố giác, tin báo về tội phạm cũng như tăng cường trách nhiệm của Công an cấp xã.

Ba là, Bộ Công an tăng cường công tác điều động, luân chuyển cán bộ chính quy có trình độ chuyên môn cao đã làm công tác điều tra hoặc đã được bồi dưỡng nghiệp vụ điều tra về Công an cấp xã. Bên cạnh đó, các trường đại học, học viện trong lực lượng Công an nhân dân cần thường xuyên mở các lớp đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ điều tra cho lực lượng Công an cấp xã để nâng cao trình độ, chuyên môn trong công tác tiếp nhận, phân loại, xử lý tố giác, tin báo về tội phạm theo đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định.

PGS.TS. Nguyễn Thành Phúc
Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Cảnh sát nhân dân


[1]. Báo cáo số 1038/BC-BCA ngày 02/9/2021 của Bộ Công an về tổng kết thực tiễn thi hành trách nhiệm của Công an xã trong điều tra hình sự theo quy định Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015; thi hành Điều 148 và Điều 229 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 trong thời gian áp dụng Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 31/3/2020 của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện các biện pháp cấp bách phòng, chống dịch Covid-19 đến nay.

[2]. Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 22/01/2022 và thay thế Thông tư số 61/2017/TT-BCA ngày 14/12/2017 quy định biểu mẫu, giấy tờ, sổ sách về điều tra hình sự.

[3]. Khoản 1 Điều 5 Thông tư số 28/2020/TT-BCA ngày 26/3/2020 của Bộ Công an quy định trình tự, thủ tục tiếp nhận, phân loại, xử lý, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố của lực lượng Công an nhân dân.

[4]. Khoản 2 Điều 4 Thông tư số 28/2020/TT-BCA.

[5]. Khoản 3 Điều 4 Thông tư số 28/2020/TT-BCA.

[6]. Điều 1 Thông tư liên tịch số 01/2021/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 thay thế Pháp lệnh Dân số số 06/2004/PL-UBTVQH11 (đã được sửa đổi, bổ sung theo Pháp lệnh số 07/2025/UBTVQH15). Một trong những thay đổi căn bản của Luật Dân số năm 2025 là chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển. Những nội dung liên quan đến dân số và phát triển đã được thể hiện trong việc hướng tới giải quyết đồng bộ các vấn đề về quy mô dân số, cơ cấu dân số, thích ứng với già hóa dân số, nâng cao chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của từng địa phương, góp phần bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước.
Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.

Theo dõi chúng tôi trên: