Thứ tư 04/03/2026 22:44
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền dân chủ của con người trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay

Quyền con người, đặc biệt là quyền dân chủ luôn được pháp luật bảo vệ tôn trọng ở mọi lúc, mọi nơi, đó là quyền thiêng liêng cao quý nhất. Bài viết làm rõ vai trò của việc hoàn thiện pháp luật về quyền con người, chỉ rõ những kết quả đạt được và chưa đạt được của việc thực thi pháp luật về quyền dân chủ của con người trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, từ đó đề xuất một số nội dung, biện pháp tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền con người trong thời gian tiếp tới được tốt hơn.


1. Vai trò của pháp luật về bảo đảm quyền dân chủ của con người trong bối cảnh hội nhập quốc tế

Trong tác phẩm “Luận cương về Phoi ơ bắc” C.Mác đã khẳng định: “Bản chất con người không phải là cái gì cố hữu trừu tượng khó hiểu, trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà những mối quan hệ xã hội”[1]. Luận điểm trên đã nói lên rằng, trong cuộc sống, cũng như trong công việc của mỗi con người cần đặt trong mối quan hệ với cộng đồng xã hội, đó là sự giao lưu, hợp tác, mở rộng, có như vậy, con người mới tồn tại, phát triển được. Ngay từ khi con người sinh ra đã được hưởng những quyền có tính “bẩm sinh” vốn có của mình, được sống, được chăm sóc, được mưu cầu hạnh phúc, nhưng quyền đó sẽ không thể tồn tại được nếu như không có pháp luật bảo vệ. Vì vậy, pháp luật có vai trò rất quan trọng trong việc bảo đảm quyền cho con người, nhất là quyền dân chủ khi con người đến tuổi trưởng thành, tham gia vào các hoạt động xã hội khác nhau, được biểu hiện cụ thể ở việc thừa nhận, củng cố và từng bước hoàn thiện quyền con người. Để bảo đảm quyền cho con người, pháp luật đưa ra hệ thống những quy tắc, quy định, điều cấm để điều chỉnh hành vi của con người, yêu cầu con người phải thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.

Quyền của con người, nhất là quyền về dân chủ được pháp luật thừa nhận là thiêng liêng, cao quý không một ai có thể xâm phạm một cách tuỳ tiện và được pháp luật bảo vệ thông qua các biện pháp giáo dục, thuyết phục và cưỡng chế, xử lý theo đúng quy định của pháp luật Việt Nam. Đó là quyền mang tính tối thượng, ổn định, khó có thể thay đổi trong một khoảng thời gian nhất định. Tại Điều 50 của Hiến pháp năm 1992 khẳng định: Quyền con người được quy định trong Hiến pháp và luật - là những văn bản có giá trị pháp lý cao nhất, nó buộc mọi người phải tôn trọng, phục tùng. Điều 20 của Hiến pháp năm 2013 cũng nhấn mạnh: Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm. Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Toà án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Nhờ đó, quyền của con người đã trở thành giá trị chung của nhân loại, được mọi người tôn trọng và bảo vệ, từ chỗ quyền con người chỉ là những ý tưởng, ý niệm trong tiềm thức dần trở thành hệ thống những quan điểm, tư tưởng, học thuyết, bộ luật được cả cộng đồng quốc tế, không phân biệt màu da, vùng lãnh thổ, địa vị sang hèn. “Chỉ có thông qua pháp luật quyền con người mới trở thành ý chí và mục tiêu hành động chung của toàn xã hội, có tính bắt buộc chung với toàn xã hội”[2]. Nước ta đang hướng đến mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, vì vậy, việc bảo đảm quyền con người bằng pháp luật sẽ cho phép khai thác tốt nguồn lực con người để đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, mở cửa, hội nhập quốc tế, đưa nước ta có vị thế, uy tín ngày càng cao trên trường quốc tế.

2. Thực trạng hoàn thiện pháp luật về bảo đảm quyền dân chủ của con người trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay

Trong thời gian vừa qua, đặc biệt sau gần 35 năm đổi mới đất nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nền kinh tế - xã hội của nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trên tất cả các mặt, các lĩnh vực. Đảng, Nhà nước và các cơ quan, ban, ngành liên quan đã có nhiều cơ chế, chính sách để động viên, khuyến khích con người làm giàu chính đáng, đặc biệt là hệ thống luật pháp ở Việt Nam từng bước được hoàn thiện để bảo đảm quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của con người với từng hoạt động, lĩnh vực mà mình tham gia. Tính từ năm 1986 đến nay, hàng chục nghìn văn bản luật và dưới luật được ban hành, trong đó có những đạo luật trực tiếp liên quan tới lĩnh vực quyền con người như: Bộ luật Dân sự, Bộ luật Tố tụng dân sự, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Báo chí, Luật Xuất bản, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo, Luật Tiếp công dân, Luật Tiếp cận thông tin, Luật Đặc xá, Luật Trẻ em, Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, Luật Giáo dục, Luật Bảo hiểm xã hội… Sau khi Hiến pháp năm 2013 được thông qua, hệ thống pháp luật về quyền con người đã được đẩy mạnh với hơn 100 luật, bộ luật được ban hành mới, điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp với tình hình thực tiễn của đất nước, yêu cầu, nhiệm vụ của xu thế mở cửa, hội nhập quốc tế hiện nay. Gần đây nhất, ngày 20/11/2019, Quốc Hội đã thông qua Bộ luật Lao động (sửa đổi) với nhiều quy định mới bảo đảm quyền lợi, nghĩa vụ cho người lao động, như tăng tuổi nghỉ hưu cho người lao động, ngày Quốc khánh được nghỉ hai ngày, không còn hợp đồng lao động theo thời vụ… Theo Báo cáo của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) năm 2018, Việt Nam thuộc nhóm trung bình cao về chỉ số phát triển con người (thứ 116/189 quốc gia) và chỉ số bình đẳng giới (đứng thứ 67/160 quốc gia). Theo một báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB), tỷ lệ đói nghèo ở Việt Nam tiếp tục giảm, đặc biệt là trong các dân tộc thiểu số. Nhà nước ta có rất nhiều biện pháp cụ thể để bảo đảm quyền của người dân trong các lĩnh vực dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội. Người dân tham gia trực tiếp và thụ hưởng quyền qua các hình thức như: Tham gia qua Quốc hội, qua các đoàn thể chính trị - xã hội, các phương tiện thông tin đại chúng. Ví dụ quyền dân sự, quyền được tiếp cận thông tin, chúng ta cũng thấy rằng, ngày nay với điều kiện kinh tế phát triển hơn thì khả năng người dân tiếp cận thông tin tăng lên rất nhiều. Quốc hội cũng đổi mới phương thức hoạt động để làm sao phản ánh đầy đủ tiếng nói của người dân, thực hiện tốt hơn vai trò pháp luật, pháp luật có hiệu quả hơn, thực hiện chức năng giám sát.

Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được thì việc hoàn thiện pháp luật về quyền dân chủ của con người vẫn còn một số hạn chế đó là: Nhận thức, ý thức của người dân về quyền công dân chưa thực sự đầy đủ; một số tổ chức, cá nhân lợi dụng quyền tự do, dân chủ của con người để chống phá cách mạng Việt Nam, xuyên tạc, phủ nhận thành tựu về thực hành quyền dân chủ của Đảng, Nhà nước ta trong suốt thời gian qua; một số điều luật chưa thực sự mang tính giáo dục, răn đe cao đối với một số loại tội phạm trong xã hội, như hành hung phụ nữ, con cái ngược đãi với cha mẹ… Trong bối cảnh hội nhập, mở cửa quốc tế hiện nay, sự hiểu biết về pháp luật của con người được coi là nhân tố quan trọng quyết định đến sự thành công trong công việc, cũng như cuộc sống; nhất là trước tác động của Cuộc cách mạng Công nghiệp 4.0 phát triển, nhiều luật mới ra đời, có nhiều người chưa nắm được, hoặc nắm không chắc, dẫn đến quá trình tổ chức thực hiện còn lúng túng, vi phạm mà không biết… vì vậy, việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền dân chủ con người trong bối cảnh hội nhập quốc tế đặt ra rất cấp bách vừa mang tính cụ thể trước mắt, vừa mang tính chiến lược cơ bản lâu dài.

3. Một số biện pháp tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền dân chủ của con người trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay

Một là, nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho các cơ quan, ban, ngành và đội ngũ cán bộ làm công tác soạn thảo, ban hành pháp luật

Đây là biện pháp rất quan trọng, tưởng như đơn gian nhưng lại có vai trò vô cùng quan trọng đối với quá trình hoàn thiện pháp luật về quyền của con người. Đây chính là lực lượng tham mưu, đề xuất, soạn thảo, thông qua và ban hành pháp luật về quyền của con người. Nếu đội ngũ cán bộ làm công tác về pháp luật có trình độ, hiểu biết, cọ sát với hoạt động thực tiễn, nắm bắt được xu thế phát triển của thời đại đặt ra thì việc soạn thảo, ban hành pháp luật về quyền của con người được thể hiện đầy đủ sâu sắc trên các mặt, các lĩnh vực. Ngược lại, nếu đội ngũ cán bộ làm công tác về pháp luật không nắm được những đòi hỏi của thực tiễn đặt ra thì việc tham mưu, đề xuất sẽ không đúng, trúng, gây ra những tranh cãi, tạo kẽ hỡ cho kẻ xấu lợi dụng để trục lợi cá nhân, vi phạm pháp luật. Theo đó, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của người làm công tác soạn thảo, ban hành pháp luật liên quan đến quyền con người cần lựa chọn những người đúng chuyên môn về pháp luật, có phẩm chất đạo đức, lối sống trong sạch, lành mạnh, vì sự ổn định, phát triển của đất nước, thực sự tôn trọng quyền của con người; biết lắng nghe, tôn trọng ý kiến đóng góp của các nhà khoa học, các luật sư, các tầng lớp nhân dân; nắm bắt được xu thế vận động, biến đổi, phát triển của xã hội, đưa ra những tình huống, dự báo sát với đặc điểm, tình hình của từng ngành, lĩnh vực, từng đối tượng khác nhau; tăng cường công tác phối kết hợp giữa các bộ phận, lực lượng liên quan để thảo luận, phân tích từ nhiều khía cạnh, góc độ khác nhau, bảo đảm cho quá trình thực thi pháp luật về quyền con người được phát huy một cách tốt nhất.

Hai là, thường xuyên tiến hành rà soát, bổ sung, điều chỉnh những đạo luật hiện hành để khắc phục hạn chế về mặt pháp lý

Một đạo luật đưa ra ngay từ đầu chưa phải đã hoàn chỉnh, trải qua thời gian cọ sát với hoạt động thực tiễn, từ đó nảy sinh những vấn đề cần phải điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra. Xã hội ngày càng phát triển, đặc biệt là những ảnh hưởng từ bên ngoài đến đời sống của các tầng lớp nhân dân, xuất hiện nhiều tình huống, sự việc mới nảy sinh, trong khi đó một số đạo luật đã không còn phù hợp nữa, cần phải có sự điều chỉnh, thậm trí là phải thay đổi để điều chỉnh thái độ, hành vi, ứng xử của con người. Theo đó, đội ngũ những người làm công tác soạn thảo, xây dựng pháp luật cần nghiên cứu, xem xét thật kỹ lưỡng từng luật, từng mục, chương, điều xem có còn phù hợp không, nếu phù hợp thì bổ sung thêm những yếu tố gì, nếu chưa phù hợp, hoặc không phù hợp nữa đề nghị bãi bỏ, ban hành luật mới; việc rà soát, bổ sung, điều chỉnh những đạo luật hiện hành nhằm mục đích phục vụ tối thượng quyền của con người, nhất là quyền về dân chủ, do đó, phải bảo đảm tính chính xác trong câu chữ, dễ hiểu, dễ nhớ; căn cứ vào từng đối tượng cụ thể, tính chất, mức độ của từng ngành, lĩnh vực hoạt động có thể bổ sung, điều chỉnh hoặc giữ nguyên những nội dung, đạo luật gốc ban đầu; phải nghiên cứu, cân nhắc, thảo luận thật kỹ và thận trọng trong quá trình sửa đổi, bổ sung, điều chỉnh, ban hành, trên cơ sở, nguyên tắc truyền thống, đạo lý của dân tộc, có những việc pháp luật không cấm nhưng đạo lý, truyền thống của dân tộc không cho phép, thì pháp luật cũng phải căn cứ vào đó để soạn thảo, ban hành, điều chỉnh. Pháp luật được xây dựng, soạn thảo, ban hành cũng phải trên cơ sở truyền thống, đạo lý của dân tộc, chứ không phải theo ý muốn chủ quan của mình, đưa ra những luật, quy định trái với đạo lý, truyền thống dân tộc. Bất kỳ luật nào đưa ra phải nhận được sự đồng tình, ủng hộ của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, đem lại sự ổn định, phát triển cho đất nước, đó mới là thành công cho những người soạn thảo, ban hành pháp luật.

Ba là, tăng cường các biện pháp giáo dục trong mỗi người dân, cán bộ công chức trong hệ thống chính trị về quyền con người

Để hệ thống pháp luật đi vào thực tiễn cuộc sống, được mọi người đón nhận, trở thành thói quen sinh hoạt trong đời sống của con người thì công tác tuyên truyền, giáo dục cần đặc biệt quan tâm. Nếu không làm tốt việc tuyên truyền, giáo dục những luật mới được ban hành thì các tầng lớp nhân dân sẽ không biết được điều luật nào là vừa mới điểu chỉnh, bổ sung, điều luật nào vẫn giữ nguyên nội dung, điều luật nào là mới hoàn toàn và những nội dung cụ thể của từng điều luật quy định như thế nào. Khi các tầng lớp nhân dân không biết thì dẫn đến những vi phạm trái pháp luật, hạn chế phát huy được quyền con người trong tham gia vào các hoạt động kinh tế, xã hội khác nhau. Theo đó, đội ngũ cán bộ cấp cơ sở phải tăng cường các biện pháp giáo dục trong mỗi người dân, cán bộ, công chức trong toàn hệ thống chính trị về quyền con người, đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số ít người cần phải tuyên truyền sâu rộng hơn; đa dạng hoá các nội dung, hình thức, biện pháp giáo dục pháp luật về quyền con người, quyền công dân đến các đối tượng trong xã hội, như: Sân khấu hoá, kịch hoá, biểu diễn văn hoá nghệ thuật, truyền thanh ở từng địa phương, cuộc thi tìm hiểu về pháp luật, phát động những phong trào thi đua…; nhân rộng điển hình tiên tiến đối với những tập thể, cá nhân làm tốt việc giáo dục pháp luật đến nhân dân, cán bộ công chức trong toàn hệ thống chính trị xã hội… trong quá trình tuyên truyền, giáo dục phải kiên trì, làm thường xuyên, liên tục như cơm ăn, nước uống hàng ngày, không thể một lúc, thời điểm tiến hành ngay, xong tất cả các điều luật được; vận dụng linh hoạt, sáng tạo các hình thức, biện pháp giáo dục pháp luật cho các đối tượng trong xã hội, phù hợp với đặc điểm, yêu cầu, nhiệm vụ ở mỗi cơ quan, đơn vị, địa phương đặt ra.

Bốn là, tiếp tục đẩy mạnh hoạt động đối ngoại, hợp tác quốc tế, sự tham gia của Việt Nam vào các thể chế quốc tế về quyền con người

Thông qua hoạt động đối ngoại, hợp tác quốc tế mà Việt Nam chúng ta có thể học hỏi được kinh nghiệm xây dựng, soạn thảo, ban hành luật về quyền con người của nhiều quốc gia. Các nước phương Tây kinh nghiệm ban hành các điều luật về quyền con người hơn ta rất nhiều, vì vậy, thông qua các chương trình, hội thảo, gặp gỡ, trao đổi giữa đại diện các cơ quan, ban, ngành mà tăng lên tính chính xác, hiệu quả của mỗi một đạo luật về quyền con người khi được ban hành. Hoạt động đối thoại, hợp tác về quyền con người đã được thể hiện thông qua các diễn đàn quốc tế, các hội nghị, hội thảo; qua đó chúng ta đã tuyên truyền về thành tựu bảo đảm quyền con người của Việt Nam, đặc biệt là trong các lĩnh vực dân tộc, tôn giáo nhằm bảo vệ các quan điểm, giá trị về nhân quyền của Đảng và Nhà nước ta; tăng cường sự hiểu biết, khắc phục và thu hẹp những vấn đề còn khác biệt, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của các nước, các tổ chức quốc tế, nhân dân thế giới và cộng đồng người Việt định cư ở nước ngoài trên cơ sở đảm bảo tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng, không can thiệp và công việc nội bộ của nhau, kiên quyết phê phán, vạch trần những luận điệu sai trái, vu cáo, xuyên tạc về tình hình nhân quyền ở nước ta; chủ động hơn về chiến lược trong quá trình tham gia vào một số cơ chế, thủ tục nhân quyền của Liên Hợp Quốc, khu vực Đông Nam Á (ASEAN), đối thoại về quyền con người, phát triển các hình thức hợp tác quốc tế đa dạng về giáo dục nhân quyền.

Quyền con người là thiêng liêng cao quý bất khả xâm phạm, có từ lâu trong lịch sử, dù ở chỗ này hay chỗ khác, quốc gia này hay quốc gia khác quyền con người có lúc bị chà đạp nhưng xu hướng chung vẫn là bảo vệ quyền con quyền, lên án những hành động xâm phạm đến quyền của con người. Trải qua những giai đoạn phát triển khác nhau của lịch sử, quyền con người ngày càng được hoàn thiện, bảo đảm về mặt luật pháp. Đối với nước ta, quyền con người được đặt ở vị trí trung tâm của lịch sử, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Đảng, Nhà nước ta không ngừng hoàn thiện pháp luật về quyền con người, bảo đảm cho con người phát triển toàn diện về mọi mặt, phục vụ hữu ích cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, thực hiện khát vọng dân tộc hùng cường, hạnh phúc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

ThS. Nguyễn Tú Anh

Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng


[1] C. Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995,t.3, tr.11.

[2] Nguyễn Văn mạnh (2000), Quyền chính trị của phụ nữ trong công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữa và trong pháp luật Việt Nam, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, tháng 3/2000.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.
Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Tóm tắt: Thông báo thi hành án là thủ tục không thể thiếu trong từng giai đoạn của quá trình tổ chức thi hành án dân sự. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về thông báo thi hành án còn tồn tại một số bất cập, hạn chế như chưa tương xứng giữa quyền với nghĩa vụ của đương sự, giữa trách nhiệm với quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và chủ yếu được thực hiện theo hình thức thông báo trực tiếp… Bài viết phân tích pháp luật thực định và thực tiễn thi hành, từ đó, đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến thông báo thi hành án để phù hợp thực tiễn, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: