Thứ ba 26/05/2026 05:57
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền dân chủ của con người trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay

Quyền con người, đặc biệt là quyền dân chủ luôn được pháp luật bảo vệ tôn trọng ở mọi lúc, mọi nơi, đó là quyền thiêng liêng cao quý nhất. Bài viết làm rõ vai trò của việc hoàn thiện pháp luật về quyền con người, chỉ rõ những kết quả đạt được và chưa đạt được của việc thực thi pháp luật về quyền dân chủ của con người trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, từ đó đề xuất một số nội dung, biện pháp tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền con người trong thời gian tiếp tới được tốt hơn.


1. Vai trò của pháp luật về bảo đảm quyền dân chủ của con người trong bối cảnh hội nhập quốc tế

Trong tác phẩm “Luận cương về Phoi ơ bắc” C.Mác đã khẳng định: “Bản chất con người không phải là cái gì cố hữu trừu tượng khó hiểu, trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà những mối quan hệ xã hội”[1]. Luận điểm trên đã nói lên rằng, trong cuộc sống, cũng như trong công việc của mỗi con người cần đặt trong mối quan hệ với cộng đồng xã hội, đó là sự giao lưu, hợp tác, mở rộng, có như vậy, con người mới tồn tại, phát triển được. Ngay từ khi con người sinh ra đã được hưởng những quyền có tính “bẩm sinh” vốn có của mình, được sống, được chăm sóc, được mưu cầu hạnh phúc, nhưng quyền đó sẽ không thể tồn tại được nếu như không có pháp luật bảo vệ. Vì vậy, pháp luật có vai trò rất quan trọng trong việc bảo đảm quyền cho con người, nhất là quyền dân chủ khi con người đến tuổi trưởng thành, tham gia vào các hoạt động xã hội khác nhau, được biểu hiện cụ thể ở việc thừa nhận, củng cố và từng bước hoàn thiện quyền con người. Để bảo đảm quyền cho con người, pháp luật đưa ra hệ thống những quy tắc, quy định, điều cấm để điều chỉnh hành vi của con người, yêu cầu con người phải thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.

Quyền của con người, nhất là quyền về dân chủ được pháp luật thừa nhận là thiêng liêng, cao quý không một ai có thể xâm phạm một cách tuỳ tiện và được pháp luật bảo vệ thông qua các biện pháp giáo dục, thuyết phục và cưỡng chế, xử lý theo đúng quy định của pháp luật Việt Nam. Đó là quyền mang tính tối thượng, ổn định, khó có thể thay đổi trong một khoảng thời gian nhất định. Tại Điều 50 của Hiến pháp năm 1992 khẳng định: Quyền con người được quy định trong Hiến pháp và luật - là những văn bản có giá trị pháp lý cao nhất, nó buộc mọi người phải tôn trọng, phục tùng. Điều 20 của Hiến pháp năm 2013 cũng nhấn mạnh: Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm. Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Toà án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Nhờ đó, quyền của con người đã trở thành giá trị chung của nhân loại, được mọi người tôn trọng và bảo vệ, từ chỗ quyền con người chỉ là những ý tưởng, ý niệm trong tiềm thức dần trở thành hệ thống những quan điểm, tư tưởng, học thuyết, bộ luật được cả cộng đồng quốc tế, không phân biệt màu da, vùng lãnh thổ, địa vị sang hèn. “Chỉ có thông qua pháp luật quyền con người mới trở thành ý chí và mục tiêu hành động chung của toàn xã hội, có tính bắt buộc chung với toàn xã hội”[2]. Nước ta đang hướng đến mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, vì vậy, việc bảo đảm quyền con người bằng pháp luật sẽ cho phép khai thác tốt nguồn lực con người để đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, mở cửa, hội nhập quốc tế, đưa nước ta có vị thế, uy tín ngày càng cao trên trường quốc tế.

2. Thực trạng hoàn thiện pháp luật về bảo đảm quyền dân chủ của con người trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay

Trong thời gian vừa qua, đặc biệt sau gần 35 năm đổi mới đất nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nền kinh tế - xã hội của nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trên tất cả các mặt, các lĩnh vực. Đảng, Nhà nước và các cơ quan, ban, ngành liên quan đã có nhiều cơ chế, chính sách để động viên, khuyến khích con người làm giàu chính đáng, đặc biệt là hệ thống luật pháp ở Việt Nam từng bước được hoàn thiện để bảo đảm quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của con người với từng hoạt động, lĩnh vực mà mình tham gia. Tính từ năm 1986 đến nay, hàng chục nghìn văn bản luật và dưới luật được ban hành, trong đó có những đạo luật trực tiếp liên quan tới lĩnh vực quyền con người như: Bộ luật Dân sự, Bộ luật Tố tụng dân sự, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Báo chí, Luật Xuất bản, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo, Luật Tiếp công dân, Luật Tiếp cận thông tin, Luật Đặc xá, Luật Trẻ em, Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, Luật Giáo dục, Luật Bảo hiểm xã hội… Sau khi Hiến pháp năm 2013 được thông qua, hệ thống pháp luật về quyền con người đã được đẩy mạnh với hơn 100 luật, bộ luật được ban hành mới, điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp với tình hình thực tiễn của đất nước, yêu cầu, nhiệm vụ của xu thế mở cửa, hội nhập quốc tế hiện nay. Gần đây nhất, ngày 20/11/2019, Quốc Hội đã thông qua Bộ luật Lao động (sửa đổi) với nhiều quy định mới bảo đảm quyền lợi, nghĩa vụ cho người lao động, như tăng tuổi nghỉ hưu cho người lao động, ngày Quốc khánh được nghỉ hai ngày, không còn hợp đồng lao động theo thời vụ… Theo Báo cáo của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) năm 2018, Việt Nam thuộc nhóm trung bình cao về chỉ số phát triển con người (thứ 116/189 quốc gia) và chỉ số bình đẳng giới (đứng thứ 67/160 quốc gia). Theo một báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB), tỷ lệ đói nghèo ở Việt Nam tiếp tục giảm, đặc biệt là trong các dân tộc thiểu số. Nhà nước ta có rất nhiều biện pháp cụ thể để bảo đảm quyền của người dân trong các lĩnh vực dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội. Người dân tham gia trực tiếp và thụ hưởng quyền qua các hình thức như: Tham gia qua Quốc hội, qua các đoàn thể chính trị - xã hội, các phương tiện thông tin đại chúng. Ví dụ quyền dân sự, quyền được tiếp cận thông tin, chúng ta cũng thấy rằng, ngày nay với điều kiện kinh tế phát triển hơn thì khả năng người dân tiếp cận thông tin tăng lên rất nhiều. Quốc hội cũng đổi mới phương thức hoạt động để làm sao phản ánh đầy đủ tiếng nói của người dân, thực hiện tốt hơn vai trò pháp luật, pháp luật có hiệu quả hơn, thực hiện chức năng giám sát.

Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được thì việc hoàn thiện pháp luật về quyền dân chủ của con người vẫn còn một số hạn chế đó là: Nhận thức, ý thức của người dân về quyền công dân chưa thực sự đầy đủ; một số tổ chức, cá nhân lợi dụng quyền tự do, dân chủ của con người để chống phá cách mạng Việt Nam, xuyên tạc, phủ nhận thành tựu về thực hành quyền dân chủ của Đảng, Nhà nước ta trong suốt thời gian qua; một số điều luật chưa thực sự mang tính giáo dục, răn đe cao đối với một số loại tội phạm trong xã hội, như hành hung phụ nữ, con cái ngược đãi với cha mẹ… Trong bối cảnh hội nhập, mở cửa quốc tế hiện nay, sự hiểu biết về pháp luật của con người được coi là nhân tố quan trọng quyết định đến sự thành công trong công việc, cũng như cuộc sống; nhất là trước tác động của Cuộc cách mạng Công nghiệp 4.0 phát triển, nhiều luật mới ra đời, có nhiều người chưa nắm được, hoặc nắm không chắc, dẫn đến quá trình tổ chức thực hiện còn lúng túng, vi phạm mà không biết… vì vậy, việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền dân chủ con người trong bối cảnh hội nhập quốc tế đặt ra rất cấp bách vừa mang tính cụ thể trước mắt, vừa mang tính chiến lược cơ bản lâu dài.

3. Một số biện pháp tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền dân chủ của con người trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay

Một là, nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho các cơ quan, ban, ngành và đội ngũ cán bộ làm công tác soạn thảo, ban hành pháp luật

Đây là biện pháp rất quan trọng, tưởng như đơn gian nhưng lại có vai trò vô cùng quan trọng đối với quá trình hoàn thiện pháp luật về quyền của con người. Đây chính là lực lượng tham mưu, đề xuất, soạn thảo, thông qua và ban hành pháp luật về quyền của con người. Nếu đội ngũ cán bộ làm công tác về pháp luật có trình độ, hiểu biết, cọ sát với hoạt động thực tiễn, nắm bắt được xu thế phát triển của thời đại đặt ra thì việc soạn thảo, ban hành pháp luật về quyền của con người được thể hiện đầy đủ sâu sắc trên các mặt, các lĩnh vực. Ngược lại, nếu đội ngũ cán bộ làm công tác về pháp luật không nắm được những đòi hỏi của thực tiễn đặt ra thì việc tham mưu, đề xuất sẽ không đúng, trúng, gây ra những tranh cãi, tạo kẽ hỡ cho kẻ xấu lợi dụng để trục lợi cá nhân, vi phạm pháp luật. Theo đó, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của người làm công tác soạn thảo, ban hành pháp luật liên quan đến quyền con người cần lựa chọn những người đúng chuyên môn về pháp luật, có phẩm chất đạo đức, lối sống trong sạch, lành mạnh, vì sự ổn định, phát triển của đất nước, thực sự tôn trọng quyền của con người; biết lắng nghe, tôn trọng ý kiến đóng góp của các nhà khoa học, các luật sư, các tầng lớp nhân dân; nắm bắt được xu thế vận động, biến đổi, phát triển của xã hội, đưa ra những tình huống, dự báo sát với đặc điểm, tình hình của từng ngành, lĩnh vực, từng đối tượng khác nhau; tăng cường công tác phối kết hợp giữa các bộ phận, lực lượng liên quan để thảo luận, phân tích từ nhiều khía cạnh, góc độ khác nhau, bảo đảm cho quá trình thực thi pháp luật về quyền con người được phát huy một cách tốt nhất.

Hai là, thường xuyên tiến hành rà soát, bổ sung, điều chỉnh những đạo luật hiện hành để khắc phục hạn chế về mặt pháp lý

Một đạo luật đưa ra ngay từ đầu chưa phải đã hoàn chỉnh, trải qua thời gian cọ sát với hoạt động thực tiễn, từ đó nảy sinh những vấn đề cần phải điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra. Xã hội ngày càng phát triển, đặc biệt là những ảnh hưởng từ bên ngoài đến đời sống của các tầng lớp nhân dân, xuất hiện nhiều tình huống, sự việc mới nảy sinh, trong khi đó một số đạo luật đã không còn phù hợp nữa, cần phải có sự điều chỉnh, thậm trí là phải thay đổi để điều chỉnh thái độ, hành vi, ứng xử của con người. Theo đó, đội ngũ những người làm công tác soạn thảo, xây dựng pháp luật cần nghiên cứu, xem xét thật kỹ lưỡng từng luật, từng mục, chương, điều xem có còn phù hợp không, nếu phù hợp thì bổ sung thêm những yếu tố gì, nếu chưa phù hợp, hoặc không phù hợp nữa đề nghị bãi bỏ, ban hành luật mới; việc rà soát, bổ sung, điều chỉnh những đạo luật hiện hành nhằm mục đích phục vụ tối thượng quyền của con người, nhất là quyền về dân chủ, do đó, phải bảo đảm tính chính xác trong câu chữ, dễ hiểu, dễ nhớ; căn cứ vào từng đối tượng cụ thể, tính chất, mức độ của từng ngành, lĩnh vực hoạt động có thể bổ sung, điều chỉnh hoặc giữ nguyên những nội dung, đạo luật gốc ban đầu; phải nghiên cứu, cân nhắc, thảo luận thật kỹ và thận trọng trong quá trình sửa đổi, bổ sung, điều chỉnh, ban hành, trên cơ sở, nguyên tắc truyền thống, đạo lý của dân tộc, có những việc pháp luật không cấm nhưng đạo lý, truyền thống của dân tộc không cho phép, thì pháp luật cũng phải căn cứ vào đó để soạn thảo, ban hành, điều chỉnh. Pháp luật được xây dựng, soạn thảo, ban hành cũng phải trên cơ sở truyền thống, đạo lý của dân tộc, chứ không phải theo ý muốn chủ quan của mình, đưa ra những luật, quy định trái với đạo lý, truyền thống dân tộc. Bất kỳ luật nào đưa ra phải nhận được sự đồng tình, ủng hộ của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, đem lại sự ổn định, phát triển cho đất nước, đó mới là thành công cho những người soạn thảo, ban hành pháp luật.

Ba là, tăng cường các biện pháp giáo dục trong mỗi người dân, cán bộ công chức trong hệ thống chính trị về quyền con người

Để hệ thống pháp luật đi vào thực tiễn cuộc sống, được mọi người đón nhận, trở thành thói quen sinh hoạt trong đời sống của con người thì công tác tuyên truyền, giáo dục cần đặc biệt quan tâm. Nếu không làm tốt việc tuyên truyền, giáo dục những luật mới được ban hành thì các tầng lớp nhân dân sẽ không biết được điều luật nào là vừa mới điểu chỉnh, bổ sung, điều luật nào vẫn giữ nguyên nội dung, điều luật nào là mới hoàn toàn và những nội dung cụ thể của từng điều luật quy định như thế nào. Khi các tầng lớp nhân dân không biết thì dẫn đến những vi phạm trái pháp luật, hạn chế phát huy được quyền con người trong tham gia vào các hoạt động kinh tế, xã hội khác nhau. Theo đó, đội ngũ cán bộ cấp cơ sở phải tăng cường các biện pháp giáo dục trong mỗi người dân, cán bộ, công chức trong toàn hệ thống chính trị về quyền con người, đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số ít người cần phải tuyên truyền sâu rộng hơn; đa dạng hoá các nội dung, hình thức, biện pháp giáo dục pháp luật về quyền con người, quyền công dân đến các đối tượng trong xã hội, như: Sân khấu hoá, kịch hoá, biểu diễn văn hoá nghệ thuật, truyền thanh ở từng địa phương, cuộc thi tìm hiểu về pháp luật, phát động những phong trào thi đua…; nhân rộng điển hình tiên tiến đối với những tập thể, cá nhân làm tốt việc giáo dục pháp luật đến nhân dân, cán bộ công chức trong toàn hệ thống chính trị xã hội… trong quá trình tuyên truyền, giáo dục phải kiên trì, làm thường xuyên, liên tục như cơm ăn, nước uống hàng ngày, không thể một lúc, thời điểm tiến hành ngay, xong tất cả các điều luật được; vận dụng linh hoạt, sáng tạo các hình thức, biện pháp giáo dục pháp luật cho các đối tượng trong xã hội, phù hợp với đặc điểm, yêu cầu, nhiệm vụ ở mỗi cơ quan, đơn vị, địa phương đặt ra.

Bốn là, tiếp tục đẩy mạnh hoạt động đối ngoại, hợp tác quốc tế, sự tham gia của Việt Nam vào các thể chế quốc tế về quyền con người

Thông qua hoạt động đối ngoại, hợp tác quốc tế mà Việt Nam chúng ta có thể học hỏi được kinh nghiệm xây dựng, soạn thảo, ban hành luật về quyền con người của nhiều quốc gia. Các nước phương Tây kinh nghiệm ban hành các điều luật về quyền con người hơn ta rất nhiều, vì vậy, thông qua các chương trình, hội thảo, gặp gỡ, trao đổi giữa đại diện các cơ quan, ban, ngành mà tăng lên tính chính xác, hiệu quả của mỗi một đạo luật về quyền con người khi được ban hành. Hoạt động đối thoại, hợp tác về quyền con người đã được thể hiện thông qua các diễn đàn quốc tế, các hội nghị, hội thảo; qua đó chúng ta đã tuyên truyền về thành tựu bảo đảm quyền con người của Việt Nam, đặc biệt là trong các lĩnh vực dân tộc, tôn giáo nhằm bảo vệ các quan điểm, giá trị về nhân quyền của Đảng và Nhà nước ta; tăng cường sự hiểu biết, khắc phục và thu hẹp những vấn đề còn khác biệt, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của các nước, các tổ chức quốc tế, nhân dân thế giới và cộng đồng người Việt định cư ở nước ngoài trên cơ sở đảm bảo tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng, không can thiệp và công việc nội bộ của nhau, kiên quyết phê phán, vạch trần những luận điệu sai trái, vu cáo, xuyên tạc về tình hình nhân quyền ở nước ta; chủ động hơn về chiến lược trong quá trình tham gia vào một số cơ chế, thủ tục nhân quyền của Liên Hợp Quốc, khu vực Đông Nam Á (ASEAN), đối thoại về quyền con người, phát triển các hình thức hợp tác quốc tế đa dạng về giáo dục nhân quyền.

Quyền con người là thiêng liêng cao quý bất khả xâm phạm, có từ lâu trong lịch sử, dù ở chỗ này hay chỗ khác, quốc gia này hay quốc gia khác quyền con người có lúc bị chà đạp nhưng xu hướng chung vẫn là bảo vệ quyền con quyền, lên án những hành động xâm phạm đến quyền của con người. Trải qua những giai đoạn phát triển khác nhau của lịch sử, quyền con người ngày càng được hoàn thiện, bảo đảm về mặt luật pháp. Đối với nước ta, quyền con người được đặt ở vị trí trung tâm của lịch sử, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Đảng, Nhà nước ta không ngừng hoàn thiện pháp luật về quyền con người, bảo đảm cho con người phát triển toàn diện về mọi mặt, phục vụ hữu ích cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, thực hiện khát vọng dân tộc hùng cường, hạnh phúc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

ThS. Nguyễn Tú Anh

Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng


[1] C. Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995,t.3, tr.11.

[2] Nguyễn Văn mạnh (2000), Quyền chính trị của phụ nữ trong công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữa và trong pháp luật Việt Nam, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, tháng 3/2000.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: