Thứ sáu 16/01/2026 22:29
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Tiêu chí hoàn thiện pháp luật về đầu tư, khai thác công trình giao thông theo hình thức hợp đồng BOT

Tóm tắt: Xác định tiêu chí hoàn thiện pháp luật về đầu tư, khai thác công trình giao thông theo hình thức hợp đồng Xây dựng - Kinh doanh - Chuyển giao (hợp đồng BOT)

Tóm tắt: Xác định tiêu chí hoàn thiện pháp luật về đầu tư, khai thác công trình giao thông theo hình thức hợp đồng Xây dựng - Kinh doanh - Chuyển giao (hợp đồng BOT) có ý nghĩa hết sức quan trọng cả về lý luận và thực tiễn trong đời sống kinh tế - xã hội hiện nay. Trong bài viết, tác giả sẽ bàn luận sâu hơn về vấn đề này.

Abstract: Defining criteria of completing law on investment, exploitation of traffic project under Build-Operation-Transfer (BOT) has a very important meaning in the theory and practice of current social-economic life. The paper will go deeper to discuss this issue.

1. Khái quát quy định pháp luật về đầu tư, khai thác công trình giao thông theo hình thức hợp đồng BOT

Hiện nay, Quốc hội chưa ban hành luật quy định cụ thể về đầu tư theo hình thức đối tác công tư, trong đó có bao gồm các hình thức đầu tư cụ thể như: BOT, BTO, BT, BOO[1]... Khung pháp lý điều chỉnh hoạt động đầu tư theo hình thức hợp đồng BOT được quy định tại các văn bản: Luật Đấu thầu năm 2013, Luật Đất đai năm 2013, Luật Đầu tư năm 2014, Luật Đầu tư công năm 2014, Luật Xây dựng năm 2014, Luật Doanh nghiệp năm 2014, Luật Quản lý, sử dụng tài sản công năm 2017...; Nghị định số 63/2014/NĐ-CP ngày 26/6/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà thầu; Nghị định số 30/2015/NĐ-CP ngày 17/03/2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà đầu tư (Nghị định số 30/2015/NĐ-CP) và một số văn bản khác; Nghị định số 63/2018/NĐ-CP ngày 04/5/2018 của Chính phủ vể đầu tư theo hình thức đối tác công tư (Nghị định số 63/2018/NĐ-CP).

2. Đánh giá quy định pháp luật về đầu tư, khai thác công trình giao thông theo hình thức hợp đồng BOT

2.1. Kết quả đạt được

Trong bối cảnh nguồn lực đầu tư công còn hạn hẹp, thực hiện chủ trương của Đảng, Chính phủ đã chỉ đạo các bộ, ngành tăng cường xây dựng chính sách, văn bản quy phạm pháp luật, kiểm soát quá trình đầu tư, vận hành khai thác. Kể từ sau năm 2011 đến nay, trong quá trình triển khai dự án, các cơ quan quản lý nhà nước đã phát hiện những bất cập, hạn chế trong cơ chế chính sách và đã có các sửa đổi, bổ sung nhiều văn bản quy phạm pháp luật quy định và hướng dẫn thực hiện quản lý, triển khai thực hiện đầu tư dự án giao thông theo hình thức hợp đồng BOT để tạo điều kiện khuyến khích các nhà đầu tư, góp phần thúc đẩy hoạt động huy động vốn ngoài ngân sách vào đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng đường bộ của đất nước. Nhiều văn bản quy định, hướng dẫn về hợp đồng BOT được ban hành đã góp phần: Giúp cho các dự án BOT được triển khai, thực hiện thuận lợi hơn; tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế tham gia đầu tư; thu hút nguồn vốn đầu tư của các doanh nghiệp trong lĩnh vực giao thông; giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước trong việc đầu tư, xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông; mang lại tính hiệu quả trong môi trường đầu tư; tạo hành lang pháp lý để triển khai thực hiện các hợp đồng BOT...

Về cơ bản, các chính sách pháp luật cũng như các quy định về đầu tư và khai thác các công trình giao thông theo hình thức hợp đồng BOT được ban hành phù hợp với yêu cầu thực tiễn.

2.2. Hạn chế, bất cập

Thứ nhất, các quy định về quản lý các dự án đầu tư theo hình thức hợp đồng BOT chưa tập trung mà đang chịu sự điều chỉnh của nhiều luật (Luật Xây dựng, Luật Đầu tư, Luật Đấu thầu, Luật Doanh nghiệp…), các nghị định, quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ và nhiều thông tư, văn bản hướng dẫn của các bộ, ngành dẫn đến tình trạng xung đột, chồng chéo giữa các văn bản pháp luật. Nhiều nội dung phân công cho nhiều đầu mối quản lý nhưng chưa quy định rõ trách nhiệm của các cấp, ngành. Ví dụ: Trước năm 2015, sự tồn tại đồng thời của Nghị định số 108/2009/NĐ-CP ngày 27/11/2009 của Chính phủ về đầu tư theo hình thức hợp đồng BOT, BTO, BT (Nghị định số 108/2009/NĐ-CP) và Quyết định số 71/2010/QĐ-TTg ngày 09/11/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành quy chế thí điểm đầu tư theo hình thức đối tác công - tư (Quyết định số 71/2010/QĐ-TTg) để điều chỉnh các dự án BOT, BTO, BT và các dự án PPP đã dẫn đến cách hiểu không thống nhất, cho rằng đây là các dự án khác nhau. Cụ thể, một số quy định liên quan đến thẩm quyền, thủ tục lập, thẩm định, phê duyệt dự án, xác định nguồn vốn tham gia của Nhà nước... được quy định tại Quyết định số 71/2010/QĐ-TTg không phù hợp với Nghị định số 108/2009/NĐ-CP. Hai văn bản này có những nội dung không đồng nhất và không kết nối với nhau. Sự thiếu tương thích giữa hai văn bản này đã gây nghi ngại cho nhà đầu tư cũng như các nhà tài trợ về tính khả thi và tính thống nhất trong chính sách thu hút đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng tại Việt Nam.

Thứ hai, hệ thống văn bản pháp luật quy định các vấn đề từ khâu triển khai, thực hiện, hoàn thành đến đưa vào khai thác còn thiếu thống nhất, đồng bộ, chưa lường hết tác động đối với đối tượng bị ảnh hưởng.

Thứ ba, nhiều văn bản quy định về các vấn đề sau còn chung chung, chưa rõ ràng như: Quy định về quy trình, thủ tục quyết định đầu tư dự án; công tác giám sát, nghiệm thu và thanh toán công trình đặc biệt quản lý phần vốn góp của Nhà nước; công tác giám sát và quản lý chất lượng trong quá trình đầu tư, vận hành; cơ chế ưu đãi, bảo đảm đầu tư; vốn đầu tư của Nhà nước, vốn nhà nước, vốn ngân sách, tổng vốn đầu tư, tổng mức đầu tư... Một số khái niệm như doanh nghiệp dự án, chuyển nhượng quyền và nghĩa vụ hợp đồng... chưa được quy định rõ ràng dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau, gây khó khăn cho các nhà đầu tư tư nhân muốn tham gia đầu tư các dự án BOT.

Thứ tư, một số quy định pháp luật chuyên ngành chưa đầy đủ, thậm chí một số nội dung chưa có hướng dẫn rõ ràng hoặc chưa có văn bản nào điều chỉnh, cụ thể: Chưa có tiêu chí rõ ràng về việc lựa chọn những dự án “nâng cấp, cải tạo” hay “đầu tư tuyến mới” để thực hiện theo hình thức hợp đồng BOT hay đầu tư bằng nguồn vốn nhà nước; chưa có quy định về các dự án kết hợp nhiều hình thức hợp đồng như BOT kết hợp với BT, BTO...; trình tự tham vấn, thống nhất giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền với chính quyền địa phương, nhân dân trong khu vực dự án và các bên liên quan về quy mô đầu tư, mức phí sử dụng dịch vụ, địa điểm đặt trạm thu phí, chính sách hỗ trợ cho nhân dân gần điểm đặt trạm thu phí cũng chưa được quy định cụ thể; cơ chế phối hợp, giám sát quá trình khai thác công trình và cung cấp dịch vụ của nhà đầu tư chưa được quy định đầy đủ nên đã gây khó khăn trong quá trình triển khai thực hiện; vấn đề quyết toán hợp đồng BOT chưa có hướng dẫn rõ ràng.

Thứ năm, một số quy định còn mang tính nguyên tắc, chưa cụ thể, minh bạch từ quá trình quyết định dự án đầu tư, lựa chọn nhà đầu tư, hợp đồng dự án, quản lý doanh thu thu phí đến quy định về mức lợi nhuận của nhà đầu tư.

Thứ sáu, một số quy định đối với các dự án đầu tư theo hình thức hợp đồng BOT còn rườm rà, thiếu khoa học, chưa đáp ứng được tính linh hoạt và kịp thời của các dự án BOT làm ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình đàm phán, ký kết hợp đồng BOT và thực hiện các dự án BOT. Trên thực tế, các thủ tục để thực hiện dự án đầu tư PPP[2] tại Nghị định số 15/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 của Chính phủ về đầu tư theo hình thức đối tác công tư (Nghị định số 15/2015/NĐ-CP) còn khá rườm rà, gây khó cho cơ quan chức năng và nhà đầu tư khi triển khai dự án. Nghị định số 63/2018/NĐ-CP đã sửa đổi 06 nội dung quan trọng, bao gồm: Quy định rõ về thủ tục quyết định chủ trương đầu tư PPP; mở rộng các nguồn vốn nhà nước tham gia dự án PPP; quy định chặt chẽ hơn đối với các dự án BT; bãi bỏ thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với dự án PPP, góp phần cải cách thủ tục hành chính; bổ sung quy định thực hiện dự án PPP áp dụng công nghệ cao; đẩy mạnh phân cấp cho các đơn vị sự nghiệp công lập, đồng thời tăng cường công khai, minh bạch thông tin về PPP. Tuy nhiên, các quy định mới này có phù hợp với thực tiễn hay không, có khắc phục được các thủ tục rườm rà hay không còn phải kiểm nghiệm trong thời gian tới.

2.3. Nguyên nhân của hạn chế, bất cập

Nguyên nhân của những hạn chế, bất cập trên là do chưa có khung pháp lý cao nhất điều chỉnh về đầu tư theo hình thức hợp đồng BOT. Các quy định pháp luật về đầu tư và khai thác công trình giao thông theo hình thức hợp đồng BOT còn nằm rải rác ở nhiều văn bản khác nhau nên chưa thống nhất, đồng bộ. Đầu tư theo hình thức hợp đồng BOT được điều chỉnh bởi rất nhiều luật, nghị định, thông tư. Mặc dù Luật Đầu tư công và Luật Đầu tư đã có quy định về hình thức đầu tư PPP (trong đó có hình thức hợp đồng BOT) nhưng còn chung chung, văn bản pháp lý cao nhất quy định cụ thể, chi tiết về hình thức đầu tư PPP mới dừng ở mức nghị định mà chưa có luật riêng, ngoài ra còn rất nhiều quy định nằm rải rác ở các luật chuyên ngành nên vẫn tồn tại những khoảng trống pháp luật.

3. Các tiêu chí, phương hướng hoàn thiện pháp luật về đầu tư, khai thác công trình giao thông theo hình thức hợp đồng BOT

Thứ nhất, nghiên cứu, hoàn thiện pháp luật về đầu tư theo hình thức hợp đồng BOT đặt trong tổng thể hoàn thiện pháp luật về đầu tư theo hình thức PPP

Việc xây dựng một khung pháp lý duy nhất, không chịu ảnh hưởng và bị điều chỉnh bởi các luật khác nhau là một trong những điều kiện quan trọng để thu hút các nhà đầu tư trong nước và quốc tế tới đầu tư theo mô hình PPP nói chung và dự án công trình giao thông đường bộ theo hình thức BOT nói riêng. Do đó, việc nâng cấp quy định về PPP từ cấp nghị định lên cấp luật là rất cần thiết. Trong dự thảo Luật về PPP cần phải được lồng ghép các quy định giải quyết các vấn đề hạn chế hiện nay của dự án công trình giao thông BOT.

Về kết cấu của Luật, ngoài các chương, điều quy định về các nội dung nâng cấp từ nghị định (lĩnh vực, trình tự, thủ tục, nguồn vốn triển khai dự án PPP, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư...) cần bổ sung các chương, điều mới về dự án công trình giao thông theo hình thức BOT.

Thứ hai, tiêu chí về lựa chọn dự án giao thông đầu tư theo hình thức BOT

Mục tiêu chính trong việc thực hiện dự án BOT là đạt được hiệu quả đầu tư trong cung cấp cơ sở hạ tầng. “Hiệu quả đầu tư” có nghĩa là đạt được kết hợp tối ưu giữa lợi ích và chi phí, đảm bảo tính hiệu quả kinh tế - xã hội cao nhất khi đầu tư cơ sở hạ tầng quốc gia thông qua BOT. Bên cạnh đó, khu vực tư nhân vẫn có cơ hội thu hồi vốn và lợi nhuận, cũng như hợp lý đối với người sử dụng.

Do đó, hoàn thiện pháp luật về đầu tư, khai thác công trình giao thông theo hình thức BOT cần quy định bộ tiêu chí chung, trong đó có cách thức xếp hạng, chấm điểm, phân loại... để các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong quá trình lập kế hoạch đầu tư công có căn cứ lựa chọn sơ bộ các dự án giao thông có khả năng thực hiện theo mô hình BOT từ danh sách các dự án cần đầu tư của mình, từ đó chuẩn bị, lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án một cách hiệu quả nhất.

Thứ ba, tiêu chí về lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án giao thông theo hình thức BOT

Để đảm bảo dự án giao thông được đầu tư theo hình thức BOT hiệu quả, thành công, quan trọng nhất là lựa chọn được nhà đầu tư. Việc lựa chọn nhà đầu tư cần phải giải quyết được các vấn đề sau:

- Nhà đầu tư phải có năng lực, đặc biệt về tài chính. Quy định về tỷ lệ vốn của chủ đầu tư so với tổng số vốn huy động phải nhiều hơn quy định hiện nay (15%). Hạn chế việc tham gia của các ngân hàng thương mại trong việc huy động vốn.

- Bổ sung quy định về tiêu chí để đánh giá năng lực tài chính của nhà đầu tư, nghiên cứu quy định mức vốn chủ sở hữu phù hợp với tính chất, đặc điểm của từng nhóm dự án. Rà soát quy định về lập, phê duyệt, quản lý chi phí đầu tư xây dựng, vận hành, khai thác các công trình giao thông theo hình thức BOT. Đặc biệt sớm ban hành định mức, đơn giá và việc công bố chỉ số giá trị thị trường phù hợp với điều kiện thực tế.

- Bổ sung chế tài xử lý đối với các nhà đầu tư chậm quyết toán, chậm thực hiện trách nhiệm công khai, cập nhật lưu lượng phương tiện, doanh thu hoàn vốn, thời gian thu giá sử dụng dịch vụ. Quy định về trách nhiệm của nhà đầu tư bảo đảm chất lượng công trình khi vận hành và bàn giao cho Nhà nước. Quy định về cơ chế tham vấn trước khi quyết định đầu tư và việc người sử dụng dịch vụ phản đối việc cung cấp dịch vụ đối với các cơ quan quản lý.

Thứ tư, tiêu chí về xây dựng khuôn khổ pháp lý, công cụ để các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tổ chức giám sát và quản lý hợp đồng BOT

Khác với dự án đầu tư công truyền thống, dự án PPP sẽ kéo dài trong khoảng thời gian từ 20 - 30 năm. Do đó, để đảm bảo chất lượng của công trình, dịch vụ do nhà đầu tư tổ chức vận hành và cung cấp, cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần có trách nhiệm tổ chức giám sát và quản lý hợp đồng chặt chẽ. Thực tiễn hiện nay, nhiều công trình giao thông đầu tư theo hình thức BOT tại Việt Nam đang trong thời hạn của hợp đồng nhưng đã xuống cấp, có hiện tượng sụt lún... nhưng không được cơ quan có thẩm quyền quan tâm kịp thời; dẫn đến tình trạng người dân phải sử dụng dịch vụ không đúng chất lượng nhưng vẫn phải trả phí.

Tại một số nước áp dụng thành công mô hình PPP vào đầu tư cơ sở hạ tầng, các cơ quan quản lý hợp đồng PPP sử dụng bộ chỉ số đánh giá chất lượng dịch vụ trên cơ sở kết quả đầu ra, được gọi là Key Performance Indicators (KPIs) để giám sát và quản lý hợp đồng với các nhà đầu tư PPP. Định hướng này đã được quy định tại Thông tư số 02/2016/TT-BKHĐT ngày 01/3/2016 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn lựa chọn sơ bộ dự án, lập, thẩm định, phê duyệt đề xuất dự án và báo cáo nghiên cứu khả thi dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư. Tuy nhiên, do lĩnh vực được Chính phủ khuyến khích đầu tư theo hình thức PPP rất đa dạng nên Bộ Giao thông vận tải cần ban hành bộ công cụ giám sát và quản lý hợp đồng phù hợp với các dự án giao thông đường bộ[3].

Thứ năm, tiêu chí về công khai, minh bạch trong quá trình khảo sát, lựa chọn và đầu tư dự án công trình giao thông theo hình thức BOT

Một trong những hạn chế, bất cập lớn nhất hiện nay trong quá trình đầu tư dự án công trình giao thông theo hình thức BOT đã được nhiều cơ quan, người dân phản ánh đó là việc thiếu công khai, minh bạch trong các dự án. Từ thiếu công khai trong quá trình lựa chọn địa điểm đầu tư, phần lớn người dân không hiểu tại sao đường đang đi, vẫn tốt, lại được “trải nhựa” rồi “mọc lên” trạm BOT thu phí. Việc nhà đầu tư không có năng lực vẫn được chỉ định thầu, dẫn đến chất lượng thi công kém, chưa thi công xong đã dựng trạm thu phí để lấy thêm vốn đầu tư. Do vậy, việc hoàn thiện pháp luật phải tạo ra môi trường thông tin thông suốt cho các nhà đầu tư cũng như đảm bảo sự tham gia giám sát của cộng đồng. Vì vậy, cần nghiên cứu bổ sung quy định về công khai thông tin về dự án giao thông theo hình thức BOT trong suốt vòng đời dự án, bao gồm cả thông tin về tiến độ thực hiện.

Các chủ thể tham gia giám sát dự án BOT bao gồm nhiều thành phần từ các cơ quan kiểm toán độc lập tới sự tham gia giám sát của người dân. Việc hoàn thiện pháp luật phải tạo được kênh tham gia ý kiến, giám sát, phản hồi của cộng đồng.

Phải thiết kế cơ chế đấu thầu rộng rãi trong quá trình lựa chọn nhà đầu tư. Hiện nay, Nghị định số 15/2015/NĐ-CP và Nghị định số 30/2015/NĐ-CP đã có những quy định rõ ràng, nhưng cần phải lựa chọn và xây dựng những quy định riêng áp dụng đối với dự án công trình giao thông. Trường hợp cấp bách, Nhà nước không thu xếp được nguồn vốn, phải kêu gọi đầu tư BOT các dự án hiện hữu, độc đạo thì cần tham vấn đầy đủ các ý kiến của địa phương qua các cơ quan đại diện là Hội đồng nhân dân, Đoàn đại biểu quốc hội, các hiệp hội vận tải, các cơ quan chức năng, từ đó xem xét xin ý kiến Quốc hội.

ThS. Võ Thị Hồng Lan

Viện Nghiên cứu lập pháp

ThS. Nguyễn Như Chính

Đại học Luật Hà Nội





[1]. Hợp đồng Xây dựng - Kinh doanh - Chuyển giao (BOT); Hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao - Kinh doanh (BTO); Hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao (BT); Hợp đồng Xây dựng - Sở hữu - Kinh doanh (BOO).

[2]. Đầu tư dự án theo hình thức hợp tác công tư (PPP).

[3]. Báo cáo kết quả của Đoàn giám sát, ngày 21/10/2017, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 437/NQ-UBTVQH14 về một số nhiệm vụ và giải pháp tiếp tục hoàn thiện và đẩy mạnh việc thực hiện chính sách pháp luật về đầu tư và khai thác các công trình giao thông theo hình thức hợp đồng BOT.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.
Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Tóm tắt: Thông báo thi hành án là thủ tục không thể thiếu trong từng giai đoạn của quá trình tổ chức thi hành án dân sự. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về thông báo thi hành án còn tồn tại một số bất cập, hạn chế như chưa tương xứng giữa quyền với nghĩa vụ của đương sự, giữa trách nhiệm với quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và chủ yếu được thực hiện theo hình thức thông báo trực tiếp… Bài viết phân tích pháp luật thực định và thực tiễn thi hành, từ đó, đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến thông báo thi hành án để phù hợp thực tiễn, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích những bất cập trong quy định của pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con, từ đó, đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy quyền được giáo dục của con trong gia đình được thực hiện hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển của trẻ em và xã hội trong bối cảnh hiện nay.
Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết tập trung nghiên cứu một số học thuyết và phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật, chỉ ra những bất cập tồn tại trong quy định pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam chưa phù hợp với các học thuyết này. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng trong thời gian tới.
Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Tóm tắt: Cải cách thủ tục hành chính là yếu tố quan trọng, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính, thúc đẩy cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, đặc biệt là tạo động lực cho đổi mới sáng tạo. Nghiên cứu này phân tích sự cần thiết của cải cách thủ tục hành chính và thực trạng cải cách thủ tục hành chính ở Việt Nam trong việc khơi thông động lực đổi mới sáng tạo, từ đó, đề xuất giải pháp cải cách.
Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích quá trình phát triển tư tưởng về mối quan hệ giữa luật pháp và kinh tế học, tập trung vào trường phái kinh tế học pháp luật với phương pháp phân tích chi phí - lợi ích làm nổi bật vai trò quan trọng của việc cân nhắc các tác động hành vi cùng hiệu quả phân bổ nguồn lực trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật. Trên cơ sở đó, đề xuất áp dụng phương pháp kinh tế học pháp luật vào quy trình lập pháp tại Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả, tính minh bạch, sự công bằng xã hội và góp phần thúc đẩy cải cách pháp luật bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế, chuyển đổi số.
Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Tranh chấp lao động cá nhân là tranh chấp phổ biến nhất trong quan hệ lao động và ngày càng diễn biến phức tạp, cùng với đó, nhu cầu về cơ chế giải quyết tranh chấp hiệu quả, linh hoạt và bảo đảm quyền lợi cho các bên cũng ngày càng tăng trong lĩnh vực lao động. Trọng tài lao động với tính chất độc lập và được thiết kế theo cơ chế ba bên, có tiềm năng trở thành phương thức giải quyết tranh chấp lao động cá nhân hiệu quả. Bài viết phân tích thực trạng pháp luật hiện hành về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.
Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích các dấu hiệu nhận diện đặc trưng của tài sản số, những khó khăn, bất cập khi thiếu khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số, kinh nghiệm của Hoa Kỳ và giá trị tham khảo cho Việt Nam. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm xây dựng khung pháp lý vững chắc giúp Việt Nam có cơ hội phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực công nghệ, bảo vệ quyền lợi của người sở hữu tài sản số, tận dụng tối đa tiềm năng từ tài sản số và tiếp tục vững bước trên con đường phát triển kinh tế số.

Theo dõi chúng tôi trên: