Thứ tư 26/08/2026 02:51
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Tính hai mặt và giới hạn hợp lý của thiết chế truyền thông trong bảo vệ quyền con người và quyền công dân

Theo nghĩa rộng, các phương tiện thông tin đại chúng là các thiết chế xã hội đặc thù với sự trợ giúp của các công cụ kỹ thuật về truyền thông nhằm chuyển tải thông tin đến đông đảo công chúng. Các phương tiện thông tin đại chúng như truyền hình, đài phát thanh, báo chí và gần đây mạng xã hội tạo ra những mắt xích quan trọng kết nối những cá nhân con người với nhau.

Theo nghĩa rộng, các phương tiện thông tin đại chúng là các thiết chế xã hội đặc thù với sự trợ giúp của các công cụ kỹ thuật về truyền thông nhằm chuyển tải thông tin đến đông đảo công chúng. Các phương tiện thông tin đại chúng như truyền hình, đài phát thanh, báo chí và gần đây mạng xã hội tạo ra những mắt xích quan trọng kết nối những cá nhân con người với nhau. Những phương tiện này có một đặc tính quan trọng là có khả năng truyền đạt nhiều thông điệp từ một nguồn thông tin đến rất nhiều cá nhân khác nhau tại cùng một thời điểm. Truyền thông có khả năng ảnh hưởng rất lớn đến mọi vấn đề của xã hội, do có tính công khai, tính lan truyền và dễ được xã hội chấp nhận, từ nhận thức đến hành động và ứng xử của công chúng. Khi mà một ứng xử của công chúng được lặp đi lặp lại sẽ thành nền nếp, tập quán cuối cùng trở thành những chuẩn mực của xã hội. Do đó, truyền thông có vai trò đặc biệt quan trọng đối với cả người dân và nhà nước.

1. Tính hai mặt của truyền thông trong bảo vệ quyền con người và quyền công dân

1.1. Tính tích cực và tiêu cực của truyền thông

- Truyền thông mang tính tích cực khi nó tạo nên cơ sở cho tự do, dân chủ; những thông tin chính xác, kịp thời sẽ giúp cho quyền con người, quyền công dân được bảo đảm, bảo vệ và phát triển. Cuộc cách mạng thông tin đã mở ra một kỷ nguyên mới với các “luật chơi” mới mà không một ai có thể đứng ngoài cuộc[1]. Nó mang lại sự tự do thông tin, sự phát triển quyền lực xã hội ngoài quyền lực nhà nước mà bất cứ chủ thể nào cũng phải coi trọng, đặc biệt nó được người dân ngày càng sử dụng tích cực hơn cả để bảo vệ, phát triển quyền con người, quyền công dân.

- Khi thông tin truyền thông mang tính tiêu cực, thì tác động của nó cũng tạo ra những ảnh hưởng tiêu cực cho các đối tượng công chúng trong xã hội. Thực tế đã chứng minh không ít trường hợp truyền thông bị lạm dụng vì những mục đích phi pháp, tư lợi, đặc biệt là khi một số nhà báo xịn thiếu đạo đức nghề nghiệp đã lợi dụng để gây ra những phi vụ đen, trong đó có cả những nhà báo từng giữ những cương vị quan trọng và nay, lại xuất hiện thêm các nhà báo rởm, mượn danh báo chí để kiếm chác… Cả hai đối tượng nhà báo trên đều giống nhau ở chỗ: mục đích tác nghiệp không vì cung cấp thông tin, vì công chúng, mà vì những ý đồ cá nhân, xấu xa, tiêu cực[2]… Khi đó, truyền thông tạo ra những làn sóng dư luận tiêu cực lan rộng với tốc độ rất nhanh, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến công chúng, nhất là những đối tượng thanh thiếu niên, những đối tượng có trình độ nhận thức còn thấp, không có khả năng chắt lọc thông tin thì dễ bị lôi kéo và có những hành vi tiêu cực cho bản thân và cho cộng đồng xã hội.

1.2. Đối với người dân

Truyền thông đóng vai trò trong việc cung cấp thông tin và tạo ra các xu hướng về lối sống, văn hóa, cách thức ứng xử, hành vi con người. Truyền thông đóng vai trò đặc biệt quan trọng không thể thay thế cho đến thời điểm hiện nay trong thông tin về tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng trong nước và trên thế giới; giúp người dân có thông tin nhanh chóng, kịp thời để nhận thức về những vấn đề đã và đang diễn ra xung quanh mình, từ đó tác động đến hành vi, cách thức ứng xử của cá nhân, suy rộng ra là cả xã hội; đồng thời truyền thông cũng đóng vai trò trong học tập, giải trí của người dân, bảo đảm đời sống tinh thần cho con người. Thế mạnh vượt trội của truyền thông chính là tạo lập và định hướng dư luận, tuy vô hình nhưng có sức mạnh của quyền lực xã hội (quyền lực thứ tư bên cạnh cách quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp).

Truyền thông cũng đóng vai trò trong việc cung cấp phương tiện bảo đảm quyền cá nhân, lợi ích cộng đồng, giám sát các hoạt động của nhà nước.

1.3. Đối với chính quyền nhà nước

Ở khía cạnh thứ nhất, truyền thông có vai trò là chuyển tải thông tin về quyền con người, quyền công dân trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội, văn hóa, pháp luật từ nhà nước đến người dân, đặc biệt là vai trò tuyên truyền, phố biến chính sách, pháp luật của nhà nước đến người dân, qua đó tác động trực tiếp đến ý thức và hành vi của người dân. Ở khía cạnh thứ hai, truyền thông là phương tiện để người dân phản ánh ý kiến, nguyện vọng về quyền con người, quyền công dân đối với nhà nước; kiến nghị xây dựng, hoàn thiện chính sách, pháp luật về quyền con người, quyền công dân.

Đối với nhà nước, truyền thông hiện nay có một sức mạnh quan trọng trong việc phát huy quyền lực nhà nước, song cũng có thể tạo ra làn sóng phản đối chính quyền, thậm chí ở cấp độ cao nhất là thay đổi chế độ chính trị, chế độ nhà cầm quyền. Đặc biệt, các hoạt động chống phá chính quyền thường lấy vấn đề nhân quyền làm nội dung và lấy truyền thông về nhân quyền làm phương thức để làm xấu hình ảnh quốc gia, dân tộc; để phá hoại tư tưởng, tác động “tự diễn biến”; kích động tư tưởng ly khai, tự trị ở các vùng dân tộc thiểu số; làm cơ sở để tuyên truyền, vận động các quốc gia khác, các thế lực phản động chống phá.

2. Thực tiễn ảnh hưởng, tác động của truyền thông đến quyền con người và quyền công dân

2.1. Về mặt tích cực

Thứ nhất, đối với người dân

- Về nhận thức: Về cơ bản, truyền thông có tác động tích cực đến nhận thức con người về quyền con người, quyền công dân hơn là tác động tiêu cực. Các phương tiện truyền thông hiên nay đóng một vai trò quan trọng trong nâng cao nhận thức của người đọc về mọi lĩnh vực tri thức của thế giới; đóng vai trò quan trọng, thiết yếu trong tuyên truyền, phổ biến, giáo dục về quyền con người, quyền công dân và các biện pháp, cách thức để thực hiện, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, giúp người dân nâng cao nhận thức và khả năng thực hiện. Truyền thông đã và đang trở thành phương tiện truyền đạt kiến thức hữu hiệu nhất ngoài phương tiện dạy học thông thường.

- Về thông tin: Truyền thông đã cung cấp cho người dân thông tin kịp thời về chính sách, pháp luật về quyền con người và những thực tiễn thi hành quyền con người trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội. Truyền thông cũng giúp người dân có thể phản ánh quan điểm, kiến nghị hay những thông tin về quyền con người đến toàn xã hội, đặc biệt là cơ quan nhà nước. Qua đó, truyền thông đã giúp người dân bảo vệ quyền của mình bằng phương thức “thông tin” cho đối tượng liên quan, nhất là việc thông tin kịp thời những sự kiện xảy ra liên quan đến quyền con người, cùng với vai trò như là thiết chế quyền lực xã hội, buộc các chủ thể liên quan phải có hành vi xử lý kịp thời thông tin truyền thông, bảo vệ quyền con người.

- Về hành vi ứng xử: Thông tin mà báo chí, truyền thông chính thống mang lại thường được suy diễn là thông tin có căn cứ, đồng thời thông tin về quyền con người cũng mang tính nhạy cảm, nên dễ dẫn đến những phản xạ qua hành vi, biểu hiện đơn giản nhất là cảm xúc, thái độ đối với những thông tin tiếp nhận được (đặc biệt là các phát biểu, thể hiện ý chí của mình về các thông tin), cao hơn nữa là những hành vi phản ứng (như việc tránh đi qua các vùng bị bão lũ, thiên tai, tắc đường; tẩy chay các hàng hóa có thông tin xấu vể chất lượng...).

Thứ hai, đối với nhà nước

- Đối với công tác hoạch định chính sách của Nhà nước: Truyền thông là một công cụ kết nối giới nghiên cứu chính sách. Truyền thông cũng có thể ảnh hưởng gián tiếp, ví dụ như các đại biểu quốc hội có thể hướng sự chú ý của mình vào một vấn đề phản ánh qua truyền thông và sau đó tìm hiểu thêm về nó, và xem xét thảo luận đưa vào nghị trình chính sách. Đôi khi, sự rò rỉ thông tin từ chính nghị trường có thể trở thành một vấn đề thu hút dư luận, và làm thay đổi một đề xuất hay giải pháp chính sách.

Truyền thông cũng tác động khác nhau đối với các nhà hoạch định chính sách khác nhau tùy mức độ quan tâm và vị trí của mỗi đại biểu quốc hội. Các báo chí chuyên ngành lại có thể ảnh hưởng nhiều hơn với lĩnh vực của nó.

Truyền thông góp phần quan trọng để đưa ra ý kiến người dân, chuyên gia nói riêng và xã hội nói chung về các quy định vừa được ban hành sắp có hiệu lực. Nó góp phần đưa chính sách về quyền con người, quyền công dân được người dân nhận thức kịp thời khi có hiệu lực (như chính sách về chế độ, chính sách của công dân trong thời gian đăng ký, khám, kiểm tra sức khỏe nghĩa vụ quân sự có hiệu lực từ 08/4/2016; Người nước ngoài được sở hữu nhà trong Luật Kinh doanh bất động sản 2014...); đồng thời nó cũng phản ánh “lập tức” ý kiến của người dân đối với các quy định không hợp lý, vi phạm pháp luật (như thông tin về quy định “ngực lép” không được lái xe trong các năm 2008, 2013 và quy định này đã bị bãi bỏ trước khi có hiệu lực; thông tin về việc công nhân đình công và những ý kiến phân tích về chế độ nhận trợ cấp 1 lần của xã hội sau khi công nhân nghỉ việc theo Điều 60 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 đã được Quốc hội tiếp thu sửa đổi bằng một nghị quyết trước khi Luật này có hiệu lực...).

- Đối với tổ chức thi hành chính sách liên quan đến quyền con người, quyền công dân: Thông qua báo chí, truyền thông, chính sách của Nhà nước đã được truyển tải đến người dân có điều kiện theo dõi thường xuyên, qua đó giúp cho Nhà nước thực hiện chức năng tuyên truyền, phổ biến, giáo dục chính sách, pháp luật.

2.2. Về mặt tiêu cực

- Thông tin truyền thông dường như mới chỉ mang tính chất hỗ trợ tương giao giữa thông tin và việc bảo vệ quyền con người, quyền công dân mà chưa thực sự quan tâm bảo vệ, phát triển quyền con người, quyền công dân.

Biểu hiện đặc thù dễ nhận thấy nhất là: Các tổ chức báo chí, truyền thông thường đưa ra một lượng thông tin lớn, đa chiều với nhiều quan điểm, cách nhìn nhận khác nhau về một vấn đề liên quan đến quyền con người, quyền công dân - nhiều trường hợp làm cho “thông tin bị rối loạn” (có nhiều tổ chức phải đính chính lại thông tin), đặc biệt là các thông tin liên quan đến một số tội phạm gây bức xúc cho xã hội (như tội giết người, tội hiếp dâm...). Đến khi các hướng thông tin đã được xử lý rõ ràng, vụ việc đã được giải quyết xong thì báo chí, truyền thông thường không có nhiều thông tin làm rõ vấn đề để thông tin đầy đủ, chính xác về quyền con người có được bảo đảm hay không. Thậm chí các báo chí, truyền thông không quan tâm việc đăng tải thông tin, làm cho vai trò hỗ trợ bảo vệ quyền con người của truyền thông trong nhiều trường hợp bị quên đi.

- Nhiều trường hợp báo chí, truyền thông đưa thông tin sai sự thật được đẳng tải, trích dẫn rầm rộ, tạo thành làn sóng dư luận, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của người bị hại, song các thông tin đính chính, thông tin xử lý sai phạm hay giải pháp bảo vệ, khôi phục quyền lợi người bị hại lại bị xem nhẹ, không có cơ hội tạo thành “làn sóng” thông tin như thông tin sai sự thật ban đầu.

- Với tư cách là cá nhân con người, những người thực thi công vụ cũng không tránh khỏ những tác động tiêu cực mà truyền thông mang lại. Sự tác động tiêu cực này lúc này không chỉ ảnh hưởng đến cá nhân họ mà nó còn tác động đến hành vi công vụ mà họ thực hiện, tức là ảnh hưởng trực tiếp đến Nhà nước và xã hội, như nhận thức sai lệch trong xây dựng chính sách, pháp luật; tạo phản ứng tiêu cực của xã hội trong thi hành pháp luật[3]; báo chí tác động lên công luận và công luận tác động lên hội đồng xét xử...

- Truyền thông cũng là một trong những phương tiên được các thế lực thù địch lợi dụng đển tuyên truyền chống phá Nhà nước, chế độ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội với luận thuyết “Nhân quyền cao hơn chủ quyền”, sử dụng nhân quyền như một mục tiêu xuyên suốt để chống phá cách mạng Việt Nam, phá hoại cuộc sống hoà bình, ổn định của nhân dân ta. Với phương thức thông tin thổi phồng, bóp méo các sự kiện, xuyên tạc sự thật về nhân quyền để đánh lừa và gây hoang mang trong dư luận xã hội, những thông tin này gây căng thẳng, mâu thuẫn giữa các tầng lớp nhân dân với Đảng, với chính quyền và tạo ra những điểm nóng về chính trị - xã hội, kích động tâm lý về bất công, bất bình đẳng xã hội, gieo rắc hận thù, tạo mâu thuẫn, xung đột giữa các tầng lớp xã hội, các bộ phận dân chúng với nhau và với các cấp chính quyền.

3. Những giới hạn hợp lý mà pháp luật cần điều chỉnh đối với truyền thông trong bảo vệ quyền con người và quyền công dân

Thứ nhất, báo chí, truyền thông phải có đủ năng lực, cơ sở để thông tin chính xác, tích cực về quyền con người, quyền công dân

Tập trung quy hoạch và tổ chức thực hiện quy định mới của Luật Báo chí năm 2016 về trách nhiệm của Nhà nước phát triển báo chí tại một điều riêng biệt (Điều 5). Nhà nước có trách nhiệm ban hành chiến lược, quy hoạch phát triển và quản lý hệ thống báo chí; đầu tư có trọng tâm, trọng điểm trong các lĩnh vực đào tạo, bồi dưỡng nhân lực về chuyên môn, nghiệp vụ và quản lý hoạt động báo chí, nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ hiện đại cho các cơ quan báo chí; Nhà nước đặt hàng báo chí phục vụ một số nhiệm vụ liên quan đến các nhóm đối tượng đặc thù...

Quyền con người, quyền công dân là một trong những điểm mới quan trọng trong Hiến pháp năm 2013 về tính toàn diện, tính nguyên tắc về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, tính kế thừa và phát triển của các bản Hiến pháp trước đây và thành tựu của 30 năm đổi mới. Tuy nhiên, quyền con người, quyền công dân chưa phải là lĩnh vực được quan tâm tập huấn cho báo chí, truyền thông, mặc dù xét về ý nghĩa chính trị và tầm quan trọng đặc biệt của nó thì rất cần thết có chương trình, kế hoạch tập huấn sâu rộng cho báo chí, truyền thông. Ngoài ra, cần bảo đảm thực hiện nghiêm chỉnh quy định của Luật Báo chí về quyền và nghĩa vụ của nhà báo, cơ quan truyền thông.

Thứ hai, truyền thông về quyền con người, quyền công dân phải chịu sự ràng buộc về mặt pháp lý đối với chủ thể quản lý nhà nước và người dân, tổ chức

- Các tổ chức truyền thông chịu sự chỉ đạo, giám sát về tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước, bảo đảm tính “tôn chỉ”, “mục đích” truyền thông bám sát định hướng của Nhà nước, trong đó phải kể đến các lĩnh vực liên quan đến quyền con người, quyền công dân thường được truyền thông đưa tin trên các lĩnh vực văn hóa, du lịch, kinh tế, xã hội, pháp luật, tư pháp...

- Nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về bảo đảm quyền tự do báo chí của người dân đồng thời với nghĩa vụ của cơ quan báo chí, truyền thông trong việc giúp đỡ những người yếu thế thực hiện quyền này. Thực tế cho thấy, quyền tự do báo chí của người dân chưa thực sự hữu hiệu, đặc biệt là tính kịp thời và bảo đảm quyền cho các đối tượng yếu thế. Điều này đặt ra cho việc hoàn thiện pháp luật về truyền thông cần hướng đến việc cung cấp khả năng thực hiện quyền thông tin truyền thông của con người, đặc biệt là các đối tượng khó khăn trong việc tiếp cận thông tin.

Bên cạnh việc xây dựng hệ thống báo chí, truyền thông bảo vệ quyền con người, cũng cần thiết nghiên cứu xây dựng những thiết chế hỗ trợ bảo vệ quyền con người trong giới truyền thông. Những thiết chế có thể được sử dụng để giám sát sự bảo vệ và phát triển quyền con người, quyền công dân.

Thứ ba, xác định giới hạn về nội dung truyền thông về quyền con người, quyền công dân

- Cần đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả truyền thông về quyền con người thông qua các kênh, các phương tiện khác nhau, trong đó nhấn mạnh vai trò của các phương tiện thông tin đại chúng, nhằm góp phần nâng cao nhận thức cho toàn dân về quyền con người, thực hiện tốt cam kết của Việt Nam về chương trình hành động giáo dục về quyền con người.

- Nội dung truyền thông cần được nghiên cứu xác định những giới hạn nhất định để bảo đảm không xâm phạm đến quyền con người, quyền công dân. Như việc giới hạn đó theo “nguyên tắc gây hại”, “nguyên tắc xúc phạm” hoặc xung đột với các quyền khác theo quy định của Luật Báo chí năm 2016 và các văn bản quy phạm pháp luật khác liên quan đến quyền con người, quyền công dân, đặc biệt là việc “xâm phạm bí mật đời tư” của công dân.

- Tiếp tục xây dựng văn bản hướng dẫn Luật Báo chí để tạo khung pháp lý rộng rãi và nghiêm khắc, đồng thời bảo hộ mạnh mẽ bằng các định chế cần và đủ cho cơ quan báo chí, nhà báo tác nghiệp một cách tự do theo khuôn khổ các quy định từ việc cung cấp thông tin cho báo chí, tới quyền và nghĩa vụ bảo mật nguồn tin của cơ quan báo chí và nhà báo.

Thứ tư, pháp luật về truyền thông giới hạn các hoạt động truyền thông vi phạm quyền con người, quyền công dân thông qua các chế tài xử lý vi phạm pháp luật

- Cần tập trung thực hiện nghiêm chỉnh những quy định mới của Luật Báo chí năm 2016 về cải chính thông tin, hình thức xin lỗi của các loại hình báo chí.

- Hoàn thiện pháp luật về xử phạm vi phạm hành chính theo hướng nâng cao hơn nữa mức xử phạt vi phạm trong lĩnh vực này, đặc biệt chú ý đến các trường hợp gây thiệt hại nghiêm trọng đến uy tín, danh dự, nhâm phẩm của người khác hay gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản (có thể hàng tỷ đồng).

Thứ năm, truyền thông nói chung và truyền thông về quyền con người, quyền công dân phải đặt dưới sự quản lý của Đảng, Nhà nước về tổ chức và hoạt động

Báo chí ở Việt Nam là báo chí cách mạng, báo chí phải đặt dưới sự lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng, quản lý của Nhà nước, là diễn đàn của nhân dân và hoạt động trong khuôn khổ của pháp luật. Nhà nước quy định về chính sách phát triển báo chí, trong đó cần hướng đến một hệ thống báo chí, truyền thông tinh gọn, hiệu quả, hạn chế xu hướng phát triển tràn lan các loại hình báo chí và nhiều đầu mối quản lý cơ quan báo chí như hiện nay.

Cần tăng cường trách nhiệm quản lý báo chí, truyền thông của các cơ quan chủ quản theo đúng tôn chỉ, mục đích, nhiệm vụ, phương hướng hoạt động đã đề ra theo quy định của Luật Báo chí năm 2016, hạn chế tình trạng không chịu trách nhiệm về những thông tin tiêu cực mà báo chí, truyền thông đã đưa tin như trong thời gian vừa qua.

Nhóm nghiên cứu Đề tài
(Bài viết là sản phẩm của Đề tài khoa học cấp Bộ "Tăng cường vai trò của thiết chế truyền thông trong bảo vệ quyền con người và quyền công dân ở Việt Nam")


[1] Xem: Lê Minh Quang (2010), Internet - đỉnh cao của cuộc cách mạng thông tin - công nghệ và giáo dục

[2] Xem: Lê Thiết Hùng (2007), Suy nghĩ về sự lạm dụng quyền lực thứ tư

[3] Như vụ việc thông tin về chính sách thuế tự vệ tạm thời trong thời gian 200 ngày đói với phôi thép và thép dài nhập khẩu vào đầu năm 2016, để bảo vệ nền sản xuất thép của Việt Nam

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.

Theo dõi chúng tôi trên: