Thứ năm 12/03/2026 03:14
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Tính hai mặt và giới hạn hợp lý của thiết chế truyền thông trong bảo vệ quyền con người và quyền công dân

Theo nghĩa rộng, các phương tiện thông tin đại chúng là các thiết chế xã hội đặc thù với sự trợ giúp của các công cụ kỹ thuật về truyền thông nhằm chuyển tải thông tin đến đông đảo công chúng. Các phương tiện thông tin đại chúng như truyền hình, đài phát thanh, báo chí và gần đây mạng xã hội tạo ra những mắt xích quan trọng kết nối những cá nhân con người với nhau.

Theo nghĩa rộng, các phương tiện thông tin đại chúng là các thiết chế xã hội đặc thù với sự trợ giúp của các công cụ kỹ thuật về truyền thông nhằm chuyển tải thông tin đến đông đảo công chúng. Các phương tiện thông tin đại chúng như truyền hình, đài phát thanh, báo chí và gần đây mạng xã hội tạo ra những mắt xích quan trọng kết nối những cá nhân con người với nhau. Những phương tiện này có một đặc tính quan trọng là có khả năng truyền đạt nhiều thông điệp từ một nguồn thông tin đến rất nhiều cá nhân khác nhau tại cùng một thời điểm. Truyền thông có khả năng ảnh hưởng rất lớn đến mọi vấn đề của xã hội, do có tính công khai, tính lan truyền và dễ được xã hội chấp nhận, từ nhận thức đến hành động và ứng xử của công chúng. Khi mà một ứng xử của công chúng được lặp đi lặp lại sẽ thành nền nếp, tập quán cuối cùng trở thành những chuẩn mực của xã hội. Do đó, truyền thông có vai trò đặc biệt quan trọng đối với cả người dân và nhà nước.

1. Tính hai mặt của truyền thông trong bảo vệ quyền con người và quyền công dân

1.1. Tính tích cực và tiêu cực của truyền thông

- Truyền thông mang tính tích cực khi nó tạo nên cơ sở cho tự do, dân chủ; những thông tin chính xác, kịp thời sẽ giúp cho quyền con người, quyền công dân được bảo đảm, bảo vệ và phát triển. Cuộc cách mạng thông tin đã mở ra một kỷ nguyên mới với các “luật chơi” mới mà không một ai có thể đứng ngoài cuộc[1]. Nó mang lại sự tự do thông tin, sự phát triển quyền lực xã hội ngoài quyền lực nhà nước mà bất cứ chủ thể nào cũng phải coi trọng, đặc biệt nó được người dân ngày càng sử dụng tích cực hơn cả để bảo vệ, phát triển quyền con người, quyền công dân.

- Khi thông tin truyền thông mang tính tiêu cực, thì tác động của nó cũng tạo ra những ảnh hưởng tiêu cực cho các đối tượng công chúng trong xã hội. Thực tế đã chứng minh không ít trường hợp truyền thông bị lạm dụng vì những mục đích phi pháp, tư lợi, đặc biệt là khi một số nhà báo xịn thiếu đạo đức nghề nghiệp đã lợi dụng để gây ra những phi vụ đen, trong đó có cả những nhà báo từng giữ những cương vị quan trọng và nay, lại xuất hiện thêm các nhà báo rởm, mượn danh báo chí để kiếm chác… Cả hai đối tượng nhà báo trên đều giống nhau ở chỗ: mục đích tác nghiệp không vì cung cấp thông tin, vì công chúng, mà vì những ý đồ cá nhân, xấu xa, tiêu cực[2]… Khi đó, truyền thông tạo ra những làn sóng dư luận tiêu cực lan rộng với tốc độ rất nhanh, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến công chúng, nhất là những đối tượng thanh thiếu niên, những đối tượng có trình độ nhận thức còn thấp, không có khả năng chắt lọc thông tin thì dễ bị lôi kéo và có những hành vi tiêu cực cho bản thân và cho cộng đồng xã hội.

1.2. Đối với người dân

Truyền thông đóng vai trò trong việc cung cấp thông tin và tạo ra các xu hướng về lối sống, văn hóa, cách thức ứng xử, hành vi con người. Truyền thông đóng vai trò đặc biệt quan trọng không thể thay thế cho đến thời điểm hiện nay trong thông tin về tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng trong nước và trên thế giới; giúp người dân có thông tin nhanh chóng, kịp thời để nhận thức về những vấn đề đã và đang diễn ra xung quanh mình, từ đó tác động đến hành vi, cách thức ứng xử của cá nhân, suy rộng ra là cả xã hội; đồng thời truyền thông cũng đóng vai trò trong học tập, giải trí của người dân, bảo đảm đời sống tinh thần cho con người. Thế mạnh vượt trội của truyền thông chính là tạo lập và định hướng dư luận, tuy vô hình nhưng có sức mạnh của quyền lực xã hội (quyền lực thứ tư bên cạnh cách quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp).

Truyền thông cũng đóng vai trò trong việc cung cấp phương tiện bảo đảm quyền cá nhân, lợi ích cộng đồng, giám sát các hoạt động của nhà nước.

1.3. Đối với chính quyền nhà nước

Ở khía cạnh thứ nhất, truyền thông có vai trò là chuyển tải thông tin về quyền con người, quyền công dân trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội, văn hóa, pháp luật từ nhà nước đến người dân, đặc biệt là vai trò tuyên truyền, phố biến chính sách, pháp luật của nhà nước đến người dân, qua đó tác động trực tiếp đến ý thức và hành vi của người dân. Ở khía cạnh thứ hai, truyền thông là phương tiện để người dân phản ánh ý kiến, nguyện vọng về quyền con người, quyền công dân đối với nhà nước; kiến nghị xây dựng, hoàn thiện chính sách, pháp luật về quyền con người, quyền công dân.

Đối với nhà nước, truyền thông hiện nay có một sức mạnh quan trọng trong việc phát huy quyền lực nhà nước, song cũng có thể tạo ra làn sóng phản đối chính quyền, thậm chí ở cấp độ cao nhất là thay đổi chế độ chính trị, chế độ nhà cầm quyền. Đặc biệt, các hoạt động chống phá chính quyền thường lấy vấn đề nhân quyền làm nội dung và lấy truyền thông về nhân quyền làm phương thức để làm xấu hình ảnh quốc gia, dân tộc; để phá hoại tư tưởng, tác động “tự diễn biến”; kích động tư tưởng ly khai, tự trị ở các vùng dân tộc thiểu số; làm cơ sở để tuyên truyền, vận động các quốc gia khác, các thế lực phản động chống phá.

2. Thực tiễn ảnh hưởng, tác động của truyền thông đến quyền con người và quyền công dân

2.1. Về mặt tích cực

Thứ nhất, đối với người dân

- Về nhận thức: Về cơ bản, truyền thông có tác động tích cực đến nhận thức con người về quyền con người, quyền công dân hơn là tác động tiêu cực. Các phương tiện truyền thông hiên nay đóng một vai trò quan trọng trong nâng cao nhận thức của người đọc về mọi lĩnh vực tri thức của thế giới; đóng vai trò quan trọng, thiết yếu trong tuyên truyền, phổ biến, giáo dục về quyền con người, quyền công dân và các biện pháp, cách thức để thực hiện, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, giúp người dân nâng cao nhận thức và khả năng thực hiện. Truyền thông đã và đang trở thành phương tiện truyền đạt kiến thức hữu hiệu nhất ngoài phương tiện dạy học thông thường.

- Về thông tin: Truyền thông đã cung cấp cho người dân thông tin kịp thời về chính sách, pháp luật về quyền con người và những thực tiễn thi hành quyền con người trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội. Truyền thông cũng giúp người dân có thể phản ánh quan điểm, kiến nghị hay những thông tin về quyền con người đến toàn xã hội, đặc biệt là cơ quan nhà nước. Qua đó, truyền thông đã giúp người dân bảo vệ quyền của mình bằng phương thức “thông tin” cho đối tượng liên quan, nhất là việc thông tin kịp thời những sự kiện xảy ra liên quan đến quyền con người, cùng với vai trò như là thiết chế quyền lực xã hội, buộc các chủ thể liên quan phải có hành vi xử lý kịp thời thông tin truyền thông, bảo vệ quyền con người.

- Về hành vi ứng xử: Thông tin mà báo chí, truyền thông chính thống mang lại thường được suy diễn là thông tin có căn cứ, đồng thời thông tin về quyền con người cũng mang tính nhạy cảm, nên dễ dẫn đến những phản xạ qua hành vi, biểu hiện đơn giản nhất là cảm xúc, thái độ đối với những thông tin tiếp nhận được (đặc biệt là các phát biểu, thể hiện ý chí của mình về các thông tin), cao hơn nữa là những hành vi phản ứng (như việc tránh đi qua các vùng bị bão lũ, thiên tai, tắc đường; tẩy chay các hàng hóa có thông tin xấu vể chất lượng...).

Thứ hai, đối với nhà nước

- Đối với công tác hoạch định chính sách của Nhà nước: Truyền thông là một công cụ kết nối giới nghiên cứu chính sách. Truyền thông cũng có thể ảnh hưởng gián tiếp, ví dụ như các đại biểu quốc hội có thể hướng sự chú ý của mình vào một vấn đề phản ánh qua truyền thông và sau đó tìm hiểu thêm về nó, và xem xét thảo luận đưa vào nghị trình chính sách. Đôi khi, sự rò rỉ thông tin từ chính nghị trường có thể trở thành một vấn đề thu hút dư luận, và làm thay đổi một đề xuất hay giải pháp chính sách.

Truyền thông cũng tác động khác nhau đối với các nhà hoạch định chính sách khác nhau tùy mức độ quan tâm và vị trí của mỗi đại biểu quốc hội. Các báo chí chuyên ngành lại có thể ảnh hưởng nhiều hơn với lĩnh vực của nó.

Truyền thông góp phần quan trọng để đưa ra ý kiến người dân, chuyên gia nói riêng và xã hội nói chung về các quy định vừa được ban hành sắp có hiệu lực. Nó góp phần đưa chính sách về quyền con người, quyền công dân được người dân nhận thức kịp thời khi có hiệu lực (như chính sách về chế độ, chính sách của công dân trong thời gian đăng ký, khám, kiểm tra sức khỏe nghĩa vụ quân sự có hiệu lực từ 08/4/2016; Người nước ngoài được sở hữu nhà trong Luật Kinh doanh bất động sản 2014...); đồng thời nó cũng phản ánh “lập tức” ý kiến của người dân đối với các quy định không hợp lý, vi phạm pháp luật (như thông tin về quy định “ngực lép” không được lái xe trong các năm 2008, 2013 và quy định này đã bị bãi bỏ trước khi có hiệu lực; thông tin về việc công nhân đình công và những ý kiến phân tích về chế độ nhận trợ cấp 1 lần của xã hội sau khi công nhân nghỉ việc theo Điều 60 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 đã được Quốc hội tiếp thu sửa đổi bằng một nghị quyết trước khi Luật này có hiệu lực...).

- Đối với tổ chức thi hành chính sách liên quan đến quyền con người, quyền công dân: Thông qua báo chí, truyền thông, chính sách của Nhà nước đã được truyển tải đến người dân có điều kiện theo dõi thường xuyên, qua đó giúp cho Nhà nước thực hiện chức năng tuyên truyền, phổ biến, giáo dục chính sách, pháp luật.

2.2. Về mặt tiêu cực

- Thông tin truyền thông dường như mới chỉ mang tính chất hỗ trợ tương giao giữa thông tin và việc bảo vệ quyền con người, quyền công dân mà chưa thực sự quan tâm bảo vệ, phát triển quyền con người, quyền công dân.

Biểu hiện đặc thù dễ nhận thấy nhất là: Các tổ chức báo chí, truyền thông thường đưa ra một lượng thông tin lớn, đa chiều với nhiều quan điểm, cách nhìn nhận khác nhau về một vấn đề liên quan đến quyền con người, quyền công dân - nhiều trường hợp làm cho “thông tin bị rối loạn” (có nhiều tổ chức phải đính chính lại thông tin), đặc biệt là các thông tin liên quan đến một số tội phạm gây bức xúc cho xã hội (như tội giết người, tội hiếp dâm...). Đến khi các hướng thông tin đã được xử lý rõ ràng, vụ việc đã được giải quyết xong thì báo chí, truyền thông thường không có nhiều thông tin làm rõ vấn đề để thông tin đầy đủ, chính xác về quyền con người có được bảo đảm hay không. Thậm chí các báo chí, truyền thông không quan tâm việc đăng tải thông tin, làm cho vai trò hỗ trợ bảo vệ quyền con người của truyền thông trong nhiều trường hợp bị quên đi.

- Nhiều trường hợp báo chí, truyền thông đưa thông tin sai sự thật được đẳng tải, trích dẫn rầm rộ, tạo thành làn sóng dư luận, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của người bị hại, song các thông tin đính chính, thông tin xử lý sai phạm hay giải pháp bảo vệ, khôi phục quyền lợi người bị hại lại bị xem nhẹ, không có cơ hội tạo thành “làn sóng” thông tin như thông tin sai sự thật ban đầu.

- Với tư cách là cá nhân con người, những người thực thi công vụ cũng không tránh khỏ những tác động tiêu cực mà truyền thông mang lại. Sự tác động tiêu cực này lúc này không chỉ ảnh hưởng đến cá nhân họ mà nó còn tác động đến hành vi công vụ mà họ thực hiện, tức là ảnh hưởng trực tiếp đến Nhà nước và xã hội, như nhận thức sai lệch trong xây dựng chính sách, pháp luật; tạo phản ứng tiêu cực của xã hội trong thi hành pháp luật[3]; báo chí tác động lên công luận và công luận tác động lên hội đồng xét xử...

- Truyền thông cũng là một trong những phương tiên được các thế lực thù địch lợi dụng đển tuyên truyền chống phá Nhà nước, chế độ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội với luận thuyết “Nhân quyền cao hơn chủ quyền”, sử dụng nhân quyền như một mục tiêu xuyên suốt để chống phá cách mạng Việt Nam, phá hoại cuộc sống hoà bình, ổn định của nhân dân ta. Với phương thức thông tin thổi phồng, bóp méo các sự kiện, xuyên tạc sự thật về nhân quyền để đánh lừa và gây hoang mang trong dư luận xã hội, những thông tin này gây căng thẳng, mâu thuẫn giữa các tầng lớp nhân dân với Đảng, với chính quyền và tạo ra những điểm nóng về chính trị - xã hội, kích động tâm lý về bất công, bất bình đẳng xã hội, gieo rắc hận thù, tạo mâu thuẫn, xung đột giữa các tầng lớp xã hội, các bộ phận dân chúng với nhau và với các cấp chính quyền.

3. Những giới hạn hợp lý mà pháp luật cần điều chỉnh đối với truyền thông trong bảo vệ quyền con người và quyền công dân

Thứ nhất, báo chí, truyền thông phải có đủ năng lực, cơ sở để thông tin chính xác, tích cực về quyền con người, quyền công dân

Tập trung quy hoạch và tổ chức thực hiện quy định mới của Luật Báo chí năm 2016 về trách nhiệm của Nhà nước phát triển báo chí tại một điều riêng biệt (Điều 5). Nhà nước có trách nhiệm ban hành chiến lược, quy hoạch phát triển và quản lý hệ thống báo chí; đầu tư có trọng tâm, trọng điểm trong các lĩnh vực đào tạo, bồi dưỡng nhân lực về chuyên môn, nghiệp vụ và quản lý hoạt động báo chí, nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ hiện đại cho các cơ quan báo chí; Nhà nước đặt hàng báo chí phục vụ một số nhiệm vụ liên quan đến các nhóm đối tượng đặc thù...

Quyền con người, quyền công dân là một trong những điểm mới quan trọng trong Hiến pháp năm 2013 về tính toàn diện, tính nguyên tắc về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, tính kế thừa và phát triển của các bản Hiến pháp trước đây và thành tựu của 30 năm đổi mới. Tuy nhiên, quyền con người, quyền công dân chưa phải là lĩnh vực được quan tâm tập huấn cho báo chí, truyền thông, mặc dù xét về ý nghĩa chính trị và tầm quan trọng đặc biệt của nó thì rất cần thết có chương trình, kế hoạch tập huấn sâu rộng cho báo chí, truyền thông. Ngoài ra, cần bảo đảm thực hiện nghiêm chỉnh quy định của Luật Báo chí về quyền và nghĩa vụ của nhà báo, cơ quan truyền thông.

Thứ hai, truyền thông về quyền con người, quyền công dân phải chịu sự ràng buộc về mặt pháp lý đối với chủ thể quản lý nhà nước và người dân, tổ chức

- Các tổ chức truyền thông chịu sự chỉ đạo, giám sát về tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước, bảo đảm tính “tôn chỉ”, “mục đích” truyền thông bám sát định hướng của Nhà nước, trong đó phải kể đến các lĩnh vực liên quan đến quyền con người, quyền công dân thường được truyền thông đưa tin trên các lĩnh vực văn hóa, du lịch, kinh tế, xã hội, pháp luật, tư pháp...

- Nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về bảo đảm quyền tự do báo chí của người dân đồng thời với nghĩa vụ của cơ quan báo chí, truyền thông trong việc giúp đỡ những người yếu thế thực hiện quyền này. Thực tế cho thấy, quyền tự do báo chí của người dân chưa thực sự hữu hiệu, đặc biệt là tính kịp thời và bảo đảm quyền cho các đối tượng yếu thế. Điều này đặt ra cho việc hoàn thiện pháp luật về truyền thông cần hướng đến việc cung cấp khả năng thực hiện quyền thông tin truyền thông của con người, đặc biệt là các đối tượng khó khăn trong việc tiếp cận thông tin.

Bên cạnh việc xây dựng hệ thống báo chí, truyền thông bảo vệ quyền con người, cũng cần thiết nghiên cứu xây dựng những thiết chế hỗ trợ bảo vệ quyền con người trong giới truyền thông. Những thiết chế có thể được sử dụng để giám sát sự bảo vệ và phát triển quyền con người, quyền công dân.

Thứ ba, xác định giới hạn về nội dung truyền thông về quyền con người, quyền công dân

- Cần đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả truyền thông về quyền con người thông qua các kênh, các phương tiện khác nhau, trong đó nhấn mạnh vai trò của các phương tiện thông tin đại chúng, nhằm góp phần nâng cao nhận thức cho toàn dân về quyền con người, thực hiện tốt cam kết của Việt Nam về chương trình hành động giáo dục về quyền con người.

- Nội dung truyền thông cần được nghiên cứu xác định những giới hạn nhất định để bảo đảm không xâm phạm đến quyền con người, quyền công dân. Như việc giới hạn đó theo “nguyên tắc gây hại”, “nguyên tắc xúc phạm” hoặc xung đột với các quyền khác theo quy định của Luật Báo chí năm 2016 và các văn bản quy phạm pháp luật khác liên quan đến quyền con người, quyền công dân, đặc biệt là việc “xâm phạm bí mật đời tư” của công dân.

- Tiếp tục xây dựng văn bản hướng dẫn Luật Báo chí để tạo khung pháp lý rộng rãi và nghiêm khắc, đồng thời bảo hộ mạnh mẽ bằng các định chế cần và đủ cho cơ quan báo chí, nhà báo tác nghiệp một cách tự do theo khuôn khổ các quy định từ việc cung cấp thông tin cho báo chí, tới quyền và nghĩa vụ bảo mật nguồn tin của cơ quan báo chí và nhà báo.

Thứ tư, pháp luật về truyền thông giới hạn các hoạt động truyền thông vi phạm quyền con người, quyền công dân thông qua các chế tài xử lý vi phạm pháp luật

- Cần tập trung thực hiện nghiêm chỉnh những quy định mới của Luật Báo chí năm 2016 về cải chính thông tin, hình thức xin lỗi của các loại hình báo chí.

- Hoàn thiện pháp luật về xử phạm vi phạm hành chính theo hướng nâng cao hơn nữa mức xử phạt vi phạm trong lĩnh vực này, đặc biệt chú ý đến các trường hợp gây thiệt hại nghiêm trọng đến uy tín, danh dự, nhâm phẩm của người khác hay gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản (có thể hàng tỷ đồng).

Thứ năm, truyền thông nói chung và truyền thông về quyền con người, quyền công dân phải đặt dưới sự quản lý của Đảng, Nhà nước về tổ chức và hoạt động

Báo chí ở Việt Nam là báo chí cách mạng, báo chí phải đặt dưới sự lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng, quản lý của Nhà nước, là diễn đàn của nhân dân và hoạt động trong khuôn khổ của pháp luật. Nhà nước quy định về chính sách phát triển báo chí, trong đó cần hướng đến một hệ thống báo chí, truyền thông tinh gọn, hiệu quả, hạn chế xu hướng phát triển tràn lan các loại hình báo chí và nhiều đầu mối quản lý cơ quan báo chí như hiện nay.

Cần tăng cường trách nhiệm quản lý báo chí, truyền thông của các cơ quan chủ quản theo đúng tôn chỉ, mục đích, nhiệm vụ, phương hướng hoạt động đã đề ra theo quy định của Luật Báo chí năm 2016, hạn chế tình trạng không chịu trách nhiệm về những thông tin tiêu cực mà báo chí, truyền thông đã đưa tin như trong thời gian vừa qua.

Nhóm nghiên cứu Đề tài
(Bài viết là sản phẩm của Đề tài khoa học cấp Bộ "Tăng cường vai trò của thiết chế truyền thông trong bảo vệ quyền con người và quyền công dân ở Việt Nam")


[1] Xem: Lê Minh Quang (2010), Internet - đỉnh cao của cuộc cách mạng thông tin - công nghệ và giáo dục

[2] Xem: Lê Thiết Hùng (2007), Suy nghĩ về sự lạm dụng quyền lực thứ tư

[3] Như vụ việc thông tin về chính sách thuế tự vệ tạm thời trong thời gian 200 ngày đói với phôi thép và thép dài nhập khẩu vào đầu năm 2016, để bảo vệ nền sản xuất thép của Việt Nam

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.

Theo dõi chúng tôi trên: