Thứ ba 22/09/2026 05:13
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Tình trạng khẩn cấp trong đại dịch Covid-19 ở Canada và Nhật Bản - Kinh nghiệm cho Việt Nam

Vào ngày 14/3/2020, để đối phó với đại dịch Covid-19, Thị trưởng của bang Quebec đã công bố tình trạng khẩn cấp về sức khỏe trên toàn lãnh thổ bang này. Tiếp theo, vào ngày 17/03/2020, chính quyền của bang Ontario cũng tiếp nối và công bố tình trạng tương tự[1]. Cơ sở pháp lý để áp dụng tình trạng khẩn cấp ở Canada dự trên hai đạo luật, đó là: Đạo Luật về các hoàn cảnh khẩn cấp năm 1988 và Luật Quản lý tình trạng khẩn cấp năm 2007.

1. Dẫn nhập

Dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của virus corona (Covid-19) xuất hiện vào tháng 12/2019 và đến ngày 31/01/2020, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã tuyên bố tình trạng y tế khẩn cấp mang tính toàn cầu. Hiện nay, đại dịch Covid-19 vẫn đang diễn biến phức tạp, làm thay đổi hoàn toàn nhịp sống thường ngày của các cộng đồng dân cư trên toàn thế giới. Đại dịch Covid-19 đã tác động sâu rộng đến mọi lĩnh vực trong đời sống của mỗi quốc gia, từ kinh tế, chính trị cho đến chăm sóc sức khỏe cộng đồng, môi trường, an ninh, hợp tác, nhân quyền…

Ở Việt Nam, đại dịch Covid-19 cũng đã gây ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển kinh tế, xã hội, đời sống của mọi tầng lớp nhân dân. Đảng và nhà nước ta xác định phòng, chống đại dịch Covid-19 là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, cần huy động sự tham gia tích cực, quyết liệt của các bộ bộ, ngành, địa phương và toàn thể xã hội. Vì vậy, việc phòng, chống dịch Covid-19 không chỉ là trách nhiệm của Nhà nước, mà còn là trách nhiệm chung của cả cộng đồng. Bài viết tập trung nghiên cứu về trình trạng khẩn cấp ở một số quốc gia trong đại dịch Covid-19, từ đó, nêu ra một số kinh nghiệm cho Việt Nam trong phòng chống đại dịch Covid-19.

2. Áp dụng tình trạng khẩn cấp ở một số quốc gia trong đại dịch Covid-19

2.1. Áp dụng tình trạng khẩn cấp ở Canada

Vào ngày 14/3/2020, để đối phó với đại dịch Covid-19, Thị trưởng của bang Quebec đã công bố tình trạng khẩn cấp về sức khỏe trên toàn lãnh thổ bang này. Tiếp theo, vào ngày 17/03/2020, chính quyền của bang Ontario cũng tiếp nối và công bố tình trạng tương tự[1]. Cơ sở pháp lý để áp dụng tình trạng khẩn cấp ở Canada dự trên hai đạo luật, đó là: Đạo Luật về các hoàn cảnh khẩn cấp năm 1988 và Luật Quản lý tình trạng khẩn cấp năm 2007.

Đạo Luật về các hoàn cảnh khẩn cấp năm 1988: Đạo Luật về các hoàn cảnh khẩn cấp năm 1988 quy định về các trường hợp mà tình trạng khẩn cấp được ban bố, phương thức thông qua của Quốc hội, thời hạn và mức độ quyền hạn được giao cho hành pháp. Đạo Luật về các hoàn cảnh khẩn cấp năm 1988 trao cho chính quyền liên bang quyền đối phó với các tình huống khẩn cấp “nằm ngoài khả năng hoặc quyền hạn can thiệp của các bang”[2]. Đạo Luật về các hoàn cảnh khẩn cấp năm 1988 quy định với các loại khẩn cấp khác nhau: (i) Khẩn cấp phúc lợi công cộng[3] để đối phó với các mối đe dọa nghiêm trọng đối với an ninh của Canada[4]; (ii) Khẩn cấp quốc tế[5] để đối phó với một cuộc khủng hoảng phát sinh từ các hành vi đe dọa trong số những những hành vi chống lại Canada; (ii) Khẩn cấp chiến tranh[6] trong trường hợp xảy ra xung đột vũ trang thực sự hoặc sắp xảy ra. Đạo Luật về các hoàn cảnh khẩn cấp năm 1988 này quy định cụ thể các bệnh truyền nhiễm trong các tình huống “khẩn cấp phúc lợi công cộng”[7], nhưng chỉ áp dụng cho các trường hợp khẩn cấp trên phạm vi quốc gia (không áp dụng đối với một bang). Tình hình vừa qua ở Canada chỉ ra rằng, Covid-19 đã được phát hiện ở nhiều bang. Tuy nhiên, do những hệ quả đối với Chính phủ liên bang khi viện dẫn Đạo Luật về các hoàn cảnh khẩn cấp năm 1988, bao gồm cả những tác động đến việc bảo vệ các quyền và tự do cơ bản ở Canada, do đó, quyết định có sử dụng hay không là không hề đơn giản. Thực tế, khi xuất hiện tình trạng “khẩn cấp phúc lợi công cộng”, thì Chính phủ có thể thông qua các nghị định liên quan để quy định hoặc đưa ra lệnh cấm đi lại, sơ tán người dân hoặc yêu cầu mọi người cung cấp các dịch vụ thiết yếu...[8].

Luật Quản lý tình trạng khẩn cấp năm 2007: Lời mở đầu của Luật Quản lý tình trạng khẩn cấp năm 2007 cho thấy rằng, bất kỳ biện pháp nào cũng phải tuân theo Hiến chương về các quyền và tự do của Canada[9] [10]. Để tối đa hóa việc bảo vệ dân số do sự lây lan của virus Covid-19, vào ngày 21/3/2020, theo Nghị định số 2020 - 007 về sức khỏe cộng đồng được Hội đồng Bộ trưởng thông qua, theo đó, chính quyền Québec đã cấm tụ họp đông người trong nhà hay ngoài trời, với một vài ngoại lệ nhất định[11], [12]. Trên thực tế, nếu quyền tự do hội họp bị xâm phạm, Đảng đối lập cho rằng Chính phủ có thể sử dụng nguồn lực và sự hạn chế của quyền tự do hội họp để tạo thành một giới hạn hợp lý trong bối cảnh hiện tại xét đến mối nguy hiểm cực độ do tai họa của đại dịch Covid-19. Trong trường hợp như thế, sự hạn chế này sau đó sẽ được biện minh trong khuôn khổ của một xã hội dân chủ hướng đến bảo vệ sức khỏe toàn dân. Ngoài tác động của việc viện dẫn các đạo luật thì đại dịch cũng có thể tác động đến việc ảnh hưởng đến việc xem xét các luật khác có tác động đến các quyền và tự do. Chẳng hạn như, trong một cuộc điều tra về việc trao tự do, một thẩm phán có thể coi là phù hợp khi cân nhắc Covid-19 trong quyết định tha bổng hay không phạm tội: Nguy cơ lây nhiễm cao với virus corona của những người bị giam giữ, so với những người chịu sự giám sát tại gia là một yếu tố phải tính đến... các rủi ro đối với sức khỏe từ vi rút trong một không gian hạn chế có nhiều người, chẳng hạn như nhà tù, lớn hơn nhiều so với việc một bị cáo bị cách ly tại gia[13],[14].

2.2. Áp dụng tình trạng khẩn cấp ở Nhật Bản

Sau khi Tổ chức Y tế thế giới (WHO) công bố đại dịch viêm phổi do virus corona gây ra trở thành đại dịch toàn cầu, ngày 13/03/2020, Luật sửa đổi luật các biện pháp đặc biệt đối phó với các loại virus cúm mùa chủng mới năm 2013 đã được đại đa số phiếu thông qua từ Nghị viện Nhật Bản cho phép ứng phó với dịch Covid-19 như một virus cúm mùa chủng mới[15]. Văn bản này quy định về những biện pháp phòng tránh cũng như điều trị cho bệnh nhân khi có sự xuất hiện của một chủng virus cúm mùa mới lây lan nhanh trên toàn quốc và có nguy cơ trở nên nguy hiểm cho tính mạng con người, gây thiệt hại nặng nề cho nền kinh tế và cho phép Chính phủ có thể áp dụng những biện pháp mạnh hơn trong công tác chống dịch (trong đó, Thủ tướng có quyền ban bố tình trạng khẩn cấp). Khi tình trạng khẩn cấp được ban bố, Thủ tướng Chính phủ sẽ có quyền phát động các luật đặc biệt liên quan nhằm ứng phó với tình hình[16]. Mặc dù vậy, vẫn có nhiều quan điểm bất an đối với dự luật này của Chính phủ. Các ý kiến cho rằng, cần có một định nghĩa rõ ràng hơn cho tình huống như thế nào là có khả năng làm ảnh hưởng tới cuộc sống và kinh tế của người dân. Thực tế, ngày 28/02/2020, Thống đốc Hokkaido đã tuyên bố tình trạng khẩn cấp trên toàn tỉnh khi hòn đảo này trở thành tâm dịch lớn nhất của Nhật Bản (tuyên bố được đưa ra trước khi Luật sửa đổi nói trên được thông qua) đã thu hút nhiều sự quan tâm từ dư luận. Nhưng dưới quyền hạn của một Thống đốc thì tuyên bố này chỉ mang tính yêu cầu, cảnh cáo, chứ không mang tính bắt buộc như tuyên bố bởi Thủ tướng. Hơn nữa, Thống đốc cũng không có thẩm quyền ban hành các văn bản pháp luật đặc định.

Trong khi đó, tháng 4/2020, chính quyền của Thủ tướng Shinzo Abe vẫn cho rằng, việc tuyên bố tình trạng khẩn cấp là chưa thực sự cần thiết, việc ban bố tình trạng khẩn cấp được xem như nước đi cuối cùng để chuẩn bị cho tình huống xấu nhất và sẽ dựa trên sự biến đổi của tình thế mà thực hiện các biện pháp xử lý phù hợp trên cơ sở luật pháp để bảo về tính mạng và sức khỏe nhân dân. Trong thời gian này, Chính phủ Nhật Bản vẫn đẩy mạnh công tác phòng chống dịch, như tuyên truyền, vận động người dân không đi ra ngoài, không tụ tập ở nơi đông người, cũng như giảm thiểu những tiếp xúc không cần thiết, chuẩn bị giường bệnh tại cơ sở y tế điều trị được chỉ định. Nhưng, chính vì không có một chính sách quyết liệt cho nên nhiều sự kiện, lễ hội vẫn được diễn ra, một số trường học vẫn cho phép học sinh đi học trở lại… Tối ngày 24/03/2020, Thủ tướng Shinzo Abe cùng Uỷ ban tổ chức Olympic IOC đã ra tuyên bố chung về việc hoãn tổ chức Olympic tại Tokyo (đến tháng 7/2021). Ngày 07/04/2020, kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, lần đầu tiên Nhật Bản ra tuyên bố về tình trạng khẩn cấp áp dụng cho cả 07 tỉnh, thành phố lớn gồm có Tokyo, Kanagawa, Saitama, Chiba, Osaka, Hyogo và Fukuoka. Trong khoảng thời gian một tháng hiệu lực của tình trạng khẩn cấp, người dân ở các tỉnh này được khuyến cáo: (i) Không nên ra đường nếu không cần thiết; (ii) Mọi hoạt động vui chơi đều bị huỷ bỏ; (iii) Bảo tàng, trường học được yêu cầu đóng cửa; (iv) Một số nhà hàng, quán ăn được yêu cầu dừng hoạt động hoặt rút ngắn giờ làm... Tất cả những hoạt động này nhằm hạn chế đến mức tối đa những tiếp xúc giữa người với người. Thủ tướng nhận định rằng, mục tiêu của quyết định này là hướng đến giảm thiểu ít nhất 70 đến 80 phần trăm sự tiếp xúc thông thường. Với việc đưa ra những quyết sách nêu trên, nhiều quyền cơ bản của công dân Nhật Bản đã bị giới hạn đến một mức độ nhất định (ví dụ như, quyền được hội họp[17]). Về mặt pháp lý, những quyết sách được đưa ra chỉ dừng ở mức độ yêu cầu chứ không bắt buộc. Có nghĩa là, việc thực hiện những quyết sách nêu trên có thành công hay không phụ thuộc rất nhiều vào ý thức cá nhân của mỗi người dân[18].

3. Một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam về việc áp dụng tình trạng khẩn cấp trong đại dịch Covid-19

3.1. Áp dụng tình trạng khẩn cấp tại nước ta trong đại dịch Covid-19

Trong thực tiễn đối phó với dịch Covid-19 (từ tháng 12/2019 đến nay) nước ta không tuyên bố tình trạng khẩn cấp nhưng tuyên bố có dịch. Dựa trên các quy định về công bố dịch của Luật Phòng chống bệnh truyền nhiễm năm 2007, Chính phủ đã thực hiện các biện pháp cưỡng chế hành chính (không có sự phân biệt giữa công bố tình trạng khẩn cấp về dịch và công bố dịch). Theo đó, Thủ tướng Chính phủ đã liên tiếp ban hành các chỉ thị, công văn (những văn bản mang tính chất chỉ đạo nội bộ) để ứng phó với tình hình khẩn cấp. Chẳng hạn như: Ngày 01/02/2020, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã ký Quyết định số 173/QĐ-TTg về việc công bố dịch viêm đường hô hấp do chủng mới của virus Corona gây ra; Áp dụng các hình thức xử phạt hay cưỡng chế đối với các hành vi vi phạm về dịch bệnh dựa trên Nghị định số 176/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế; Ngày 03/2/2020 Thủ tướng Chính phủ ban hành Công văn số 164/TTg- KGVX tăng cường phòng, chống dịch do nCoV gây ra; Ngày 04/3/2020 Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 13/CT-TTg về việc tiếp tục đẩy mạnh phòng, chống dịch Covid-19 trong tình hình mới; Chỉ thị số 15/CT-TTG ngày 27/3/2020 của Thủ tướng Chính phủ về quyết liệt thực hiện đợt cao điểm phòng chống dịch Covid-19; Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 31/3/2020 của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện các biện pháp cấp bách phòng, chống dịch Covid-19[19]... Mặc dù, Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 31/3/2020 của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện các biện pháp cấp bách phòng, chống dịch COVID-19 đã mang lại nhiều kết quả tốt đẹp cho nước ta trong phòng, chống dịch Covid-19[20]. Tuy vậy, Chỉ thị này cũng bộc lộ những bất khi sử dụng từ ngữ chuyên môn, cùng với những quy định có phần thiếu rõ ràng, mâu thuẫn trong văn bản này đã gây bối rối cho người dân và chính quyền các cấp[21] xuất hiện tình trạng mỗi nơi áp dụng Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 31/3/2020 của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện các biện pháp cấp bách phòng, chống dịch Covid-19 theo một cách khác nhau (như, việc sử dụng cụm từ “cách ly xã hội” (social isolation) thay cho “giãn cách xã hội” (“physical distance” hay “social distancing”). Ví dụ: có địa phương vẫn duy trì tình trạng giao thông bình thường, trong khi đó, có địa phương thì quy định “nội bất xuất ngoại bất nhập”, sử dụng rào chắn đường xá không cho người địa phương khác ra vào; chính quyền đóng cửa các cửa hàng, cơ sở kinh doanh những mặt hàng, dịch vụ không thiết yếu (nhưng không có quy định mặt hàng, dịch vụ nào là thiết yếu)[22].

Từ những bất cập trên, Văn phòng Chính phủ đã ban hành văn bản số 2601/VPCP-KGVX vào ngày 04/4/2020 nhằm truyền đạt ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ liên quan đến Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 31/3/2020 của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện các biện pháp cấp bách phòng, chống dịch Covid-19[23]. Tiếp theo đó, Thủ tướng và người đứng đầu Văn phòng Chính phủ đã có những giải thích và đã bắt đầu có sự điều chỉnh về mặt sử dụng ngôn từ, đổi cụm từ “cách ly toàn xã hội” thành “cách ly xã hội”. Mặc dù vậy, vẫn có địa phương hiểu “cách ly toàn xã hội” là “phong tỏa toàn xã hội” và áp dụng những biện pháp được xem là “cực đoan”, ví dụ như, hạn chế (thậm chí ngăn cản) sự lưu thông bình thường giữa các địa phương với nhau.

Rõ ràng, vào thời gian đầu, Chính phủ và chính quyền các địa phương ở Việt Nam đã rất chật vật trong việc quyết định và áp dụng các biện pháp phòng, chống Covid-19. Xét về phương diện pháp lý, một số chuyên gia đã chỉ ra rằng, căn cứ vào nội dung thì Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 31/3/2020 của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện các biện pháp cấp bách phòng chống dịch Covid-19 thực chất có thể coi là một dạng tuyên bố tình trạng khẩn cấp. Như vậy, việc ban hành Chỉ thị này chưa phù hợp với các quy định của Hiến pháp năm 2013 và Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm bệnh năm 2007, vì theo hai văn bản này, Thủ tướng chỉ có quyền đề nghị, còn Uỷ ban Thường vụ Quốc hội mới có quyền ban bố tình trạng khẩn cấp trong trường hợp Ủy ban Thường vụ Quốc hội không thể họp được, thì Thủ tưởng mới có quyền công bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp trong cả nước hoặc ở từng địa phương[24]. Bên cạnh đó, theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020), Chỉ thị không phải là văn bản quy phạm pháp luật[25]. Như vậy, Chỉ thị không thể dùng để áp đặt các quy tắc cư xử bắt buộc cho bất kì chủ thể nào trong xã hội, đây chỉ là văn bản trong nội bộ một cơ quan nhà nước dùng để hướng dẫn thực hành. Nói cách khác, tính chất và giá trị pháp lý của Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 31/3/2020 của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện các biện pháp cấp bách phòng chống dịch Covid-19 cũng gây ra nhiều tranh luận, đặc biệt, trong nội dung của Chỉ thị này và Hướng dẫn thi hành của Văn phòng Chính phủ đều yêu cầu các cơ quan nhà nước “xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm”[26]. Mặt khác, các quy định về công bố dịch trong Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm năm 2007 không thể tương đương với công bố tình trạng khẩn cấp, bởi có nhiều chủ thể khác nhau (trung ương và địa phương) có thể ban bố các biện pháp trên[27]. Điều kiện để công bố dịch chưa được quy định rõ trong Luật mà dành cho Chính phủ quy định, nhưng cho đến nay, chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể về trường hợp này và thời hạn công bố hết dịch cũng chưa xác định mà để dưới dạng thức chung[28].

3.2. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Từ những bất cập liên quan đến các văn bản được ban hành áp dụng trong thời gian phòng, chống dịch bệnh Covid-19 (đặc biệt là, Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 31/3/2020 của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện các biện pháp cấp bách phòng chống dịch Covid-19) của Thủ tướng Chính phủ phần nào cho thấy, sự khác biệt giữa Việt Nam với Canada và Nhật Bản (như đã phân tích ở trên). Việc ban hành một văn bản pháp luật về tình trạng khẩn cấp như Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 31/3/2020 của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện các biện pháp cấp bách phòng chống dịch Covid-19 ở nước ta là rất khó khăn. Nói cách khác, Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 31/3/2020 của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện các biện pháp cấp bách phòng chống dịch Covid-19 cho thấy, trong những tình huống khẩn cấp đòi hỏi một quyết định xử lý nhanh chóng thì hệ thống chính trị ở Việt Nam có khả năng đưa ra những quyết sách nhanh chóng, kịp thời hơn so với hệ thống chính trị của một số nước khác. Dù vậy, điều đó không có nghĩa là quyết sách của hệ thống chính trị nhất nguyên lúc nào cũng giải quyết tình trạng khẩn cấp hợp lý và chính xác[29]. Từ trường hợp của Nhật Bản và Canada, có thể thấy, mặc dù đã có một số quy định trong Hiến pháp và luật chuyên ngành, thì Việt Nam vẫn cần tiếp tục củng cố hệ thống pháp luật về tình trạng khẩn cấp để vừa có thể đạt được hiệu quả cao trong xử lý tình huống, vừa đảm bảo đảm được các yêu cầu về pháp quyền[30]. Cụ thể, những bài học kinh nghiệm mà Việt Nam có thể rút ra như sau:

Một là, cần xây dựng hệ thống pháp luật quy định rõ ràng, chi tiết và chặt chẽ về tình trạng khẩn cấp, bao gồm: Định nghĩa về tình trạng khẩn cấp, chủ thể có thẩm quyền liên quan, thời gian hiệu lực, phạm vi ảnh hưởng... Tất cả những quy định đó cần được thẩm định một cách kĩ càng trước khi ban hành và những văn bản được ban hành sau không được phép trùng lặp hoặc mâu thuẫn với những quy định của văn bản trước.

Hai là, cần có sự ứng phó nhanh chóng từ phía chính quyền: Trong tình trạng khẩn cấp (dịch bệnh, thiên tai, một sự đe doạ vũ lực từ bên ngoài…), chính quyền càng kịp thời đưa ra được đối sách thì mức độ thiệt hại càng được giảm thiểu, thời gian kéo dài tình trạng khẩn cấp sẽ càng được rút ngắn. Tuy nhiên, để làm được điều này thì không hề đơn giản mà phải có một sự thống nhất về ý kiến từ Quốc hội đến cộng đồng.

Ba là, cần có sự công khai, minh bạch với người dân: Các quyết định liên quan đến tình trạng khẩn cấp cần được thông báo với người dân một cách nhanh chóng, chính xác, kịp thời thông qua các kênh thông tin chính thức của chính quyền trung ương và chính quyền địa phương. Đồng thời, cần triệt để trong công tác phòng chống tin giả, tin sai lệch, chưa kiểm chứng, tránh gây hoang mang cho người dân.

Bốn là, cần có quan độc lập để giám sát hoạt động của Chính phủ: Tòa án tối cao nên là cơ quan được giao thẩm quyền trong việc giải thích hiến pháp và các đạo luật dưới hiến pháp. Ngay cả khi hiến pháp cho phép các biện pháp bất thường được thực hiện trong hoàn cảnh khẩn cấp, pháp luật cần có quy định yêu cầu rằng các biện pháp này chỉ được thực hiện theo luật và tính hợp pháp của chúng phải có khả năng được kiểm tra bởi cơ quan tư pháp. Chẳng hạn như cơ quan tư pháp có quyền thực hiện thẩm tra liên quan đến: tuyên bố, gia hạn hoặc thực hiện tình trạng khẩn cấp.

Nhìn chung, xem xét của tư pháp không phải lúc nào cũng đủ để bảo vệ và chống lại việc lạm dụng quyền hạn khẩn cấp; bởi vì, đây là một quá trình chậm, phức tạp và cần có thời gian để xử lí các cáo buộc vi phạm quyền này. Mặt khác, thẩm phán cũng là những lực lượng chức năng của nhà nước (đa số là thành viên của cơ quan hành pháp và lập pháp). Vì vậy, có thể do thói quen hoặc vì bất kì lý do nào khác đều có thể dẫn đến việc trì hoãn xem xét trong tình trạng khẩn cấp[31]./.

ThS. Huỳnh Thị Hồng Nhiên
Khoa Luật Hành chính - Nhà nước, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh


[1] Sebastien Lafrance, Tình trạng y tế khẩn cấp và các quyền, tự do cơ bản ở Canada, trích trong Kỷ yếu hội thảo Quốc tế “Law on the state of emergency - Pháp luật về tình trạng khẩn cấp”, tháng 12/2020, Nxb. Hồng Đức, tr. 651.

[2] Điều 3 Đạo Luật về các hoàn cảnh khẩn cấp năm 1988.

[3] Điều 5 và Điều 6 Đạo Luật về các hoàn cảnh khẩn cấp năm 1988.

[4] Điều 16 Đạo luật về các hoàn cảnh khẩn cấp năm 1988.

[5] Điều 28 và Điều 29 Đạo Luật về các hoàn cảnh khẩn cấp năm 1988.

[6] Điều 37 và Điều 38 Đạo Luật về các hoàn cảnh khẩn cấp năm 1988.

[7] Điều 5b Đạo Luật về các hoàn cảnh khẩn cấp năm năm 1988.

[8] Điều 8 Đạo Luật về các hoàn cảnh khẩn cấp năm năm 1988.

[9] Charte canadienne des droits et libertés, phần I của Luật Hiến pháp năm 1982, [phụ lục B của Đạo Luật Canada năm 1982, Chương 11 (RU)].

[10] Jacques-Yvan Morin, L'état de droit: émergence d'un principe du droit international, Recueil des Cours de l'Académie de droit international de La Haye, Chương 254 (1995), tr. 150 - 151.

[11] “Nghị định là một quyết định lập quy xuất phát từ quyền hành pháp”, cụ thể l, Chính phủ: Décrets, règlements et décisions du Conseil des ministre, Bộ trưởng Hội đồng hành pháp, truy cập website của chính quyền Québec: http://www4.gouv.qc.ca/fr/Portail/citoyens/programme-service/Pages/Info. aspx?sqctype=sujet&sqcid=854, truy cập ngày 02/01/2022.

[12] Website của chính quyền Québec, truy cập: http://www4.gouv.qc.ca/fr/Portail/citoyens/ programme-service/Pages/Info.aspx?sqctype=sujet&sqcid=854, truy cập ngày 02/01/2022.

[13] Marjun Parcasio, The Evolution of the War Measures Act (L'évolution de la Loi sur les mesures de guerre), trang 35 Robert Normey và đồng tác giả, Tạp chí LawNow, 2019 43-3 [dịch từ tiếng Anh bởi Sébastien Lafrance].

[14] R. v. J.S., 2020 ONSC 1710, đoạn 18 - 19 [dịch từ tiếng Anh bởi Sébastien Lafrance].

[15] Quy định của pháp luật Nhật Bản về tình trạng khẩn cấp và những gợi mở cho Việt Nam, http://lapphap.vn/pages/tintuc/printpage.aspx?tintucID=210571, truy cập ngày 02/01/2021.

[16] Có thể kể đến các quyền như: quyền yêu cầu đình chỉ hoặc giới hạn tất cả mọi hoạt động vui chơi giải trí, những sự kiện có thể tập trung đông người; quyền yêu cầu trường học, nhà trẻ, trung tâm giáo dưỡng phải tạm dừng hoạt động; quyền cưỡng chế trưng dụng đất đai, nhà cửa của cá nhân để xây dựng khu điều dưỡng y tế nếu cần thiết; quyền trưng thu những vật dụng y tế và lương thực thiết yếu…

[17] Điều 21 Hiến pháp Nhật Bản năm năm 1946.

[18] Cầm Vũ Thảo Nguyên, Vấn đề tình trạng khẩn cấp trong Hiến pháp và pháp luật Nhật Bản và những giá trị tham khảo cho Việt Nam, trích trong Kỷ yếu hội thảo Quốc tế “Law on the state of emergency - Pháp luật về tình trạng khẩn cấp”, tháng 12/2020, Nxb. Hồng Đức, tr. 573-575.

[19] Nguyễn Khánh, Nhận thức của Đảng về bảo đảm quyền con người trong đại dịch Covid-19, http://www.vksquangninh.gov.vn/tin-ho-t-d-ng-xd-nganh/xay-d-ng-d-ng/3341-nhan-thuc-cua-dang-ve-bao-dam-quyen-con-nguoi-trong-dai-dich-Covid-19, truy cập ngày 03/01/2022.

[20] Nguồn: http://tulieuvankien.dangcongsan.vn/he-thong-van-ban/van-ban-chi-dao-dieu-hanh/ chi-thi-so-16ct-ttg-ngay-3132020-cua-thu-tuong-chinh-phu-ve-thuc-hien-cac-bien-phap-cap-bach-phong-chong-dich-Covid-19-6238.

[21] Đêm ngày 31/01/2020 và ngày 01/2/2020, người dân, đặc biệt ở các thành phố lớn, do nhầm tưởng là sẽ có sự cách ly xã hội triệt để, nên đã đổ xô vào các chợ và siêu thị để mua hàng hoá dự trữ (lương thực, thực phẩm, các hàng hoá thiết yếu khác..), dẫn tới một số mặt hàng, đặc biệt là, thiết bị vệ sinh như khẩu trang, nước rửa tay... bị đẩy giá tăng vọt.

[22] “Cách ly toàn xã hội” không phải là rào đường, cấm xe, phong tỏa địa phương, Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, tại http://dangcongsan.vn/ban-doc/luat-su-cua-ban/cach- ly-toan-xa-hoi-khong-phai-la-rao-duong-cam-xe-phong-toa-dia-phuong-551903.html, truy cập ngày 03/01/2022.

[23] Hướng dẫn thực hiện Chỉ thị số 16/CT-TTg về các biện pháp cấp bách phòng, chống dịch Covid-19, Cổng thông tin Chính phủ, 04/4/2020, http://vpcp.chinhphu.vn/Home/Huong-dan-thuc-hien-Chi-thi-16CTTTg-ve-cach-ly-xa-hoi/20204/27510.vgp: Văn bản này cụ thể hoá một số nội dung chưa rõ của Chỉ thị 16, trong đó bao gồm những trường hợp được xem là cần thiết có thể đi ra ngoài (như mua lương thực, thực phẩm, khám chữa bệnh...), những nhà máy, cơ sở sản xuất; công trình giao thông, xây dựng; cơ sở kinh doanh dịch vụ, hàng hóa thiết yếu.

[24] Khoản 1 Điều 17 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020).

[25] Điều 4 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020).

[26] Thảo Anh, Phòng, chống đại dịch Covid-19: Trách nhiệm của nhà nước, bổn phận của công dân, https://pbgdpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/trao-doi-kinh-nghiem.aspx?ItemID=112, truy cập ngày 02/01/2022.

[27] Điều 38 Luật Phòng chống bệnh truyền nhiễm năm 2007: Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh; Bộ trưởng Bộ Y tế (khi có từ hai tỉnh trở lên đã công bố dịch); Thủ tướng Chính phủ (khi dịch lây lan nhanh từ tỉnh này sang tỉnh khác, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe con người).

[28] Khoản 2 Điều 52 Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm năm 2007.

[29] Theo “Về những sai lầm trong xử lý thảm hoạ nổ nhà máy điện hạt nhân Chernobyl”, xem Chernobyl: Disaster, Response & Fallout - HISTORY, tại https://www.history.com/topics/1980s/chernobyl, truy cập ngày 02/01/2022: Cuộc khủng hoảng nổ nhà máy điện hạt nhân Chernobyl ở Ukraine năm 1986 và cách xử lý của Liên Xô (cũ) đã cho thấy điều đó.

[30] Cầm Vũ Thảo Nguyên, Vấn đề tình trạng khẩn cấp trong Hiến pháp và pháp luật Nhật Bản và những giá trị tham khảo cho Việt Nam, trích trong Kỷ yếu hội thảo Quốc tế “Law on the state of emergency - Pháp luật về tình trạng khẩn cấp”, tháng 12/2020, Nxb. Hồng Đức, tr. 579.

[31] IDEA, Quyền hạn khẩn cấp, Tài liệu phổ thông về lập hiến số 18 của IDEA Quốc tế, Bản dịch này là của Mr. Nguyen Anh Duc, ISBN: 978-91-7671-335-8 (PDF), tr. 29.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.

Theo dõi chúng tôi trên: