Thứ năm 12/03/2026 08:58
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Trả lại tiền, tài sản, giấy tờ cho phạm nhân - Một số bất cập từ thực tiễn thi hành

Thủ tục trả lại tiền, tài sản, giấy tờ cho người được thi hành án đang chấp hành hình phạt tù tại trại giam, trại tạm giam được quy định cụ thể tại Điều 126 và Điều 129 Luật Thi hành án dân sự năm 2011

Thủ tục trả lại tiền, tài sản, giấy tờ cho người được thi hành án đang chấp hành hình phạt tù tại trại giam, trại tạm giam được quy định cụ thể tại Điều 126 và Điều 129 Luật Thi hành án dân sự năm 2011, được sửa đổi bổ sung năm 2014 (Luật Thi hành án dân sự) và Thông tư liên tịch số 07/2013/TTLT-BTP-BCA-BTC ngày 06/02/2013 của Bộ Tư pháp, Bộ Công an và Bộ Tài chính hướng dẫn trình tự, thủ tục thu, nộp, quản lý tiền, giấy tờ của người phải thi hành án dân sự và trả tiền, giấy tờ cho người được thi hành án dân sự là phạm nhân (Thông tư liên tịch số 07/2013/TTLT-BTP-BCA-BTC). Tuy nhiên, trong thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật, việc trả lại tiền, tài sản, giấy tờ cho người được thi hành án là phạm nhân vẫn còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc.

Thứ nhất, về việc xác định trại giam của đương sự

Theo quy định tại khoản 1 Điều 129 Luật Thi hành án dân sự thì chấp hành viên gửi thông báo, quyết định về việc nhận lại tiền, tài sản cho người được thi hành án đang chấp hành hình phạt tù thông qua giám thị trại giam, trại tạm giam. Tuy nhiên, việc xác định trại giam, trại tạm giam của đương sự là phạm nhân không phải lúc nào cũng được thực hiện một cách dễ dàng và thuận lợi. Khi chấp hành viên giải quyết việc thi hành án, ngoài các thông tin trong bản án và khai thác từ gia đình, chính quyền địa phương thì không có nguồn thông tin nào cho biết được địa chỉ trại giam của đương sự nếu như cơ quan thi hành án dân sự không nhận được thông báo của trại giam nơi phạm nhân thụ hình.

Tình trạng không xác định được địa chỉ trại giam nơi đương sự chấp hành hình phạt tù là khá phổ biến mà các cơ quan thi hành án dân sự thường gặp phải[1]. Mặc dù Điều 3 Thông tư liên tịch số 07/2013/TTLT-BTP-BCA-BTC đã quy định rõ, giám thị trại giam, thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự, công an cấp huyện có trách nhiệm thông báo cho cơ quan thi hành án dân sự nơi Tòa án đã xét xử sơ thẩm họ, tên, địa chỉ của phạm nhân là người phải thi hành án dân sự hoặc phạm nhân là người được thi hành án theo bản án hình sự, trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tiếp nhận phạm nhân vào trại giam, tuy nhiên, việc thực hiện quy định trên ở nhiều nơi vẫn còn chưa nghiêm túc. Khi chấp hành viên tổ chức thi hành án, thông tin duy nhất về người phải thi hành án là phạm nhân mà chấp hành viên có thể nắm được chỉ có ở bản án, ngoài ra chấp hành viên phải tự tìm hiểu và xác định trại giam nơi người được thi hành án chấp hành hình phạt tù bằng việc gửi công văn đề nghị Tổng cục VIII Bộ Công an cho biết địa chỉ trại giam của đương sự. Nhiều trường hợp, việc xác minh này chậm có kết quả hoặc không có kết quả, cá biệt có những trường hợp cơ quan thi hành án dân sự nhận được công văn của Tổng cục VIII trả lời về việc không xác định được trại giam nào có phạm nhân có tên và địa chỉ như trong yêu cầu của cơ quan thi hành án dân sự. Hành trình xác định trại giam đôi khi rất gian nan và mất nhiều thời gian của chấp hành viên, làm giảm hiệu quả thi hành án.

Thứ hai, về thủ tục trả lại tài sản cho phạm nhân

- Trường hợp phạm nhân là người được thi hành án dân sự có đơn đề nghị được nhận tiền, giấy tờ tại trại giam, cơ quan thi hành án hình sự công an cấp huyện: Tại khoản 1 Điều 10 Thông tư liên tịch số 07/2013/TTLT-BTP-BCA-BTC quy định, trường hợp phạm nhân là người được thi hành án dân sự có đơn đề nghị được nhận tiền, giấy tờ tại trại giam, cơ quan thi hành án hình sự công an cấp huyện thì trại giam, cơ quan thi hành án hình sự công an cấp huyện có trách nhiệm thông báo cho cơ quan thi hành án dân sự biết; trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo, cơ quan thi hành án dân sự có trách nhiệm gửi tiền, giấy tờ cho giám thị trại giam, thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự công an cấp huyện để tiến hành việc trả tiền, giấy tờ cho phạm nhân là người được thi hành án dân sự theo quyết định trả tiền, giấy tờ. Trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được tiền, giấy tờ do cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên gửi đến, trại giam, cơ quan thi hành án hình sự công an cấp huyện tiến hành trả tiền, giấy tờ cho phạm nhân là người được thi hành án dân sự theo quyết định trả tiền, giấy tờ.

Chi phí cho việc gửi tiền, tài sản do người được thi hành án chịu. Khi giao tiền, tài sản cho đương sự, giám thị trại giam, trại tạm giam lập biên bản và gửi cho cơ quan thi hành án dân sự[2].

Tuy nhiên, nhiều phạm nhân có trình độ hiểu biết hạn chế, cá biệt hoặc không biết chữ, việc quy định phạm nhân có đơn xin nhận tiền, giấy tờ trong trại giam đã là một quy định nặng tính thủ tục, lại quy định thêm việc cơ quan thi hành án hình sự công an cấp huyện có trách nhiệm thông báo cho cơ quan thi hành án dân sự biết trong khi cơ quan thi hành án hình sự công an cấp huyện có rất nhiều công việc phải làm, việc chờ thông báo của cơ quan thi hành án hình sự cho cơ quan thi hành án dân sự liệu có thực sự khả thi?

- Trường hợp người được thi hành án ủy quyền cho người khác nhận tiền, tài sản: Theo quy định tại khoản 1 Điều 129 Luật Thi hành án dân sự, trường hợp người được thi hành án ủy quyền cho người khác nhận tiền, tài sản thì văn bản ủy quyền phải có xác nhận của giám thị trại giam, trại tạm giam. Chấp hành viên trả tiền, tài sản cho người được ủy quyền.

Khoản 3 Điều 10 Thông tư liên tịch số 07/2013/TTLT-BTP-BCA-BTC cũng quy định trường hợp phạm nhân là người được thi hành án dân sự ủy quyền cho người khác nhận thay tiền, giấy tờ thì giám thị trại giam, thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự công an cấp huyện có trách nhiệm xác nhận vào giấy ủy quyền và gửi giấy ủy quyền cho người được ủy quyền; người được ủy quyền nhận tiền chịu trách nhiệm gửi giấy ủy quyền đó cho cơ quan thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự có trách nhiệm trả tiền, giấy tờ cho người được ủy quyền theo quy định của pháp luật.

Như vậy, trong trường hợp trả lại tiền, giấy tờ, tài sản cho người được thi hành án đang chấp hành hình phạt tù giam nếu người nhà muốn đến nhận thay phải có giấy ủy quyền của người đang chấp hành án trong trại giam. Để có được giấy ủy quyền này đôi khi cũng là một việc rất khó khăn[3].

Trên thực tế, có những bản án tuyên trả lại duy nhất một cái quần bò, một cái ví cũ, một con dao hay một cái điện thoại không còn sử dụng được...Đây là những vụ việc quá khó để thi hành xong khi mà đương sự thì ở trong trại giam, người nhà đương sự thì chẳng ai muốn đến nhận những thứ “lặt vặt”, không còn giá trị sử dụng, nhất là khi họ lại cư trú ở các tỉnh xa với nơi xử án hoặc xa với trại giam nơi đương sự thụ hình. Có những trường hợp, cơ quan thi hành án dân sự đã hướng dẫn phạm nhân thực hiện được việc ủy quyền nhưng người được ủy quyền lại không đến nhận tài sản vì cho rằng tài sản có giá trị quá nhỏ không đáng để bỏ công sức và thời gian để đến nhận lại.

Do đó, về trình tự, thủ tục trả lại tiền, tài sản cho phạm nhân cần có những quy định đơn giản hơn, nhất là đối với các tài sản có giá trị nhỏ. Về việc giấy ủy quyền có xác nhận của trại giam (khoản 1 Điều 129 Luật Thi hành án dân sự) chỉ nên áp dụng đối với trường hợp tài sản có giá trị lớn, đối với các tài sản có giá trị nhỏ hoặc các loại giấy tờ thì không nên áp dụng quy định này vì trong thực tiễn, việc xin xác nhận của trại giam vào đơn xin nhận tài sản hoặc giấy ủy quyền cũng gặp rất nhiều khó khăn do phạm nhân bị quản lý rất chặt chẽ, việc người nhà phạm nhân đến trại giam xin xác nhận ủy quyền nhận tài sản cũng rất khó khăn, mất nhiều thời gian tổ chức thi hành án. Có trường hợp, trại giam còn yêu cầu xác nhận của chính quyền địa phương vào giấy ủy quyền rồi mới đồng ý xác nhận... Do đó, đối với các trường hợp tài sản có giá trị nhỏ, người thân của phạm nhân có thể xin xác nhận của chính quyền địa phương về nhân thân để đến nhận tài sản tại cơ quan thi hành án, điều này cũng sẽ giản tiện bớt thủ tục và cũng tạo thuận lợi cho chấp hành viên trong quá trình tác nghiệp.

Thứ ba, về thủ tục xử lý đối với trường hợp phạm nhân từ chối nhận tiền, tài sản

Khoản 3 Điều 129 Luật Thi hành án dân sựquy định, trường hợp người được thi hành án đang chấp hành hình phạt tù từ chối nhận lại tiền, tài sản bằng văn bản có xác nhận của giám thị trại giam, trại tạm giam thì chấp hành viên xử lý tiền, tài sản để sung quỹ nhà nước hoặc tiêu huỷ theo quy định của Luật này.

Khoản 4 Điều 10 Thông tư liên tịch số 07/2013/TTLT-BTP-BCA-BTC cũng quy định, trường hợp phạm nhân là người được thi hành án dân sự và không phải là người phải thi hành án dân sự mà từ chối nhận tiền, giấy tờ thì giám thị trại giam, thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự công an cấp huyện có trách nhiệm xác nhận vào văn bản từ chối đó và gửi cơ quan thi hành án dân sựđã chuyển giao quyết định thi hành án để tiến hành các thủ tục xử lý theo quy định của pháp luật.

Việc quy định phạm nhân phải có văn bản từ chối nhận tài sản cũng dẫn đến việc kéo dài thời gian thi hành án. Do đó, có thể xem xét quy định trong một thời hạn nhất định nếu phạm nhân đã được thông báo hợp lệ về việc nhận tiền, tài sản mà không ủy quyền cho người nhà đến nhận hoặc không thể thực hiện việc trả tài sản thì chấp hành viên xử lý tiền, tài sản để sung quỹ nhà nước hoặc tiêu huỷ theo quy định của Luật Thi hành án dân sự.

Mặt khác, quy định “chi phí cho việc gửi tiền, giấy tờ cho phạmnhân do phạm nhân chi trả” (khoản 2 Điều 11 Thông tư liên tịch số 07/2013/TTLT-BTP-BCA-BTC) cũng là một quy định rất khó có thể thực hiện trên thực tế, nhất là đối với những số tiền, tài sản có giá trị nhỏ, hoặc trả giấy tờ cho phạm nhân khi mà phạm nhân thường không có điều kiện, tài sản để thi hành đối với những khoản chi phí này. Do đó, nên quy định các chi phí này do ngân sách nhà nước chi trả từ nguồn phí thi hành án được trích lại theo quy định tại khoản1 Điều 11 Thông tư liên tịch số 07/2013/TTLT-BTP-BCA-BTC.

Để tháo gỡ khó khăn, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan thi hành án dân sự trong việc thi hành án mà người được thi hành án là phạm nhân, cần phải thực hiện đồng bộ và triệt để nhiều giải pháp, cụ thể như sau:

Một là, Thông tư liên tịch số 07/2013/TTLT-BTP-BCA-BTC chỉ quy định hướng dẫn trình tự, thủ tục thu, nộp, quản lý tiền, giấy tờ có giá hoặc giấy tờ khác (gọi chung là giấy tờ) của phạm nhân là người phải thi hành án dân sự hoặc thân nhân của họ tự nguyện nộp tại trại giam, trại tạm giam (gọi chung là trại giam), cơ quan thi hành án hình sự công an cấp huyện để thi hành án dân sự; trả tiền, giấy tờ cho phạm nhân là người được thi hành án dân sự tại trại giam, cơ quan thi hành án hình sự công an cấp huyện[4], trong khi đó, số lượng các việc thi hành án trả lại các tài sản khác cho phạm nhân là rất lớn, do đó cần xem xét bổ sung các quy định về việc phối hợp giữa trại giam, trại tạm giam với cơ quanthi hành án dân sự trong việc trả lại đối với những tài sản khác để thuận lợi cho việc áp dụng pháp luật.

Hai là, cần tăng cường hơn nữa cơ chế phối hợp giữa cơ quan thi hành án dân sự và trại giam, trại tạm giam, nơi giam giữ. Theo quy định tại Điều 3 Thông tư liên tịch số 07/2013/TTLT-BTP-BCA-BTC thì giám thị trại giam, thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự công an cấp huyện có trách nhiệm “thông báo cho cơ quan thi hành án dân sự nơi Tòa án đã xét xử sơ thẩm họ, tên, địa chỉ của phạm nhân là người phải thi hành án dân sự hoặc phạm nhân là người được thi hành án dân sự theo bản án hình sự, trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tiếp nhận phạm nhân vào trại giam”, tuy nhiên, cần sửa đổi quy định thời hạn trên. Theo đó, trường hợp phạm nhân (đương sự) đang bị tạm giam thì ngay khi nhận được bản án sơ thẩm của Tòa án, trại tạm giam, nơi giam giữ phải thông báo ngay cho cơ quan thi hành án dân sự nơi xét xử sơ thẩm biết nơi chấp hành hình phạt tù hoặc nơi bị tạm giam của phạm nhân. Trường hợp phạm nhân đang chấp hành hình phạt tù hoặc trường hợp phạm nhân đang tại ngoại và bị bắt đi thụ hình thì trại giam nơi phạm nhân thụ hình có trách nhiệm thông báo ngay cho cơ quan thi hành án dân sự nơi xét xử sơ thẩm biết nơi chấp hành hình phạt tù của phạm nhân.

Ba là, mặc dù khoản 4 Điều 4 Thông tư liên tịch số 07/2013/TTLT-BTP-BCA-BTC quy định, trường hợp phạm nhân là người được thi hành án thì cơ quan thi hành án dân sự trực tiếp chuyển tiền cho người được thi hành án thông qua giám thị trại giam, thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự công an cấp huyện hoặc chuyển vào tài khoản tạm gửi của trại giam, cơ quan thi hành án hình sự công an cấp huyện. Đối với giấy tờ khác thì cơ quan thi hành án dân sự chuyển giao cho giám thị trại giam, thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự công an cấp huyện để trả lại cho phạm nhân là người được thi hành án, tuy nhiên,quy định này của Thông tư lại không áp dụng đối với các tài sản khác. Do đó, cần xem xét bổ sung quy định rõ đối với những trường hợp đã xác định được chính xác địa chỉ trại giam, cơ quan thi hành án dân sự thực hiện luôn việc chuyển trả tài sản vào trại giam để trại giam tiến hành trả cho phạm nhân mà không cần các thủ tục như đơn xin nhận tài sản, ủy quyền nhận tài sản… để rút ngắn thời gian thi hành án.

Bốn là, đối với những tài sản có giá trị nhỏ, đề nghị bổ sung quy định thống nhất một phương án xử lý chung đối với loại tài sản này (ví dụ: Giá trị tài sản dưới 1.000.000 đồng) thì Tòa án có thể tuyên tịch thu để sung công quỹ nhà nước hoặc tiêu hủy (đối với tài sản đã quá cũ, giảm giá trị), không nên tuyên trả lại cho đương sự, đặc biệt đối với đương sự là bị cáo phải chịu hình phạt tù giam với thời gian dài. Mặt khác, cần nâng cao trách nhiệm kiểm sát của Viện kiểm sát đối với hoạt động kiểm sát vật chứng, tang vật vụ án theo đúng quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Theo đó, chỉ yêu cầu chuyển cơ quan thi hành án dân sự khi tài sản, giấy tờ là vật chứng, tang vật của vụ án, còn những tài sản, giấy tờ không phải là tang vật, vật chứng của vụ án cần phải yêu cầu cơ quan điều tra trả ngay cho đương sự. Việc này sẽ giúp giảm tải số lượng việc thi hành án đáng kể cho các cơ quan thi hành án dân sự và góp phần tiết kiệm thời gian, nhân lực, chi phí của Nhà nước .

Năm là, đề nghị xem xét bổ sung khoản 3 Điều 169 Luật Thi hành án dân sự về nhiệm vụ quyền hạn của Bộ Công an. Ngoài quy định chỉ đạo trại giam, trại tạm giam nơi người phải thi hành án đang chấp hành hình phạt tù thu các khoản tiền, tài sản mà người phải thi hành án, thân nhân của người phải thi hành án nộp để thi hành án, nên bổ sung quy định về việc chỉ đạo trại giam, trại tạm giam có trách nhiệm phối hợp với cơ quan thi hành án dân sự trong việc trả lại tiền, tài sản cho người được thi hành án là phạm nhân để tăng cường sự phối hợp hiệu quả giữa các cơ quan trực thuộc Bộ Công an với các cơ quan thi hành án dân sự trong việc thi hành án trả lại tiền, tài sản, giấy tờ cho người được thi hành án là phạm nhân.

ThS. Hoàng Thị Thanh Hoa

Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội

ThS. Đinh Duy Bằng

Văn phòng Luật sư Trường Thành, tỉnh Bình Dương


[1] Xem thêm: Nguyễn Linh Anh, Những khó khăn trong việc trả tiền, tài sản, giấy tờ cho người được thi hành án là phạm nhân, nguồn: http://thads.moj.gov.vn/noidung/tintuc/lists/tuthuctien/view_detail.aspx?itemid=276.

[2] Khoản 2 Điều 10 Thông tư liên tịch số 07/2013/TTLT-BTP-BCA-BTC.[3]Nguyễn Tuấn, Công tác phối hợp giữa cơ quan thi hành án dân sự và cơ quan công an trong thi hành án dân sự - Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả, http://thads.moj.gov.vn/tuyenquang/noidung/tintuc/lists/thongtinkhac/view_detail.aspx?itemid=67.

[4] Điều 1 Thông tư liên tịch số 07/2013/TTLT-BTP-BCA-BTC.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: