Thứ hai 16/03/2026 14:51
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Trách nhiệm của chủ thể cung cấp dịch vụ trên internet đối với việc bảo vệ dữ liệu cá nhân

Bài viết này nghiên cứu, phân tích trách nhiệm của chủ thể cung cấp dịch vụ trên internet đối với việc bảo vệ dữ liệu cá nhân trong môi trường kỹ thuật số, từ đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.

1. Khái niệm dữ liệu cá nhân và chủ thể cung cấp dịch vụ trên internet

1.1. Khái niệm dữ liệu cá nhân

Khoản 3 Điều 38 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Thư tín, điện thoại, điện tín, cơ sở dữ liệu điện tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của cá nhân được bảo đảm an toàn và bí mật”. Tuy không đề cập trực tiếp thuật ngữ “dữ liệu cá nhân” nhưng Bộ luật Dân sự năm 2015 đề cập đến các nội dung “thông tin”, “dữ liệu” cá nhân thuộc quyền về đời sống riêng. Do đó, theo pháp luật Việt Nam, “dữ liệu cá nhân” có thể được xem là một phần thuộc quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình.

Trong khoa học pháp lý, định nghĩa về dữ liệu cá nhân cũng hết sức đa dạng, nhưng phần lớn đều thể hiện phạm vi khái quát và bao hàm cả “thông tin”. Đạo luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân (Data Protection Act 2018) của Vương Quốc Anh quy định: “Dữ liệu cá nhân (Personal Data) có nghĩa là bất kỳ thông tin nào liên quan đến một cá nhân sống đã được xác định hoặc có thể xác định được”. Theo quy định bảo vệ dữ liệu chung (General Data Protection Regulation (GDPR), có hiệu lực vào tháng 5 năm 2018) của Liên minh châu Âu EU[1] thì dữ liệu cá nhân được hiểu là bất kỳ thông tin nào liên quan đến một cá nhân có thể được xác định trực tiếp hoặc gián tiếp. Có thể thấy, sử dụng cụm từ “thông tin” ở Hoa Kỳ hẹp hơn so với các quốc gia châu Âu, tuy nhiên, xu hướng mở rộng phạm vi “dữ liệu cá nhân” đang được thực hiện bởi các bang của Hoa Kỳ.

Nghị định số 13/2023/NĐ-CP ngày 17/4/2023 của Chính phủ về bảo vệ dữ liệu cá nhân (Nghị định số 13/2023/NĐ-CP) quy định: “Dữ liệu cá nhân là thông tin dưới dạng ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự trên môi trường điện tử gắn liền với một con người cụ thể hoặc giúp xác định một con người cụ thể. Dữ liệu cá nhân bao gồm dữ liệu cá nhân cơ bản và dữ liệu cá nhân nhạy cảm”. Như vậy, khái niệm dữ liệu cá nhân của pháp luật Việt Nam tiệm cận so với các quy định của các nền pháp lý trên thế giới. Dữ liệu cá nhân không đề cập đến dữ liệu tổ chức, tức là các thông tin về một pháp nhân, một tổ chức thì không được áp dụng quy chế về bảo vệ dữ liệu cá nhân nhưng thành viên của tổ chức đó là các cá nhân thì được áp dụng quy chế này.

1.2. Khái niệm chủ thể cung cấp dịch vụ trên internet

Theo từ điển, “nhà cung cấp dịch vụ” là một doanh nghiệp kinh doanh cung cấp dịch vụ cho khách hàng, đặc biệt là dịch vụ kết nối khách hàng với internet[2]. Ở đây còn có khái niệm về “nhà cung cấp dịch vụ trung gian”. “Người trung gian” (intermediary) là một người hoặc một tổ chức giúp những người hoặc tổ chức khác đạt được thỏa thuận bằng cách trở thành phương tiện liên lạc giữa họ[3]. Như vậy, “nhà cung cấp dịch vụ trung gian” là chủ thể (người hoặc tổ chức) cung cấp các dịch vụ (thường là internet) để các chủ thể khác trong xã hội đạt được các lợi ích nhất định, dịch vụ này là nền tảng kết nối để làm được điều đó.

Nhóm chủ thể này thực hiện chức năng là cung cấp nền tảng trên môi trường kỹ thuật số cho người dùng thực hiện các thao tác như trao đổi thông tin, hàng hoá, đáp ứng các nhu cầu nhất định. Chẳng hạn, chủ thể cung cấp internet như các nhà mạng viễn thông, các chủ thể cung cấp ứng dụng để kết nối như Facebook, Zalo…, các chủ thể cung cấp nền tảng trao đổi hàng hoá như Shoppee, Lazada…, các chủ thể cung cấp nền tảng thực hiện tác vụ nhất định như dịch thuật, tìm kiếm dữ liệu, chỉnh sửa thông tin yêu cầu… hay nói đúng hơn là nhóm chủ thể cung cấp các dịch vụ trên môi trường internet.

Các chủ thể nêu trên được phân thành hai nhóm chủ thể: Chủ thể cung cấp môi trường internet và chủ thể cung cấp các dịch vụ trên môi trường internet[4]. Tác giả cho rằng, thuật ngữ chung nhất và phù hợp nhất khi xác định khái niệm bao quát là “chủ thể cung cấp dịch vụ trên internet”, bao gồm cả hai nhóm chủ thể trên. Việc làm rõ nội hàm này góp phần xác định phạm vi chủ thể chịu trách nhiệm trong vấn đề bảo vệ dữ liệu cá nhân của người sử dụng internet.

2. Vai trò và trách nhiệm pháp lý của chủ thể cung cấp dịch vụ trên internet trong bảo vệ dữ liệu cá nhân

2.1. Vai trò của chủ thể cung cấp dịch vụ trên internet trong bảo vệ dữ liệu cá nhân

Nhà cung cấp dịch vụ trung gian hay tổ chức cung cấp dịch vụ mạng đã trở thành “trụ cột” khi họ cung cấp cơ sở hạ tầng kết nối. Họ cấp quyền truy cập, lưu trữ, truyền và đưa nội dung, sản phẩm và dịch vụ do bên thứ ba tạo ra trên internet hoặc cung cấp dịch vụ dựa trên internet cho bên thứ ba[5]. Vai trò quan trọng của nhóm chủ thể này là tạo nền tảng, môi trường, cơ sở hạ tầng cho các chủ thể tiến hành các giao dịch trên môi trường internet. Để cung cấp cho các chủ thể các điều kiện trên, việc được truy cập internet và sử dụng các tiện ích của nó, người dùng phải thực hiện việc cung cấp các thông tin định danh để phục vụ cho vấn đề trả phí và quản lý thông tin cần thiết như họ tên, số căn cước công dân (giấy tờ tùy thân), hình ảnh, số điện thoại, địa chỉ email, nơi làm việc, mức lương… đây là những yếu tố được xem là gắn liền với mỗi cá nhân góp phần xác định cá nhân đó mà được xác định là “dữ liệu cá nhân” như đã phân tích ở phần 1. Nhà cung cấp dịch vụ trung gian hay tổ chức cung cấp dịch vụ mạng sẽ có được thông tin của người dùng, lưu trữ và quản lý nó.

Tuy nhiên, vấn đề rò rỉ, mua bán, trao đổi, xâm phạm dữ liệu cá nhân ngày càng phức tạp, cho thấy phần trách nhiệm của chủ thể cung cấp dịch vụ trên internet chưa được thực hiện đầy đủ, thiện chí và tự giác. Chẳng hạn, năm 2019, Ngân hàng MSB bị lộ dữ liệu khách hàng[6]; năm 2021, khoảng 535 triệu tài khoản người dùng Facebook bị rò rỉ dữ liệu[7]… Thực trạng này đặt ra tính cấp thiết trong việc ban hành các giải pháp khắc phục, một trong số đó phải kể đến là việc nâng cao trách nhiệm của các chủ thể cung cấp dịch vụ trên internet trong quản lý nguồn dữ liệu cá nhân của người dùng mà mình có được.

2.2. Trách nhiệm pháp lý của chủ thể cung cấp dịch vụ internet trong bảo vệ dữ liệu cá nhân

Vì thu thập, quản lý một lượng lớn dữ liệu cá nhân nên trách nhiệm của chủ thể cung cấp dịch vụ internet được đặt ra để bảo vệ dữ liệu cá nhân người dùng. Đây được xem là trách nhiệm của doanh nghiệp đối với xã hội (CSR - Corporate Social Responsibility) mà học thuyết về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp hướng đến[8].

Trong hệ thống pháp luật của Liên minh châu Âu (EU), trách nhiệm của các nhà cung cấp dịch vụ trên internet (ISP) được áp dụng theo hai hệ thống tùy thuộc vào loại hành vi: Hệ thống trách nhiệm pháp lý nghiêm ngặt hay hệ thống trách nhiệm pháp lý nhẹ hơn. Với một hệ thống trách nhiệm pháp lý nghiêm ngặt, một ISP sẽ phải chịu trách nhiệm pháp lý, bất kể họ có biết và kiểm soát tài liệu được phổ biến thông qua các nền tảng mình cung cấp hay không[9]. Tuân thủ nghĩa vụ này là một nhiệm vụ kỹ thuật phức tạp, phần lớn các ISP nhỏ, những người không có đủ phương tiện để đáp ứng yêu cầu như thế này, sẽ phải đối mặt với mối đe dọa rất lớn về trách nhiệm pháp lý tiềm ẩn[10]. Trong một hệ thống khác dựa trên lỗi, một ISP sẽ phải chịu trách nhiệm nếu cố ý vi phạm các quyền của người khác.

Như vậy, có thể thấy, trách nhiệm của các chủ thể cung cấp dịch vụ internet thể hiện ở hai khía cạnh: (i) Áp dụng biện pháp bảo vệ dữ liệu cá nhân trong quá trình quản lý; (ii) Chịu trách nhiệm trước người dùng khi dữ liệu cá nhân bị xâm phạm.

3. Thực trạng pháp luật Việt Nam về trách nhiệm của chủ thể cung cấp dịch vụ internet và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Nhận thấy tính cấp thiết của việc bảo vệ dữ liệu cá nhân, đặc biệt là trên nền tảng kỹ thuật số, Nghị định số 13/2023/NĐ-CP ngày 17/4/2023 của Chính phủ về bảo vệ dữ liệu cá nhân (Nghị định số 13/2023/NĐ-CP) ra đời như là một văn bản pháp lý ghi nhận chung nhất về vấn đề dữ liệu cá nhân[11]. Tuy nhiên, dưới góc độ pháp luật dân sự, chưa có quy định nào đề cập trách nhiệm của chủ thể cung cấp dịch vụ trên internet.

Đề cập khái niệm này, trong Luật Giao dịch điện tử năm 2005 ghi nhận đó là “tổ chức cung cấp dịch vụ mạng” cung cấp hạ tầng đường truyền và các dịch vụ khác có liên quan để thực hiện giao dịch điện tử. Điều 198b Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2022 (Luật Sở hữu trí tuệ) quy định về trách nhiệm của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian: “Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian là doanh nghiệp cung cấp phương tiện, kỹ thuật để tổ chức, cá nhân sử dụng dịch vụ đưa nội dung thông tin số lên môi trường mạng viễn thông và mạng internet; cung cấp kết nối trực tuyến cho công chúng tiếp cận, sử dụng nội dung thông tin số trên môi trường mạng viễn thông và mạng internet”.

Theo tác giả, thuật ngữ trên được sử dụng không có sự thống nhất. Bởi vì, hiên nay, trên nền tảng internet, các chủ thể cung cấp phương tiện hỗ trợ cho người sử dụng gồm: Chủ thể cung cấp môi trường internet như các nhà mạng, bưu chính viễn thông và các chủ thể cung cấp các nền tảng trao đổi thông tin, thực hiện các tác vụ phục vụ người dùng như: Facebook, Tiktok, Lazada, Small PDF… Vì vậy, tác giả cho rằng, cần có sự thống nhất trong cách định nghĩa tại Việt Nam, bởi các chủ thể này đều có vai trò quan trọng trong quản lý thông tin của người sử dụng gọi là dữ liệu cá nhân. Dựa vào các nghiên cứu trên, tác giả kiến nghị, các chủ thể trên nên được gọi là “chủ thể cung cấp dịch vụ trên internet”, bởi nếu gọi là “chủ thể cung cấp dịch vụ trung gian” như tại Điều 198b Luật Sở hữu trí tuệ chưa bao quát đủ nhóm chủ thể cung cấp dịch vụ trực tiếp như Small PDF, dịch vụ chuyển đổi ngôn ngữ,… hay “tổ chức cung cấp dịch vụ mạng” như Luật Giao dịch điện tử năm 2005 chỉ bao gồm nhà cung cấp mạng internet, trong khi cả hai nhóm chủ thể này đều có vai trò, trách nhiệm trong bảo vệ dữ liệu cá nhân của người tiêu dùng đã được phân tích ở phần 2.

Đề cập đến trách nhiệm của chủ thể cung cấp dịch vụ internet trong bảo vệ dữ liệu cá nhân, hiện nay pháp luật Việt Nam chưa quy định cụ thể. Điều 198b Luật Sở hữu trí tuệ chỉ mới đề cập đến trách nhiệm của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian trong bảo vệ quyền tác giả, quyền liên quan. Doanh nghiệp này cũng được miễn trừ trách nhiệm nếu rơi vào các trường hợp mà luật quy định khi đã thực hiện hết các nghĩa vụ bảo mật của mình. Đây cũng là nội dung cần tham khảo khi quy định trách nhiệm nhóm chủ thể này trong bảo vệ dữ liệu cá nhân.

Nghị định số 13/2023/NĐ-CP ghi nhận trách nhiệm của bên kiểm soát dữ liệu và bên xử lý dữ liệu, tuy nhiên, các nội dung chỉ đề cập vấn đề trao đổi, quản lý dữ liệu cá nhân, chưa có các “chế tài” được áp dụng nếu nhóm chủ thể này thực hiện không đúng, không đầy đủ hoặc không thực hiện các nội dung mà Nghị định yêu cầu.

Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng chưa có sự ghi nhận về nội dung này. Điều 11 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định các phương thức bảo vệ quyền dân sự trong đó có buộc bồi thường thiệt hại, khoản 11 Điều 9 Nghị định số 13/2023/NĐ-CP dẫn chiếu đến nội dung tại Điều 11 Bộ luật Dân sự năm 2015. Vậy chủ thể bị xâm phạm dữ liệu cá nhân được quyền yêu cầu chủ thể cung cấp dịch vụ trên internet liên đới bồi thường thiệt hại cho mình hay không? Triết lý bồi thường thiệt hại của pháp luật Việt Nam là thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ[12]. Như vậy, áp dụng với vấn đề đang xem xét, có thể thấy rõ như sau:

Một là, có thiệt hại xảy ra trên thực tế: Thiệt hại này có thể là thiệt hại vật chất hoặc tinh thần do chủ thể quyền chứng minh.

Hai là, có hành vi gây ra thiệt hại: Chủ thể cung cấp dịch vụ trung gian đã không thực hiện đúng, đầy đủ trách nhiệm mà luật quy định khi bảo vệ dữ liệu cá nhân (chưa xét đến chủ thể cung cấp dịch vụ trung gian trực tiếp thực hiện hành vi xâm phạm).

Ba là, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây thiệt hại và thiệt hại: Chính vì hành vi thực hiện không đúng trách nhiệm mà luật quy định mà đã gián tiếp gây nên thiệt hại cho người tiêu dùng. Yếu tố lỗi cũng cần được xem xét để xác định mức độ bồi thường thiệt hại. Thiệt hại ở đây là toàn bộ thiệt hại vật chất và tinh thần mà chủ thể dữ liệu bị xâm phạm và thiệt hại này sẽ không xảy ra nếu chủ thể cung cấp dịch vụ trên internet thực hiện đúng trách nhiệm của mình trên môi trường số. Do đó, xuất phát từ học thuyết trách nhiệm gián tiếp (Vicarious liability theory[13]), tác giả cho rằng, cần ghi nhận trách nhiệm của chủ thể cung cấp dịch vụ trên internet, gồm trách nhiệm về mặt kỹ thuật và bồi thường thiệt hại bên cạnh chủ thể trực tiếp gây thiệt hại cho chủ thể dữ liệu, tức hai khoản thiệt hại này là khác nhau (một thiệt hại gián tiếp và một thiệt hại trực tiếp).

Tác giả đề xuất, bên cạnh quy định thống nhất khái niệm chủ thể cung cấp dịch vụ trên internet nêu trên, cần bổ sung quy định về trách nhiệm của nhóm chủ thể này vào Nghị định số 13/2023/NĐ-CP nếu có điều kiện sửa đổi, bổ sung, theo hướng:

Thứ nhất, trách nhiệm trong bảo mật dữ liệu cá nhân: Chủ thể phải thực hiện các biện pháp kỹ thuật cần thiết trong khả năng của mình để bảo vệ tối đa dữ liệu cá nhân mà mình quản lý, lưu trữ hoặc cho phép lưu trữ, thể hiện trên nền tảng. Nếu không trang bị được, chủ thể đó không được thực hiện cung cấp dịch vụ trên internet tại Việt Nam.

Thứ hai, bổ sung quy định về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đối với chủ thể cung cấp dịch vụ trên internet trong trường hợp không thực hiện đúng, đầy đủ trách nhiệm của mình trong bảo vệ dữ liệu cá nhân. Thiệt hại ở đây là thiệt hại về vật chất, tinh thần cho chủ thể dữ liệu đáng ra họ sẽ không phải gánh chịu nếu không có hành vi gián tiếp này.

Thứ ba, bổ sung quy định về loại trừ trách nhiệm cho chủ thể này nếu họ đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ bảo mật nêu trên.

TS. Nguyễn Xuân Quang

ThS. Lê Nhật Hồng

Khoa Luật Dân sự, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

ThS. Đặng Thị Thúy Thành

Đại học Công nghiệp Dệt May Hà Nội

[1]. Xem thêm: What is GDPR, the EU’s new data protection, https://gdpr.eu/what-is-gdpr/, truy cập ngày 26/02/2023.

[2]. Xem: https://www.oxfordlearnersdictionaries.com/definition/american_english/service-provider#:~:text=service%20 provider-,noun,Internet%20an%20Internet%20service%20provider, truy cập ngày 26/02/2023.

[3]. Xem: https://www.oxfordlearnersdictionaries.com/definition/english/intermediary_1?q=intermediary, truy cập ngày 26/02/2023.

[4]. Một số tài liệu còn phân chia thành:

- Nhà điều hành mạng cung cấp các phương tiện kỹ thuật để truyền thông tin.

- Nhà cung cấp truy cập: Cung cấp cho người dùng quyền truy cập vào internet.

- Công cụ Tìm kiếm: Các công cụ trực tuyến được sử dụng để tìm các trang Web như Yahoo!, AltaVista, Google v.v...

- Nhà cung cấp dịch vụ lưu trữ: Các dịch vụ trong đó người dùng có thể thuê không gian trang Web, thiết lập các trang Web và tải nội dung lên, chẳng hạn như phần mềm, văn bản, đồ họa hoặc âm thanh.

Xem thêm: http://www.eclip.org/eclip_l.htm., truy cập ngày 27/02/2023.

[5]. Organisation for Economic Cooperation and Development (2010), The Economic and Social Role of Internet Intermediaries, pp.9.

[6]. Xem: https://antoanthongtin.vn/an-toan-thong-tin/ngan-hang-msb-bi-lo-2-trieu-du-lieu-khach-hang-105655, truy cập ngày 20/02/2023.

[7]. Xem: https://laodong.vn/kinh-doanh/hon-500-trieu-nguoi-dung-facebook-bi-ro-ri-du-lieu-lo-lot-tu-he-thong-895759.ldo, truy cập ngày 22/02/2023.

[8]. Xem mô hình trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp gồm các thành tố: Kanji, G.K., & Chopra, P. (2007), “Poverty as system: Human contestability approach to poverty measurement”, Journal of Applied Statistics, 34, p. 1135 - 1158.

[9]. Rosa Julia-Barcelo, “Liability for Online Intennediaries:A European Perspective”, http://www.eclip.org/eclip_l.htm, truy cập ngày 27/02/2023.

[10]. Pablo Baistrocchi (2003), “Liability of Intermediary Service Providers in the EU Directive on Electronic Commerce”, Santa Clara High Technology Law Journal, Volume 19, Issue 1, pp. 114.

[11]. Ngoài ra còn có văn bản khác đề cập như Luật An ninh mạng năm 2018; Luật Dược năm 2016; Luật Công nghệ thông tin năm 2006; Luật Hàng không dân dụng Việt Nam năm 2006, sửa đổi, bổ sung năm 2013, 2014.

[12]. Điều 13 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[13]. Học thuyết đề cập đến tính hợp lý của việc ghi nhận trách nhiệm chủ thể không trực tiếp thực hiện hành vi xâm phạm nhưng đóng vai trò chủ đạo dẫn đến thiệt hại xảy ra.

Xem thêm: WE Scott (1979), “The theory of risk liability and its application to vicarious liability”, The Comparative and International Law Journal of Southern Africa, Vol. 12, No. 1, pp.44 - 64.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 384), tháng 7/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.

Theo dõi chúng tôi trên: