Thứ sáu 15/05/2026 00:07
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Trách nhiệm của chủ thể cung cấp dịch vụ trên internet đối với việc bảo vệ dữ liệu cá nhân

Bài viết này nghiên cứu, phân tích trách nhiệm của chủ thể cung cấp dịch vụ trên internet đối với việc bảo vệ dữ liệu cá nhân trong môi trường kỹ thuật số, từ đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.

1. Khái niệm dữ liệu cá nhân và chủ thể cung cấp dịch vụ trên internet

1.1. Khái niệm dữ liệu cá nhân

Khoản 3 Điều 38 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Thư tín, điện thoại, điện tín, cơ sở dữ liệu điện tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của cá nhân được bảo đảm an toàn và bí mật”. Tuy không đề cập trực tiếp thuật ngữ “dữ liệu cá nhân” nhưng Bộ luật Dân sự năm 2015 đề cập đến các nội dung “thông tin”, “dữ liệu” cá nhân thuộc quyền về đời sống riêng. Do đó, theo pháp luật Việt Nam, “dữ liệu cá nhân” có thể được xem là một phần thuộc quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình.

Trong khoa học pháp lý, định nghĩa về dữ liệu cá nhân cũng hết sức đa dạng, nhưng phần lớn đều thể hiện phạm vi khái quát và bao hàm cả “thông tin”. Đạo luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân (Data Protection Act 2018) của Vương Quốc Anh quy định: “Dữ liệu cá nhân (Personal Data) có nghĩa là bất kỳ thông tin nào liên quan đến một cá nhân sống đã được xác định hoặc có thể xác định được”. Theo quy định bảo vệ dữ liệu chung (General Data Protection Regulation (GDPR), có hiệu lực vào tháng 5 năm 2018) của Liên minh châu Âu EU[1] thì dữ liệu cá nhân được hiểu là bất kỳ thông tin nào liên quan đến một cá nhân có thể được xác định trực tiếp hoặc gián tiếp. Có thể thấy, sử dụng cụm từ “thông tin” ở Hoa Kỳ hẹp hơn so với các quốc gia châu Âu, tuy nhiên, xu hướng mở rộng phạm vi “dữ liệu cá nhân” đang được thực hiện bởi các bang của Hoa Kỳ.

Nghị định số 13/2023/NĐ-CP ngày 17/4/2023 của Chính phủ về bảo vệ dữ liệu cá nhân (Nghị định số 13/2023/NĐ-CP) quy định: “Dữ liệu cá nhân là thông tin dưới dạng ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự trên môi trường điện tử gắn liền với một con người cụ thể hoặc giúp xác định một con người cụ thể. Dữ liệu cá nhân bao gồm dữ liệu cá nhân cơ bản và dữ liệu cá nhân nhạy cảm”. Như vậy, khái niệm dữ liệu cá nhân của pháp luật Việt Nam tiệm cận so với các quy định của các nền pháp lý trên thế giới. Dữ liệu cá nhân không đề cập đến dữ liệu tổ chức, tức là các thông tin về một pháp nhân, một tổ chức thì không được áp dụng quy chế về bảo vệ dữ liệu cá nhân nhưng thành viên của tổ chức đó là các cá nhân thì được áp dụng quy chế này.

1.2. Khái niệm chủ thể cung cấp dịch vụ trên internet

Theo từ điển, “nhà cung cấp dịch vụ” là một doanh nghiệp kinh doanh cung cấp dịch vụ cho khách hàng, đặc biệt là dịch vụ kết nối khách hàng với internet[2]. Ở đây còn có khái niệm về “nhà cung cấp dịch vụ trung gian”. “Người trung gian” (intermediary) là một người hoặc một tổ chức giúp những người hoặc tổ chức khác đạt được thỏa thuận bằng cách trở thành phương tiện liên lạc giữa họ[3]. Như vậy, “nhà cung cấp dịch vụ trung gian” là chủ thể (người hoặc tổ chức) cung cấp các dịch vụ (thường là internet) để các chủ thể khác trong xã hội đạt được các lợi ích nhất định, dịch vụ này là nền tảng kết nối để làm được điều đó.

Nhóm chủ thể này thực hiện chức năng là cung cấp nền tảng trên môi trường kỹ thuật số cho người dùng thực hiện các thao tác như trao đổi thông tin, hàng hoá, đáp ứng các nhu cầu nhất định. Chẳng hạn, chủ thể cung cấp internet như các nhà mạng viễn thông, các chủ thể cung cấp ứng dụng để kết nối như Facebook, Zalo…, các chủ thể cung cấp nền tảng trao đổi hàng hoá như Shoppee, Lazada…, các chủ thể cung cấp nền tảng thực hiện tác vụ nhất định như dịch thuật, tìm kiếm dữ liệu, chỉnh sửa thông tin yêu cầu… hay nói đúng hơn là nhóm chủ thể cung cấp các dịch vụ trên môi trường internet.

Các chủ thể nêu trên được phân thành hai nhóm chủ thể: Chủ thể cung cấp môi trường internet và chủ thể cung cấp các dịch vụ trên môi trường internet[4]. Tác giả cho rằng, thuật ngữ chung nhất và phù hợp nhất khi xác định khái niệm bao quát là “chủ thể cung cấp dịch vụ trên internet”, bao gồm cả hai nhóm chủ thể trên. Việc làm rõ nội hàm này góp phần xác định phạm vi chủ thể chịu trách nhiệm trong vấn đề bảo vệ dữ liệu cá nhân của người sử dụng internet.

2. Vai trò và trách nhiệm pháp lý của chủ thể cung cấp dịch vụ trên internet trong bảo vệ dữ liệu cá nhân

2.1. Vai trò của chủ thể cung cấp dịch vụ trên internet trong bảo vệ dữ liệu cá nhân

Nhà cung cấp dịch vụ trung gian hay tổ chức cung cấp dịch vụ mạng đã trở thành “trụ cột” khi họ cung cấp cơ sở hạ tầng kết nối. Họ cấp quyền truy cập, lưu trữ, truyền và đưa nội dung, sản phẩm và dịch vụ do bên thứ ba tạo ra trên internet hoặc cung cấp dịch vụ dựa trên internet cho bên thứ ba[5]. Vai trò quan trọng của nhóm chủ thể này là tạo nền tảng, môi trường, cơ sở hạ tầng cho các chủ thể tiến hành các giao dịch trên môi trường internet. Để cung cấp cho các chủ thể các điều kiện trên, việc được truy cập internet và sử dụng các tiện ích của nó, người dùng phải thực hiện việc cung cấp các thông tin định danh để phục vụ cho vấn đề trả phí và quản lý thông tin cần thiết như họ tên, số căn cước công dân (giấy tờ tùy thân), hình ảnh, số điện thoại, địa chỉ email, nơi làm việc, mức lương… đây là những yếu tố được xem là gắn liền với mỗi cá nhân góp phần xác định cá nhân đó mà được xác định là “dữ liệu cá nhân” như đã phân tích ở phần 1. Nhà cung cấp dịch vụ trung gian hay tổ chức cung cấp dịch vụ mạng sẽ có được thông tin của người dùng, lưu trữ và quản lý nó.

Tuy nhiên, vấn đề rò rỉ, mua bán, trao đổi, xâm phạm dữ liệu cá nhân ngày càng phức tạp, cho thấy phần trách nhiệm của chủ thể cung cấp dịch vụ trên internet chưa được thực hiện đầy đủ, thiện chí và tự giác. Chẳng hạn, năm 2019, Ngân hàng MSB bị lộ dữ liệu khách hàng[6]; năm 2021, khoảng 535 triệu tài khoản người dùng Facebook bị rò rỉ dữ liệu[7]… Thực trạng này đặt ra tính cấp thiết trong việc ban hành các giải pháp khắc phục, một trong số đó phải kể đến là việc nâng cao trách nhiệm của các chủ thể cung cấp dịch vụ trên internet trong quản lý nguồn dữ liệu cá nhân của người dùng mà mình có được.

2.2. Trách nhiệm pháp lý của chủ thể cung cấp dịch vụ internet trong bảo vệ dữ liệu cá nhân

Vì thu thập, quản lý một lượng lớn dữ liệu cá nhân nên trách nhiệm của chủ thể cung cấp dịch vụ internet được đặt ra để bảo vệ dữ liệu cá nhân người dùng. Đây được xem là trách nhiệm của doanh nghiệp đối với xã hội (CSR - Corporate Social Responsibility) mà học thuyết về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp hướng đến[8].

Trong hệ thống pháp luật của Liên minh châu Âu (EU), trách nhiệm của các nhà cung cấp dịch vụ trên internet (ISP) được áp dụng theo hai hệ thống tùy thuộc vào loại hành vi: Hệ thống trách nhiệm pháp lý nghiêm ngặt hay hệ thống trách nhiệm pháp lý nhẹ hơn. Với một hệ thống trách nhiệm pháp lý nghiêm ngặt, một ISP sẽ phải chịu trách nhiệm pháp lý, bất kể họ có biết và kiểm soát tài liệu được phổ biến thông qua các nền tảng mình cung cấp hay không[9]. Tuân thủ nghĩa vụ này là một nhiệm vụ kỹ thuật phức tạp, phần lớn các ISP nhỏ, những người không có đủ phương tiện để đáp ứng yêu cầu như thế này, sẽ phải đối mặt với mối đe dọa rất lớn về trách nhiệm pháp lý tiềm ẩn[10]. Trong một hệ thống khác dựa trên lỗi, một ISP sẽ phải chịu trách nhiệm nếu cố ý vi phạm các quyền của người khác.

Như vậy, có thể thấy, trách nhiệm của các chủ thể cung cấp dịch vụ internet thể hiện ở hai khía cạnh: (i) Áp dụng biện pháp bảo vệ dữ liệu cá nhân trong quá trình quản lý; (ii) Chịu trách nhiệm trước người dùng khi dữ liệu cá nhân bị xâm phạm.

3. Thực trạng pháp luật Việt Nam về trách nhiệm của chủ thể cung cấp dịch vụ internet và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Nhận thấy tính cấp thiết của việc bảo vệ dữ liệu cá nhân, đặc biệt là trên nền tảng kỹ thuật số, Nghị định số 13/2023/NĐ-CP ngày 17/4/2023 của Chính phủ về bảo vệ dữ liệu cá nhân (Nghị định số 13/2023/NĐ-CP) ra đời như là một văn bản pháp lý ghi nhận chung nhất về vấn đề dữ liệu cá nhân[11]. Tuy nhiên, dưới góc độ pháp luật dân sự, chưa có quy định nào đề cập trách nhiệm của chủ thể cung cấp dịch vụ trên internet.

Đề cập khái niệm này, trong Luật Giao dịch điện tử năm 2005 ghi nhận đó là “tổ chức cung cấp dịch vụ mạng” cung cấp hạ tầng đường truyền và các dịch vụ khác có liên quan để thực hiện giao dịch điện tử. Điều 198b Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2022 (Luật Sở hữu trí tuệ) quy định về trách nhiệm của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian: “Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian là doanh nghiệp cung cấp phương tiện, kỹ thuật để tổ chức, cá nhân sử dụng dịch vụ đưa nội dung thông tin số lên môi trường mạng viễn thông và mạng internet; cung cấp kết nối trực tuyến cho công chúng tiếp cận, sử dụng nội dung thông tin số trên môi trường mạng viễn thông và mạng internet”.

Theo tác giả, thuật ngữ trên được sử dụng không có sự thống nhất. Bởi vì, hiên nay, trên nền tảng internet, các chủ thể cung cấp phương tiện hỗ trợ cho người sử dụng gồm: Chủ thể cung cấp môi trường internet như các nhà mạng, bưu chính viễn thông và các chủ thể cung cấp các nền tảng trao đổi thông tin, thực hiện các tác vụ phục vụ người dùng như: Facebook, Tiktok, Lazada, Small PDF… Vì vậy, tác giả cho rằng, cần có sự thống nhất trong cách định nghĩa tại Việt Nam, bởi các chủ thể này đều có vai trò quan trọng trong quản lý thông tin của người sử dụng gọi là dữ liệu cá nhân. Dựa vào các nghiên cứu trên, tác giả kiến nghị, các chủ thể trên nên được gọi là “chủ thể cung cấp dịch vụ trên internet”, bởi nếu gọi là “chủ thể cung cấp dịch vụ trung gian” như tại Điều 198b Luật Sở hữu trí tuệ chưa bao quát đủ nhóm chủ thể cung cấp dịch vụ trực tiếp như Small PDF, dịch vụ chuyển đổi ngôn ngữ,… hay “tổ chức cung cấp dịch vụ mạng” như Luật Giao dịch điện tử năm 2005 chỉ bao gồm nhà cung cấp mạng internet, trong khi cả hai nhóm chủ thể này đều có vai trò, trách nhiệm trong bảo vệ dữ liệu cá nhân của người tiêu dùng đã được phân tích ở phần 2.

Đề cập đến trách nhiệm của chủ thể cung cấp dịch vụ internet trong bảo vệ dữ liệu cá nhân, hiện nay pháp luật Việt Nam chưa quy định cụ thể. Điều 198b Luật Sở hữu trí tuệ chỉ mới đề cập đến trách nhiệm của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian trong bảo vệ quyền tác giả, quyền liên quan. Doanh nghiệp này cũng được miễn trừ trách nhiệm nếu rơi vào các trường hợp mà luật quy định khi đã thực hiện hết các nghĩa vụ bảo mật của mình. Đây cũng là nội dung cần tham khảo khi quy định trách nhiệm nhóm chủ thể này trong bảo vệ dữ liệu cá nhân.

Nghị định số 13/2023/NĐ-CP ghi nhận trách nhiệm của bên kiểm soát dữ liệu và bên xử lý dữ liệu, tuy nhiên, các nội dung chỉ đề cập vấn đề trao đổi, quản lý dữ liệu cá nhân, chưa có các “chế tài” được áp dụng nếu nhóm chủ thể này thực hiện không đúng, không đầy đủ hoặc không thực hiện các nội dung mà Nghị định yêu cầu.

Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng chưa có sự ghi nhận về nội dung này. Điều 11 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định các phương thức bảo vệ quyền dân sự trong đó có buộc bồi thường thiệt hại, khoản 11 Điều 9 Nghị định số 13/2023/NĐ-CP dẫn chiếu đến nội dung tại Điều 11 Bộ luật Dân sự năm 2015. Vậy chủ thể bị xâm phạm dữ liệu cá nhân được quyền yêu cầu chủ thể cung cấp dịch vụ trên internet liên đới bồi thường thiệt hại cho mình hay không? Triết lý bồi thường thiệt hại của pháp luật Việt Nam là thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ[12]. Như vậy, áp dụng với vấn đề đang xem xét, có thể thấy rõ như sau:

Một là, có thiệt hại xảy ra trên thực tế: Thiệt hại này có thể là thiệt hại vật chất hoặc tinh thần do chủ thể quyền chứng minh.

Hai là, có hành vi gây ra thiệt hại: Chủ thể cung cấp dịch vụ trung gian đã không thực hiện đúng, đầy đủ trách nhiệm mà luật quy định khi bảo vệ dữ liệu cá nhân (chưa xét đến chủ thể cung cấp dịch vụ trung gian trực tiếp thực hiện hành vi xâm phạm).

Ba là, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây thiệt hại và thiệt hại: Chính vì hành vi thực hiện không đúng trách nhiệm mà luật quy định mà đã gián tiếp gây nên thiệt hại cho người tiêu dùng. Yếu tố lỗi cũng cần được xem xét để xác định mức độ bồi thường thiệt hại. Thiệt hại ở đây là toàn bộ thiệt hại vật chất và tinh thần mà chủ thể dữ liệu bị xâm phạm và thiệt hại này sẽ không xảy ra nếu chủ thể cung cấp dịch vụ trên internet thực hiện đúng trách nhiệm của mình trên môi trường số. Do đó, xuất phát từ học thuyết trách nhiệm gián tiếp (Vicarious liability theory[13]), tác giả cho rằng, cần ghi nhận trách nhiệm của chủ thể cung cấp dịch vụ trên internet, gồm trách nhiệm về mặt kỹ thuật và bồi thường thiệt hại bên cạnh chủ thể trực tiếp gây thiệt hại cho chủ thể dữ liệu, tức hai khoản thiệt hại này là khác nhau (một thiệt hại gián tiếp và một thiệt hại trực tiếp).

Tác giả đề xuất, bên cạnh quy định thống nhất khái niệm chủ thể cung cấp dịch vụ trên internet nêu trên, cần bổ sung quy định về trách nhiệm của nhóm chủ thể này vào Nghị định số 13/2023/NĐ-CP nếu có điều kiện sửa đổi, bổ sung, theo hướng:

Thứ nhất, trách nhiệm trong bảo mật dữ liệu cá nhân: Chủ thể phải thực hiện các biện pháp kỹ thuật cần thiết trong khả năng của mình để bảo vệ tối đa dữ liệu cá nhân mà mình quản lý, lưu trữ hoặc cho phép lưu trữ, thể hiện trên nền tảng. Nếu không trang bị được, chủ thể đó không được thực hiện cung cấp dịch vụ trên internet tại Việt Nam.

Thứ hai, bổ sung quy định về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đối với chủ thể cung cấp dịch vụ trên internet trong trường hợp không thực hiện đúng, đầy đủ trách nhiệm của mình trong bảo vệ dữ liệu cá nhân. Thiệt hại ở đây là thiệt hại về vật chất, tinh thần cho chủ thể dữ liệu đáng ra họ sẽ không phải gánh chịu nếu không có hành vi gián tiếp này.

Thứ ba, bổ sung quy định về loại trừ trách nhiệm cho chủ thể này nếu họ đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ bảo mật nêu trên.

TS. Nguyễn Xuân Quang

ThS. Lê Nhật Hồng

Khoa Luật Dân sự, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

ThS. Đặng Thị Thúy Thành

Đại học Công nghiệp Dệt May Hà Nội

[1]. Xem thêm: What is GDPR, the EU’s new data protection, https://gdpr.eu/what-is-gdpr/, truy cập ngày 26/02/2023.

[2]. Xem: https://www.oxfordlearnersdictionaries.com/definition/american_english/service-provider#:~:text=service%20 provider-,noun,Internet%20an%20Internet%20service%20provider, truy cập ngày 26/02/2023.

[3]. Xem: https://www.oxfordlearnersdictionaries.com/definition/english/intermediary_1?q=intermediary, truy cập ngày 26/02/2023.

[4]. Một số tài liệu còn phân chia thành:

- Nhà điều hành mạng cung cấp các phương tiện kỹ thuật để truyền thông tin.

- Nhà cung cấp truy cập: Cung cấp cho người dùng quyền truy cập vào internet.

- Công cụ Tìm kiếm: Các công cụ trực tuyến được sử dụng để tìm các trang Web như Yahoo!, AltaVista, Google v.v...

- Nhà cung cấp dịch vụ lưu trữ: Các dịch vụ trong đó người dùng có thể thuê không gian trang Web, thiết lập các trang Web và tải nội dung lên, chẳng hạn như phần mềm, văn bản, đồ họa hoặc âm thanh.

Xem thêm: http://www.eclip.org/eclip_l.htm., truy cập ngày 27/02/2023.

[5]. Organisation for Economic Cooperation and Development (2010), The Economic and Social Role of Internet Intermediaries, pp.9.

[6]. Xem: https://antoanthongtin.vn/an-toan-thong-tin/ngan-hang-msb-bi-lo-2-trieu-du-lieu-khach-hang-105655, truy cập ngày 20/02/2023.

[7]. Xem: https://laodong.vn/kinh-doanh/hon-500-trieu-nguoi-dung-facebook-bi-ro-ri-du-lieu-lo-lot-tu-he-thong-895759.ldo, truy cập ngày 22/02/2023.

[8]. Xem mô hình trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp gồm các thành tố: Kanji, G.K., & Chopra, P. (2007), “Poverty as system: Human contestability approach to poverty measurement”, Journal of Applied Statistics, 34, p. 1135 - 1158.

[9]. Rosa Julia-Barcelo, “Liability for Online Intennediaries:A European Perspective”, http://www.eclip.org/eclip_l.htm, truy cập ngày 27/02/2023.

[10]. Pablo Baistrocchi (2003), “Liability of Intermediary Service Providers in the EU Directive on Electronic Commerce”, Santa Clara High Technology Law Journal, Volume 19, Issue 1, pp. 114.

[11]. Ngoài ra còn có văn bản khác đề cập như Luật An ninh mạng năm 2018; Luật Dược năm 2016; Luật Công nghệ thông tin năm 2006; Luật Hàng không dân dụng Việt Nam năm 2006, sửa đổi, bổ sung năm 2013, 2014.

[12]. Điều 13 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[13]. Học thuyết đề cập đến tính hợp lý của việc ghi nhận trách nhiệm chủ thể không trực tiếp thực hiện hành vi xâm phạm nhưng đóng vai trò chủ đạo dẫn đến thiệt hại xảy ra.

Xem thêm: WE Scott (1979), “The theory of risk liability and its application to vicarious liability”, The Comparative and International Law Journal of Southern Africa, Vol. 12, No. 1, pp.44 - 64.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 384), tháng 7/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: