Thứ sáu 11/09/2026 05:06
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Trách nhiệm của thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự trong quá trình tổ chức thi hành án

Những năm gần đây, công tác thi hành án dân sự trên địa bàn tỉnh Lào Cai nói chung và trên địa bàn thành phố Lào Cai nói riêng đã có nhiều chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, với lượng án ngày càng tăng lên cả về số việc, số tiền và tính chất phức tạp của từng vụ việc đòi hỏi không ngừng nâng cao trách nhiệm, phát huy vai trò của Chi cục trưởng Chi cục Thi hành án dân sự trong công tác giải quyết thi hành án, đặc biệt là quá trình tổ chức thi hành án.


1. Thường xuyên phát huy vai trò nêu gương, đồng hành, sâu sát trong công việc chuyên môn trong giải quyết việc thi hành án

Theo quy định tại Điều 23 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ sung năm 2014, Chi cục trưởng Chi cục Thi hành án dân sự có nhiều nhiệm vụ, quyền hạn, tuy nhiên nhiệm vụ, quyền hạn về quản lý, chỉ đạo hoạt động thi hành án là một trong những nhiệm vụ cơ bản, quan trọng nhất. Để lãnh đạo đơn vị hoàn thành xuất sắc các chỉ tiêu, nhiệm vụ công tác do ngành dọc, chính quyền địa phương giao, người lãnh đạo đơn vị trước hết phải lãnh đạo, chỉ đạo hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chuyên môn về thi hành án, cụ thể là kết quả tổ chức thi hành án của các chấp hành viên.

Thông thường, sau khi được phân công tổ chức thi hành một vụ việc, chấp hành viên phải chịu trách nhiệm về tiến độ cũng như kết quả giải quyết của mình trước lãnh đạo đơn vị. Tuy nhiên, với vai trò là người lãnh đạo, quản lý, Chi cục trưởng cần nêu gương trong công tác để các chấp hành viên tin tưởng, làm theo. Bên cạnh đó, còn thường xuyên đồng hành cùng các chấp hành viên giải quyết việc thi hành án như giải thích các quy định pháp luật, vận động, thuyết phục đương sự và người thân của các đương sự, phối hợp với các cơ quan hữu quan và chỉ đạo giải quyết đối với các trường hợp phải cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản để thi hành án. Qua nhiều năm đồng hành cùng với các chấp hành viên trong các vụ việc có giá trị lớn hoặc có tính chất phức tạp cho thấy, các đương sự đều có chung đặc điểm tâm lý muốn được trực tiếp đối thoại với lãnh đạo đơn vị đặc biệt là với Chi cục trưởng, từ đó đã kịp thời đưa ra những chỉ đạo giải quyết đối với từng vụ việc cụ thể, bảo đảm luôn thấu tình, đạt lý, hạn chế thấp nhất các khiếu nại, tố cáo phát sinh. Chính vì vậy, đã tạo được sức mạnh, niềm tin cho các chấp hành viên vững tâm trong xử lý các vụ việc thi hành án.

Thực tiễn công tác thi hành án dân sự trên địa bàn thành phố Lào Cai những năm gần đây cho thấy, số lượng thụ lý việc, tiền luôn chiếm khoảng 40 - 50% trên toàn tỉnh, kết quả tổ chức thi hành án của các chấp hành viên tuy đã đạt chỉ tiêu, nhiệm vụ được giao song việc duy trì, phát huy những kết quả đó là rất khó. Với vai trò là người lãnh đạo, quản lý điều hành, Chi cục trưởng cần động viên, khích lệ để các chấp hành viên thực sự có tâm huyết, nhiệt huyết với nghề, từ đó hoàn toàn chủ động, tự giác trong công việc, đồng thời Thủ trưởng đơn vị cũng cần đặt ra các kế hoạch, biện pháp để các chấp hành viên tổ chức thực hiện. Để làm được điều này, người lãnh đạo đơn vị cần có tư duy, tầm nhìn chiến lược, thường xuyên đổi mới phương thức lãnh đạo, từ đó xây dựng cho mình các kế hoạch, giải pháp trong quản lý, chỉ đạo điều hành, tổ chức thi hành án dân sự.

2. Giao chỉ tiêu, nhiệm vụ công tác cho các chấp hành viên không thấp hơn mức mà cấp trên giao cho đơn vị, đồng thời xác định thời gian thực hiện từng vụ việc có giá trị lớn hoặc những vụ việc có tính chất phức tạp

Trên cơ sở các chỉ tiêu, nhiệm vụ công tác được giao của toàn đơn vị, tiến hành phân công, phân nhiệm, giao chỉ tiêu cho các chấp hành viên không thấp hơn mức giao của cấp trên và tùy theo năng lực, sở trường công tác của từng chấp hành viên nhưng cơ bản đều phải tập trung thực hiện đạt chỉ tiêu được giao chung của toàn đơn vị. Việc giao chỉ tiêu cụ thể cho các chấp hành viên một mặt để bảo đảm cho việc hoàn thành các chỉ tiêu chung của toàn đơn vị, một mặt để các chấp hành viên ý thức được vai trò, trách nhiệm của mình trong công tác, từ đó xây dựng kế hoạch, phương thức thực hiện nhiệm vụ đạt được hiệu quả cao nhất. Nếu chỉ giao chỉ tiêu nhiệm vụ cho các chấp hành viên mà không xác định thời gian thực hiện thì người lãnh đạo đơn vị sẽ luôn ở thế bị động và đơn vị sẽ rất khó khăn nếu một hoặc một số chấp hành viên không hoàn thành chỉ tiêu, nhiệm vụ công tác. Chính vì vậy, sau khi phân công tổ chức thi hành vụ việc, phải thường xuyên yêu cầu chấp hành viên kịp thời báo cáo tiến độ, kết quả giải quyết vụ việc. Qua đó, các chấp hành viên phải thực sự chủ động với công việc được giao, kịp thời phân loại, giải quyết việc thi hành án.

Bằng kinh nghiệm lãnh đạo, quản lý, bên cạnh việc giao chỉ tiêu, nhiệm vụ, Chi cục trưởng phải thường xuyên chỉ đạo, kiểm tra các chấp hành viên thực hiện theo đúng quy trình, thủ tục từ tống đạt, xác minh đến thuyết phục, vận động giải quyết thi hành án. Hàng tuần, hàng tháng yêu cầu các chấp hành viên báo cáo kết quả, tiến độ giải quyết các vụ việc có giá trị từ 50 triệu đồng trở lên, tổ chức các cuộc họp giao ban công tác để nắm bắt tình hình, tiến độ giải quyết của các chấp hành viên, từ đó kịp thời đưa ra các định hướng, phương án giải quyết cho từng vụ việc cụ thể. Ví dụ, trong năm 2020, Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lào Cai thụ lý giải quyết vụ việc ông Trần Văn H - chủ Doanh nghiệp tư nhân Hậu Giang phải thi hành số tiền là hơn 40 tỷ đồng. Ngay sau khi hết thời hạn hoãn theo yêu cầu của người có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm (tháng 5/2020), thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự thành phố Lào Cai đã chỉ đạo, yêu cầu chấp hành viên khẩn trương xác minh điều kiện thi hành án, xây dựng kế hoạch cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án để giải quyết việc thi hành án. Đến tháng 6/2020, chấp hành viên đã cưỡng chế thành công tài sản của Doanh nghiệp tư nhân Hậu Giang và đến tháng 8/2020 tổ chức bán đấu giá tài sản. Kết quả đã giải quyết xong được số tiền là hơn 20 tỷ đồng, số còn lại sau khi xác minh chuyển chưa có điều kiện thi hành án, giúp đơn vị hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu về việc, về tiền được giao.

3. Chỉ đạo biện pháp thi hành án cụ thể, sâu sát đối với từng vụ việc, đặc biệt là các vụ việc thi hành khó khăn, phức tạp, có giá trị lớn, ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị tại địa phương

Trên cơ sở các vụ việc phải thi hành án được thụ lý giải quyết, hàng tuần, hàng tháng, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự chỉ đạo các chấp hành viên báo cáo tiến độ, kết quả thi hành, đồng thời rà soát, lập danh sách các vụ việc phức tạp, có giá trị lớn, khó thi hành hoặc có ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị tại địa phương. Từ đó, kịp thời nắm bắt các thông tin, phân tích các điều kiện, tính chất cụ thể của từng vụ việc để chỉ đạo biện pháp thi hành hiệu quả. Cụ thể, trong năm công tác 2020, đơn vị thụ lý giải quyết nhiều vụ việc phức tạp, có giá trị lớn. Với vai trò là người lãnh đạo, Chi cục trưởng đã luôn đồng hành cùng các chấp hành viên trong việc giải quyết các vụ việc đó, đồng thời chỉ đạo chấp hành viên thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp từ vận động, thuyết phục đến cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản… bảo đảm tuân thủ đúng quy trình, thủ tục theo quy định của pháp luật. Kết quả là các vụ việc đã được giải quyết triệt để, kịp thời bảo vệ được các quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức và công dân.

Với việc thực hiện đồng bộ các giải pháp trên, công tác thi hành án của các chấp hành viên nói riêng cũng như của cơ quan thi hành án dân sự thành phố Lào Cai những năm gần đây đã có nhiều chuyển biến rõ rệt, nhiều vụ việc thi hành án khó khăn, phức tạp, có giá trị lớn đã được giải quyết hiệu quả. Kết quả công tác thi hành án trong 05 năm từ 2016 - 2020 đạt được nhiều thành tích đáng khích lệ. Cụ thể: (i) Năm 2019, giải quyết xong 1.484 việc/1.563 việc có điều kiện giải quyết, đạt tỷ lệ 95% (vượt 21% so với chỉ tiêu được giao), giải quyết xong số tiền 50.414.413.000 đồng/71.626.368.000 đồng có điều kiện giải quyết, đạt tỷ lệ 70% (vượt 35.5% so với chỉ tiêu được giao, cao hơn 16% so với cùng kỳ năm trước); (ii) Năm 2020, giải quyết xong 1.244 việc/1.334 việc có điều kiện thi hành, đạt tỷ lệ 94% (vượt 12,5% so với chỉ tiêu được giao), giải quyết xong số tiền là 48.830.313.000 đồng/84.254.846.000 đồng có điều kiện giải quyết, đạt 58% (vượt 19.5% so với chỉ tiêu được giao); (iii) Hơn 02 tháng đầu năm công tác 2021, các chấp hành viên đã tập trung tổ chức xong được hơn 60 tỷ đồng, vượt 120% so với cả năm 2020. Đây là con số ấn tượng, tuy nhiên, lãnh đạo đơn vị và các chấp hành viên vẫn quyết tâm tạo đột phá thi hành vượt cao so với chỉ tiêu cấp trên và chính quyền địa phương giao.

Trong những năm qua, Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lào Cai đều hoàn thành xuất sắc các chỉ tiêu, nhiệm vụ được giao, được Bộ trưởng Bộ Tư pháp công nhận danh hiệu “Tập thể lao động xuất sắc”, tặng Cờ thi đua Ngành Tư pháp các năm 2016, 2017, 2019 và 2020. Nhiều cá nhân trong đơn vị được công nhận các thành tích cao như Chiến sỹ thi đua Ngành Tư pháp, được Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh tặng Bằng khen, điển hình tiên tiến giai đoạn 2015 - 2020… Kết quả đó, càng khẳng định vị trí, vai trò của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự trong công tác thi hành án. Họ không chỉ là người lãnh đạo chỉ huy, mà còn là điểm tựa vững chắc để các chấp hành viên yên tâm trong quá trình tác nghiệp, góp phần xây dựng Hệ thống Thi hành án dân sự tỉnh Lào Cai ngày càng phát triển.

ThS. Đỗ Ngọc Ba
Chi cục Thi hành án dân sự TP. Lào Cai, tỉnh Lào Cai

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình

Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình

Trong bước chuyển mình của đất nước bước vào kỷ nguyên mới, văn hóa đang được đặt ở vị trí ngày càng quan trọng trong chiến lược phát triển quốc gia. Cùng với đó, con người được xác định là trung tâm của sự nghiệp phát triển văn hóa khi vừa là chủ thể sáng tạo, gìn giữ, vừa là lực lượng trực tiếp biến những giá trị ấy thành nguồn lực phát triển cho đất nước.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.

Theo dõi chúng tôi trên: