Chủ nhật 15/03/2026 15:34
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Trách nhiệm giải thích việc áp dụng pháp luật của các cơ quan tư pháp

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 quy định về trách nhiệm phổ biến, giáo dục pháp luật của các chủ thể. Trách nhiệm này được quy định nhằm đưa quy định của pháp luật đến với người dân. Bài viết về nghĩa vụ và quyền của các cơ quan tư pháp trong thực hiện trách nhiệm này và các hệ quả đặt ra trong thực tiễn.


1. Quy định của pháp luật về trách nhiệm giải thích pháp luật của cơ quan tư pháp

Điều 26 Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 quy định về trách nhiệm của Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Cụ thể: (i) Xây dựng, tập huấn, bồi dưỡng đội ngũ báo cáo viên pháp luật của ngành; (ii) Tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức thuộc phạm vi quản lý; phổ biến kiến thức pháp luật chuyên ngành cho nhân dân bằng hình thức phù hợp; (iii) Kết hợp phổ biến, giáo dục pháp luật cho nhân dân thông qua hoạt động chuyên môn.

Theo khoản 1 Điều 35 Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 thì báo cáo viên pháp luật là cán bộ, công chức, viên chức và sỹ quan trong lực lượng vũ trang nhân dân được cơ quan có thẩm quyền ra quyết định công nhận để kiêm nhiệm thực hiện hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật. Như vậy, để thực hiện trách nhiệm xây dựng đội ngũ báo cáo viên pháp luật của các cơ quan này thì cần có quyết định công nhận khi các cá nhân trong quy định thỏa mãn các điều kiện nhất định. Việc xây dựng đội ngũ báo cáo viên đối với các cơ quan tư pháp khá thuận lợi vì yêu cầu quan trọng nhất đối với đội ngũ này là trình độ chuyên môn về luật (cử nhân luật). Vấn đề còn lại là tính hiệu quả trong tổ chức và hoạt động của đội ngũ này, quy định hiện nay không gắn trách nhiệm phải thành lập đội ngũ này với bất kỳ trách nhiệm pháp lý nào của các cơ quan tư pháp. Từ thực trạng này nên trên thực tế việc thành lập đội ngũ báo cáo viên chưa được coi trọng.

Liên quan đến trách nhiệm “phổ biến kiến thức pháp luật chuyên ngành cho nhân dân bằng hình thức phù hợp” của các cơ quan tư pháp, quy định của pháp luật dường như rất “thoáng” khi trao cho các cơ quan tư pháp quyền được chủ động trong việc chọn cách thức thực hiện trách nhiệm phổ biến, giáo dục pháp luật một cách thuận lợi nhất khi tận dụng ưu thế của hoạt động nghiệp vụ của họ, các công việc có liên quan đến pháp luật. Việc phổ biến và giáo dục pháp luật được thực hiện để nâng cao năng lực nhận thức và tuân thủ pháp luật của người dân, từ chỗ nhận thức được pháp luật thì ý thức tuân thủ pháp luật mới hình thành, đây là nền tảng căn bản để xây dựng một Nhà nước pháp quyền cả theo nghĩa hẹp “thể hiện ở việc hạn chế sự tùy tiện trong việc sử dụng quyền lực nhà nước, mà điều này đòi hỏi phải ràng buộc quyền lực vào các đạo luật được xây dựng rõ ràng và chặt chẽ”[1] và theo nghĩa rộng nơi mà “một hệ thống, cơ chế mà trong đó không có chủ đề nào, ngay cả nhà nước, đứng trên pháp luật; nơi mà pháp luật bảo vệ các quyền cơ bản và tất cả mọi người đều có thể tiếp cận với công lý”[2].

Cũng cần phải thấy rằng khi nhận thức pháp luật của người dân được nâng lên thông qua việc thực hiện trách nhiệm phổ biến, giáo dục pháp luật cũng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan này hoàn thành chức năng, nhiệm vụ của mình một cách tốt nhất. Việc tuyên bố và giải thích bản án của Tòa án cho các bên có liên quan, đây là một trong các quyền và cũng là trách nhiệm của Tòa án. Trong thời gian qua ghi nhận khá nhiều các vụ án (hình sự lẫn dân sự) mà sau tuyên bố bản án đương sự thực hiện các hành vi tự tử[3] có cả trường hợp có hậu quả đáng tiếc xảy ra (đương sự chết), các vụ việc này tuy chưa có sự xác định rõ có sai phạm hay oan, sai trong xét xử hay không, tuy nhiên phản ứng của người dân cho thấy là tiêu cực. Điều này phát sinh là do nhiều nguyên nhân, tuy nhiên, một nguyên nhân có thể thấy được là sự thiếu rõ ràng trong giải thích về việc áp dụng pháp luật của Tòa án. Việc bị kết án mà không hiểu tại sao mình bị kết án có thể gây nên tâm lý bị dồn nén, phẫn uất vì cho rằng mình bị oan. Đây có thể là một trong những nguyên nhân gây ra các phản ứng tiêu cực của người dân (như tự tử) xảy ra trong thời gian qua. Thực trạng này cho thấy vai trò và tầm quan trọng của các quy định của pháp luật về trách nhiệm của các cơ tư pháp, mà cụ thể là Tòa án trong việc giải thích việc áp dụng pháp luật cho người dân thể hiện thông qua yêu cầu “kết hợp phổ biến, giáo dục pháp luật cho nhân dân thông qua hoạt động chuyên môn” như quy định của Điều 26 Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012.

Tác giả cho rằng quy định hiện nay của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là thuận tiện cho các cơ quan tư pháp trong việc thực hiện trách nhiệm giải thích pháp luật, đặc biệt là giải thích việc áp dụng pháp luật bởi vì các quy định này không những cho phép các chủ thể này thực hiện thông qua “các hình thức phù hợp” mà còn “thông qua các hoạt động chuyên môn”. Điều này cho phép các cơ quan này tiết kiệm thời gian, công sức cho việc phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua các hình thức tập trung, chuyên nghiệp mà lồng ghép vào công tác chuyên môn. Việc giải thích cho người dân trong các vụ án dân sự, hình sự… về việc Tòa án áp dụng pháp luật như thế nào, tại sao Tòa án lại áp dụng pháp luật như vậy… Việc giải thích rõ ràng nếu làm tốt sẽ đáp ứng hai mục tiêu quan trọng: (i) Cho người dân quyền được giám sát việc áp dụng pháp luật của Tòa án (nền tảng của Nhà nước pháp quyền) và (ii) Giáo dục pháp luật nhằm ngăn ngừa vi phạm pháp luật. Trên bình diện quốc tế, nhiều chuyên gia cho rằng, thẩm phán và Tòa án có vai trò then chốt trong việc cải tiến thực thi pháp luật thông quan hành động đưa ra các phán quyết, xây dựng hệ thống diễn giải và áp dụng pháp luật, qua đó, các thẩm phán cũng cổ vũ và định hướng các chủ thể khác hướng tới một hệ thống pháp quyền đáng tin cậy, chính trực[4].

Tác giả cho rằng, đáp ứng yêu cầu đặt ra từ Điều 26 Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật, các cơ quan tư pháp nói chung, Tòa án nói riêng cần giải thích việc áp dụng pháp luật của mình trong qua việc làm rõ nguyên nhân áp dụng pháp luật trong các bản án, quyết định của Tòa án. Điều này sẽ mang lại hai lợi ích, một là đáp ứng quyền được thông tin và nâng cao nhận thức pháp luật của người dân cũng như thực thi trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong việc phổ biến, giáo dục pháp luật và hai là minh bạch hóa công tác áp dụng pháp luật nói chung, công tác xét xử nói riêng, qua đó, giúp thực hiện quyền giám sát cũng như thực thi trách nhiệm giải trình của nhóm quyền tư pháp trong tổ chức bộ máy nhà nước, yếu tố tối quan trọng trong một nền chính trị dân chủ mà Việt Nam nỗ lực xây dựng và đeo đuổi.

2. Thực trạng công tác giải thích pháp luật của các cơ quan tư pháp

Hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật của hệ thống Tòa án hiện nay được thực hiện với hình thức đa dạng và mang tính hệ thống dưới sự chủ trì của Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân[5]. Hoạt động giáo dục, pháp luật của Tòa án mang tính đặc thù rõ nét và gắn liền với các hoạt động chuyên môn trong chức trách, nhiệm vụ của một cơ quan xét xử, bao gồm: (i) Tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua hoạt động xét xử; (ii) Thông qua hoạt động hòa giải, đối thoại; (iii) Thông qua hoạt động tiếp công dân, thanh tra, kiểm tra các hoạt động nghiệp vụ; (iv) Thông qua công tác phổ biến các văn bản quy phạm pháp luật mới được ban hành; (v) Thông qua công khai các bản án, quyết định của Tòa án và phát triển án lệ; (vi) Thông qua các phương tiện truyền hình, báo chí.

Cùng với tiến trình cải cách tư pháp, các hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án được đánh giá là có nhiều chuyển biến tích cực[6]. Qua khảo sát thực nghiệm, tác giả cũng đồng ý rằng hệ thống Tòa án có những đóng góp thiết thực và rõ nét vào mục tiêu phổ biến pháp luật đến với người dân. Trong đó điểm nổi bật là việc công khai 629.371[7] các bản án, quyết định của Tòa án tại Trang thông tin điện tử công bố bản án, quyết định của Tòa án[8] cùng với hoạt động lựa chọn và công bố công khai 43 án lệ tại Trang thông tin điện tử về án lệ[9]. Tác giả cho rằng đây là hoạt động có ý nghĩa tích cực trong việc mở rộng quyền tiếp cận pháp luật của người dân thông qua các phán quyết của Tòa án, qua đó sẽ hình thành nên ý thức pháp luật, ảnh hưởng tích cực tới các quyết định tư pháp và việc đoán định tư pháp của người dân[10].

Bên cạnh những chuyển biến tích cực, để các hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật của hệ thống Tòa án phát huy hơn nữa tính hiệu quả thì cần nghiêm túc nhìn nhận vai trò của hoạt động giải thích áp dụng pháp luật, nhất là trong hoạt động xét xử. Bởi lẽ, nếu phán quyết của Tòa án chỉ dừng lại ở việc áp dụng đúng quy định pháp luật thì mức độ tác động chỉ có thể dừng lại ở việc giải quyết một tranh chấp giữa các đương sự hoặc đưa ra một mức hình phạt cho người phạm tội. Thậm chí trong nhiều trường hợp, Tòa án đã áp dụng đúng quy định pháp luật để tuyên phán quyết nhưng đương sự không hiểu được nội dung tinh thần của pháp luật, các nguyên tắc pháp lý được vận dụng để ra phán quyết, hệ quả là hình thành nên các quyết định tư pháp tiêu cực từ phía đương sự như kháng cáo, khiếu nại, phẫn uất, chửi bới thậm chí tự tử. Ngược lại, nếu Tòa án chú trọng đến việc trình bày, phân tích, luận giải nội dung quy định pháp luật, các nguyên tắc pháp lý và cách thức quy định pháp luật được áp dụng một cách đầy đủ, cặn kẽ sẽ làm cho bản án trở nên thuyết phục hơn, không những đối với đương sự mà còn đối với công chúng. Qua đó, nội dung và tinh thần của pháp luật có thể dễ dàng chuyển tải đến người dân. Tác giả đồng ý với quan điểm cho rằng một phán quyết của Tòa án được tuyên ra cần đáp ứng được 04 mục đích: (i) Làm rõ nhận định của Tòa án; (ii) Giải thích quyết định của Tòa án cho các bên; (iii) Công khai lý do dẫn đến quyết định của Tòa án cho công chúng và (iv) Cung cấp lý do dẫn đến quyết định của tòa án để tòa phúc thẩm xem xét[11]. Để đạt được những mục đích này, Tòa án buộc phải trình bày những giải thích của mình trong việc áp dụng pháp luật vào vụ án để đưa phán quyết. Hoạt động giải thích áp dụng pháp luật của Tòa án cũng giúp hình thành quy trình ra quyết định của Tòa án một cách minh bạch hơn. Đây là điều kiện tiên quyết ảnh hưởng đến sự phát triển của chính hệ thống tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử cũng như của hệ thống pháp luật.

3. Kết luận và kiến nghị

Trách nhiệm phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay của các cơ quan tư pháp mà trọng tâm là hệ thống Tòa án đang ngày được quan tâm hơn bởi vị trí, vai trò và sứ mệnh của cơ quan này. Việc thực hiện trách nhiệm này được đánh giá là khá tích cực trong thời gian qua với nhiều sáng kiến đã được thực hiện. Tuy nhiên, hiệu quả của việc phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua hoạt động xét xử bằng những nội dung của các bản án, quyết định của Tòa án chưa đạt được như kỳ vọng. Nguyên nhân đến từ hiện trạng nội dung của các bản án “thiếu vắng” nội dung quan trọng về việc giải thích áp dụng pháp luật, mô tả tiến trình tư duy, diễn giải, đúc rút các nguyên tắc pháp lý để áp dụng vào các vụ án cụ thể. Theo tác giả, nguyên nhân của hiện trạng này có thể được nhận diện bao gồm:

Thứ nhất, chưa có cơ chế kiểm soát và trách nhiệm pháp lý liên quan đến việc thực thi trách nhiệm này, điều này dẫn đến hệ quả là trách nhiệm này có được thực hiện hay không cũng không có “vấn đề” gì với các cơ quan này vì không có chủ thể giám sát. Từ đó, dẫn tới việc thực hiện trách nhiệm chưa nghiêm như hiện nay.

Thư hai, các hướng dẫn về kết cấu bản án, quyết định của Tòa án chưa chú trọng đến trách nhiệm giải thích áp dụng pháp luật của hội đồng xét xử khi đưa ra các phán quyết. Đồng thời, nội dung hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao còn chung chung, thiếu chi tiết, tập trung quá nhiều vào việc phân tích tình tiết vụ việc và quan điểm của các bên. Trong khi đó, không gian của việc viện dẫn, diễn giải, phân tích, giải thích các nguyên tắc pháp lý từ quy định pháp luật lại không được thể hiện rõ ràng hoặc quá ít.

Thứ ba, các thẩm phán tại Việt Nam chưa có thói quen và hình thành ý thức trong việc phổ biến, tuyên truyền pháp luật thông qua các lập luận của mình thể hiện tại các bản án.

Từ thực tiễn này các tác giả đề xuất các giải pháp:

Một là, cụ thể hóa trách nhiệm phổ biến, giải thích pháp luật của các cơ quan tư pháp, cụ thể là đặt ra yêu cầu về việc giải thích lý do áp dụng pháp luật và thực hiện nghiêm túc việc giải thích này như một yêu cầu bắt buộc về thể thức trong các bản án của Tòa án các cấp. Đây cũng nên được xem là cơ sở cho việc xem xét sửa, hủy bản án nếu không tuân thủ.

Hai là, đẩy mạnh hơn nữa việc công bố bản án của Tòa án các cấp. Đây là một phương thức quan trọng để đảm bảo thực thi quyền giám sát xã hội cũng như thực hiện quyền được thông tin, quyền được phổ biến, giáo dục pháp luật của người dân.

TS. Đoàn Thị Phương Diệp & ThS. Lưu Minh Sang
Trường Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh

[1] Phan Trung Lý, Nguyễn Trung Thành (2020), Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và những vấn đề đặt ra đối với việc thực hiện công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 15/2020.

[2] Phan Trung Lý, Nguyễn Trung Thành (2020), tlđd.

[3] Vụ tranh chấp đất đai xảy ra ở Gò Vấp giữa ông Lê Văn Dư, ông Phan Quý và một số cá nhân khác. Hay vụ ông Lương Hữu Phước tự tử trong khi nhận bản án hình sự tại Bình Phước….

[4] ABD, UNEP (2010), Hội nghị Chuyên đề Thẩm phán châu Á về Phán quyết Môi trường, Pháp quyền, và Công lý Môi trường, Kỷ yếu hội nghị

[5] Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân được thành lập theo Quyết định số 49/2019/QĐ-TANDTC ngày 22/03/2019 của Chánh án tòa án nhân dân tối cao.

[6] Vũ Hùng (2019), Tòa án đã làm tốt phổ biến, giáo dục pháp luật, Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử

[7] Số liệu được thống kê tính đến ngày 27/03/2021.

[8] Xem thêm Trang thông tin điện tử về công bố bản án tại
[9] Xem thêm Trang thông tin điện tử về công bố án lệ tại:

[10] Khái niệm về quyết định tư pháp và đoán định tư pháp được đề cập theo nghĩa của bài viết: Nguyễn Hòa Bình (2019), Quyết định tư pháp và đoán định tư pháp của người dân - phạm trù pháp lý mới cần được quan tâm trong thực tiễn tư pháp nước ta, Tạp chí Cộng Sản

[11] Roslyn Atkinson (2002), Judgment Writing, AIJA Conference, Brisbane

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: