Thứ sáu 16/01/2026 15:37
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Trợ giúp pháp lý cho trẻ em ngày càng trở nên thiết thực

Bài viết trình bày về chính sách trợ giúp pháp lý cho trẻ em và kết quả của hoạt động này, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm bảo đảm thực hiện quyền được trợ giúp pháp lý cho trẻ em.

Công ước quốc tế và các văn kiện quốc tế về quyền trẻ em quy định các quyền và các nguyên tắc cơ bản để bảo đảm quyền trẻ em. Theo đó, có thể nhóm các quyền trẻ em thành 04 nhóm quyền cơ bản như sau: Quyền được sống, quyền được bảo vệ, quyền được phát triển và quyền được tham gia. Là quốc gia đầu tiên tại châu Á và là một trong những quốc gia đầu tiên trên thế giới trở thành thành viên của Công ước về quyền trẻ em, Việt Nam đã nội luật hóa và ghi nhận các quyền của trẻ em cũng như trách nhiệm bảo vệ và chăm sóc trẻ em trong các văn bản quy phạm pháp luật trong nước như: Hiến pháp, Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự, Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Trẻ em, Bộ luật Lao động, Luật Trợ giúp pháp lý, Luật Xử lý vi phạm hành chính… Trong các giai đoạn lịch sử xây dựng và phát triển của đất nước, công tác giáo dục, chăm sóc và bảo vệ trẻ em luôn được Đảng, Nhà nước quan tâm. Quyền trẻ em ở Việt Nam đã được ghi nhận và khẳng định tại Điều 37 Hiến pháp năm 2013: “Trẻ em được Nhà nước, gia đình và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục; được tham gia vào các vấn đề về trẻ em. Nghiêm cấm xâm hại, hành hạ, ngược đãi, bỏ mặc, lạm dụng, bóc lột sức lao động và những hành vi khác vi phạm quyền trẻ em”. Luật Trẻ em năm 2016 đã quy định 25 quyền của trẻ em, trong đó có quyền “được bảo vệ trong quá trình tố tụng và xử lý vi phạm hành chính; bảo đảm quyền được bào chữa và tự bào chữa, được bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp; được trợ giúp pháp lý (TGPL), được trình bày ý kiến, không bị tước quyền tự do trái pháp luật; không bị tra tấn, truy bức, nhục hình, xúc phạm danh dự, nhân phẩm, xâm phạm thân thể, gây áp lực về tâm lý và các hình thức xâm hại khác” (Điều 30).

TGPL là một loại hình dịch vụ sự nghiệp công thiết yếu của Ngành Tư pháp được cung cấp miễn phí cho người thuộc diện được TGPL trong vụ việc TGPL theo quy định của Luật Trợ giúp pháp lý, góp phần bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong tiếp cận công lý và bình đẳng trước pháp luật. Tại Điều 7 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 quy định mọi trẻ em (người dưới 16 tuổi) được TGPL miễn phí của Nhà nước. Khi có vướng mắc pháp luật, trẻ hoặc người thân của trẻ, cơ quan tổ chức hoặc cá nhân khác có thể yêu cầu TGPL thông qua các hình thức tư vấn, tham gia tố tụng, đại diện ngoài tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho trẻ. Khi yêu cầu TGPL cần có một trong các giấy tờ sau đây: Giấy khai sinh, chứng minh nhân dân, căn cước công dân, hộ chiếu; văn bản của cơ quan tiến hành tố tụng xác định người có yêu cầu TGPL là trẻ em; văn bản của cơ quan có thẩm quyền về áp dụng biện pháp xử lý hành chính hoặc xử phạt vi phạm hành chính xác định người có yêu cầu trợ TGPL là trẻ em.

1. Một số nguyên tắc trong hoạt động trợ giúp pháp lý cho trẻ em

Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 đã đưa ra 04 nguyên tắc hoạt động TGPL[1], cụ thể: Tuân thủ pháp luật và quy tắc nghề nghiệp TGPL, kịp thời, độc lập, trung thực và tôn trọng sự thật khách quan, bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của người được TGPL, không thu tiền, lợi ích vật chất hoặc lợi ích khác từ người được TGPL.

Thông tư số 03/2020/TT-BTP ngày 28/4/2020 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành quy tắc nghề nghiệp TGPL, trong đó có đưa ra một số quy tắc liên quan đến thực hiện TGPL cho người được TGPL như: Trung thực, liêm chính, tôn trọng sự thật khách quan, độc lập khi thực hiện TGPL, bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của người được TGPL, bảo mật thông tin trong TGPL, ứng xử với người được TGPL, ứng xử với cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác... Như vậy, khi thực hiện TGPL cho trẻ em thì trước hết cần phải thực hiện các nguyên tắc hoạt động TGPL theo quy định của Luật Trợ giúp pháp lý và các quy tắc nghề nghiệp TGPL theo quy định tại Thông tư số 03/2020/TT-BTP, trong đó chú ý đến những yếu tố thân thiện với trẻ em trong quá trình thực hiện TGPL.

- Cung cấp dịch vụ TGPL miễn phí cho trẻ em

Trẻ em được TGPL theo hình thức tư vấn pháp luật, tham gia tố tụng, đại diện ngoài tố tụng miễn phí, không phải trả bất kỳ một khoản tiền, lợi ích vật chất hay lợi ích nào khác cho người thực hiện TGPL và tổ chức thực hiện TGPL. Một trong những nguyên tắc trong hoạt động TGPL là không được thu tiền hay lợi ích nào khác từ người được TGPL. Nguyên tắc này dựa trên tính chất nhân đạo của Nhà nước. Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm, tạo điều kiện cho người được TGPL được tiếp cận công lý, bình đẳng trước pháp luật. Theo đó, người thực hiện TGPL, tổ chức thực hiện TGPL không được gợi ý, đòi hỏi, đặt điều kiện hoặc nhận bất kỳ lợi ích vật chất, lợi ích khác có liên quan đến vụ việc, việc TGPL từ người được TGPL hoặc người khác.

- Bảo vệ tốt nhất quyền, lợi ích hợp pháp của trẻ em

Theo quy định của Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017, một trong những nguyên tắc quan trọng trong hoạt động TGPL là “bảo vệ tốt nhất quyền, lợi ích hợp pháp của người được TGPL”. Nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của người thực hiện TGPL cho trẻ em là giúp người được bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của họ, bảo vệ quyền con người, quyền công dân và quyền tiếp cận công lý. Lợi ích của trẻ được quan tâm, cân nhắc hàng đầu trong toàn bộ quá trình thực hiện TGPL cho trẻ em. Tại Quy tắc nghề nghiệp TGPL cũng cho rằng, khi thực hiện vụ việc, việc TGPL với sự tận tâm, trách nhiệm, kịp thời áp dụng các biện pháp, kỹ năng cần thiết phù hợp với quy định của pháp luật để bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của người được TGPL (Điều 3). Nguyên tắc này sẽ là “kim chỉ nam” cho người thực hiện TGPL khi cân nhắc các vấn đề sau đây: Cách thức gây dựng quan hệ với trẻ em, cách thức người thực hiện TGPL xây dựng và điều chỉnh phương án giải quyết vụ việc/vụ án để đạt kết quả tốt nhất, cách thức tương tác với các chủ thể khác để bảo đảm rằng lợi ích tốt nhất của trẻ được quan tâm hàng đầu trong tất cả các giai đoạn của quá trình tố tụng.

- Bảo đảm quyền riêng tư và giữ bí mật thông tin cá nhân, bí mật thông tin vụ việc của trẻ em

Tại Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 đã quy định nghiêm cấm tổ chức thực hiện TGPL và người thực hiện TGPL tiết lộ thông tin về vụ việc TGPL, về người được TGPL (trừ trường hợp người được TGPL đồng ý bằng văn bản hoặc luật có quy định khác) (Điều 6). Tại Quy tắc nghề nghiệp TGPL cũng cụ thể hóa việc bảo mật thông tin trong quá trình thực hiện TGPL và sau khi kết thúc vụ việc, không sử dụng các thông tin có được trong quá trình thực hiện TGPL để gây bất lợi cho người được TGPL, gây mất trật tự, an toàn xã hội, ảnh hưởng xấu đến đạo đức xã hội (Điều 4). Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 cũng nêu rõ các thông tin liên quan đến bí mật đời sống riêng tư, bí mật cá nhân được tiếp cận trong trường hợp được người đó đồng ý (khoản 2 Điều 7).

Trong quá trình giải quyết vụ việc, người thực hiện TGPL cần bảo đảm thông tin về vụ việc của trẻ em không bị tiết lộ, được giữ bí mật theo đúng quy định. Vấn đề bảo mật thông tin luôn phải được chú trọng để kịp thời có những biện pháp phù hợp bảo vệ trẻ em như đề nghị cơ quan, người có liên quan bảo đảm bí mật thông tin cho nạn nhân… Việc giữ bí mật thông tin đời tư của trẻ em đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng mối quan hệ tin tưởng với trẻ, bảo đảm các em có thể trao đổi với người thực hiện TGPL một cách thoải mái và cởi mở. Để làm được điều này, người thực hiện TGPL cần thông tin cho trẻ em rằng sự trao đổi thông tin sẽ được giữ bí mật. Nếu thông tin vụ việc được chia sẻ vì mục đích quản lý nhà nước, trao đổi, học tập hoặc truyền thông cho cộng đồng… thì phải bảo đảm rằng những thông tin đó được các em đồng ý cung cấp và không dẫn đến việc tiết lộ danh tính của các em.

- Bảo đảm trẻ em được đối xử công bằng, không phân biệt đối xử trong quá trình thực hiện TGPL

Một trong những yếu tố quan trọng trong quá trình giải quyết vụ việc TGPL cho trẻ em là giúp các em cảm thấy tin tưởng, được giúp đỡ và không kỳ thị, định kiến, việc tạo niềm tin tránh họ có cảm giác bị phân biệt đối xử. Tôn trọng, lịch sự, thân thiện, nhiệt tình với người được TGPL, thể hiện phong cách chuyên nghiệp, tạo sự tin tưởng đối với người được TGPL…; không được có thái độ hách dịch, hành vi coi thường người được TGPL hoặc phân biệt đối xử với người được TGPL là một trong những Quy tắc nghề nghiệp TGPL. Những người thực hiện TGPL cần phải bảo đảm rằng trẻ em được đối xử công bằng và không phân biệt đối xử vì tuổi tác, giới tính, dân tộc, khuyết tật… hay bất kỳ điều gì. Trẻ em là nạn nhân của bạo lực, nhất là bạo lực tình dục hoặc trẻ khuyết tật có nguy cơ bị phân biệt đối xử và nên có biện pháp hỗ trợ hồi phục và ngăn chặn yếu tố nạn nhân hóa. Cần nói rõ cho các em hiểu rằng các em được tôn trọng, quyền và lợi ích hợp pháp sẽ được bảo vệ tương tự như những người khác, không có bất kỳ sự phân biệt nào. Tuy nhiên, cần hiểu rằng, sự đối xử công bằng, không phân biệt đối xử không có nghĩa là “cào bằng” như nhau mà với từng diện người được TGPL, từng độ tuổi khác nhau sẽ phải có những phương pháp làm việc, cách tiếp cận khác nhau.

- Bảo đảm quyền tham gia của trẻ em hoặc người đại diện của trẻ em trong quá trình giải quyết vụ việc.

Sự tham gia tích cực của trẻ hoặc người đại diện của các em có thể mang lại nhiều lợi ích cho bản thân và cả quá trình tố tụng. Đối với trẻ là người bị hại và người làm chứng, việc lắng nghe và cân nhắc những ý kiến của họ có thể hỗ trợ cho quá trình phục hồi của họ, làm họ tự tin hơn, hiểu rõ hơn về các kỹ năng cũng như tiềm năng của mình. Đối với trẻ vi phạm pháp luật, việc thực hiện quyền tham gia sẽ giúp các em phát triển ý thức trách nhiệm, nhờ vậy có thể hỗ trợ quá trình phục hồi và tái hòa nhập cộng đồng. Quá trình trao đổi ý kiến giữa người thực hiện TGPL và trẻ hoặc người đại diện sẽ giúp hiểu rõ hơn lợi ích tốt nhất của trẻ là gì, nhờ đó giúp người thực hiện TGPL tìm ra những giải pháp giải quyết vụ việc. Sự tham gia của trẻ hoặc người đại diện của trẻ phải mang tính tự nguyện và người đó có quyền không tham gia nếu muốn.

- Bảo đảm sự phối hợp với các cơ quan và người có thẩm quyền có liên quan trong quá trình giải quyết vụ việc TGPL có trẻ em

Để thực hiện TGPL hiệu quả trong vụ việc TGPL cho trẻ em thì việc bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ với các cơ quan, người có thẩm quyền là vô cùng quan trọng. Quá trình thực hiện TGPL, đòi hỏi tổ chức và người thực hiện TGPL phải phối hợp với các cơ quan tư pháp khác như Công an, Tòa án, Viện kiểm sát, Quốc phòng, Ủy ban nhân dân và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan. Pháp luật TGPL cũng đưa ra những quy định, ứng xử trong việc phối hợp giải thích, thông tin, thông báo người được TGPL đến trung tâm TGPL nhà nước và việc phối hợp trong quá trình thực hiện TGPL; trực thực hiện TGPL tại Tòa án nhân dân, trực TGPL trong điều tra hình sự 24/24 giờ; trong phối hợp triển khai điểm cầu thành phần và việc tham gia phiên tòa trực tuyến có trẻ em tham gia… Không được móc nối, lôi kéo, xúi giục người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, các cơ quan, tổ chức có liên quan đến vụ việc làm trái quy định pháp luật. Không được tự mình hoặc xúi giục người được TGPL cung cấp thông tin, tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụ việc mà biết rõ là không đúng sự thật hoặc các hành vi lừa dối, hành vi bất hợp pháp khác gây khó khăn, cản trở việc giải quyết vụ việc của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền.

2. Một số kết quả thực hiện trợ giúp pháp lý cho trẻ em

Tính đến hết năm 2023, tổ chức, người thực hiện TGPL cho trẻ em bao gồm: 63 trung tâm TGPL nhà nước với 1.228 người làm việc (trong đó 676 trợ giúp viên pháp lý, 420 chuyên viên pháp lý, 61 kế toán và 71 người làm việc khác); 97 chi nhánh của trung tâm TGPL nhà nước đặt ở cấp huyện, liên huyện. Bên cạnh đó, còn có 643 luật sư và 32 cộng tác viên ký hợp đồng thực hiện TGPL với trung tâm TGPL nhà nước; 174 tổ chức đăng ký tham gia TGPL và 26 tổ chức ký hợp đồng thực hiện TGPL với Sở Tư pháp.

Triển khai các quy định của Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017, đến nay, hoạt động TGPL nói chung đã đạt được một số kết quả đáng ghi nhận như: Thể chế về TGPL ngày càng được hoàn thiện; tổ chức thực hiện TGPL được sắp xếp, tăng cường; hoạt động TGPL ngày càng đi vào nề nếp, tập trung vào nhiệm vụ trọng tâm là các vụ việc, nhất là các vụ việc tham gia tố tụng. Chất lượng dịch vụ TGPL được nâng cao, góp phần bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của người được TGPL. Truyền thông về TGPL ngày càng hiệu quả với nhiều hình thức đa dạng; ứng dụng công nghệ thông tin bước đầu để nâng cao hiệu quả quản lý và thực hiện TGPL. Hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước TGPL được tăng cường, đóng góp tích cực vào việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của Bộ, Ngành Tư pháp và vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong từng giai đoạn...

Để bảo đảm quyền được TGPL cho trẻ em theo quy định của Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 và triển khai các văn bản có liên quan đến chính sách bảo vệ trẻ em, thời gian qua, các tổ chức thực hiện TGPL trên cả nước đã có nhiều nỗ lực trong thực hiện vụ việc TGPL cho trẻ em. Số lượng trẻ em được tiếp cận dịch vụ TGPL miễn phí của Nhà nước ngày càng tăng. Trong thời gian gần đây, nhiều vụ việc nổi cộm được báo chí đưa tin, dư luận xã hội quan tâm mà nạn nhân chủ yếu là trẻ em bị xâm hại, bị bạo lực, bị mua bán đã được Cục Trợ giúp pháp lý (Bộ Tư pháp) theo dõi, chỉ đạo và các trung tâm TGPL nhà nước chủ động, kịp thời tiếp cận nhu cầu TGPL để cử người thực hiện TGPL bảo vệ quyền và lợi ích kịp thời, hiệu quả cho các em.

Theo số liệu báo cáo thống kê của các địa phương, số lượng vụ việc TGPL cho trẻ em, trong năm 2023 có 5.219 lượt trẻ em được TGPL, chiếm 15,5% tổng số người được TGPL, trong đó, thông qua hình thức tham gia tố tụng là 4.245 vụ (chiếm 81,3% tổng số vụ việc thực hiện thực hiện cho trẻ em), còn lại là tư vấn pháp luật (911 vụ) và đại diện ngoài tố tụng (63 vụ). Lĩnh vực TGPL cho trẻ em chủ yếu là lĩnh vực hình sự (4.179 vụ); lĩnh vực dân sự, hôn nhân và gia đình (324 vụ); lĩnh vực hành chính (73 vụ).

Các vụ việc TGPL cho trẻ em được thẩm định, đánh giá chất lượng đều đạt chất lượng khá trở lên, không có vụ việc nào không đạt chất lượng. Trong đó có nhiều vụ việc TGPL tham gia tố tụng thành công, hiệu quả cho trẻ em. Có những vụ trẻ vi phạm pháp luật được tuyên mức án giảm hơn so với mức đề nghị trong cáo trạng của Viện kiểm sát hoặc được chuyển khung hình phạt nhẹ hơn hoặc tội danh nhẹ hơn; có vụ việc trẻ em là bị hại được bảo vệ kịp thời, tối đa quyền và lợi ích hợp pháp của mình, tăng mức bồi thường thiệt hại... Việc thực hiện TGPL cho trẻ em luôn được các trung tâm TGPL nhà nước ở các địa phương quan tâm và ưu tiên cử người thực hiện TGPL có chuyên môn và kinh nghiệm, am hiểu tâm lý của trẻ thực hiện. Trong quá trình thực hiện các vụ việc TGPL cho trẻ, đặc biệt là các vụ việc liên quan đến trẻ em bị bạo lực, bị xâm hại, người thực hiện TGPL cũng có thêm những hỗ trợ khác cho trẻ em và gia đình của trẻ em khi cần thiết như cung cấp địa chỉ, thông tin của các cơ quan liên quan bao gồm cơ quan công an, chính quyền cơ sở, các tổ chức hội, đoàn thể và các dịch vụ hỗ trợ khác như y tế, sức khỏe, kinh tế, tư vấn và các dịch vụ xã hội khác…

3. Một số giải pháp bảo đảm thực hiện quyền được trợ giúp pháp lý cho trẻ em

Thứ nhất, tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện pháp luật, chính sách liên quan đến TGPL cho trẻ em (trong đó chú trọng trẻ em khuyết tật, trẻ em bị bạo lực, bị xâm hại, trẻ em cư trú ở các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, miền núi, biên giới, hải đảo…

Thứ hai, tăng cường số lượng trợ giúp viên pháp lý trong số lượng người làm việc được giao tại địa phương, phù hợp với vị trí việc làm được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho đội ngũ thực hiện TGPL cho trẻ em về kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ và kỹ năng thực hiện TGPL, hỗ trợ cho trẻ em; về công tác phối hợp, thông tin về TGPL nhằm nâng cao chất lượng hoạt động TGPL cho trẻ em trong những vụ việc tham gia tố tụng cho trẻ em, nhất là trường hợp trẻ em bị xâm hại, bị bạo lực, bị mua bán… Tiếp tục chủ động trong việc nắm bắt thông tin, nhu cầu về TGPL, nhất là cho trẻ em trong các vụ việc dư luận xã hội quan tâm để kịp thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp.

Thứ ba, phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, địa phương, các tổ chức, đơn vị có liên quan trong việc nâng cao hiệu quả công tác TGPL trong toàn quốc như: (i) Tiếp tục đẩy mạnh hoạt động phối hợp liên ngành về TGPL, đặc biệt là TGPL trong tố tụng, trong giới thiệu, thông tin, thông báo người được TGPL là trẻ em đến các tổ chức thực hiện TGPL. Bảo đảm thực hiện hiệu quả phiên tòa trực tuyến, các chương trình phối hợp người thực hiện TGPL tại Tòa án nhân dân, thực hiện trực TGPL trong điều tra hình sự. Tăng cường theo dõi, kiểm tra công tác phối hợp liên ngành về TGPL trong tố tụng tại các địa phương, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong việc phối hợp. (ii) Tăng cường hơn nữa công tác phối hợp giữa các tổ chức thực hiện TGPL với các cơ quan, các cơ sở hỗ trợ, trợ giúp, bảo vệ nạn nhân là trẻ em và các cấp chính quyền cơ sở cũng như các tổ chức đoàn thể (Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội Người khuyết tật, Hội Bảo trợ trẻ em…) trong hoạt động hỗ trợ và TGPL cho trẻ em. (iii) Tăng cường truyền thông về quyền được TGPL cho trẻ và người thân của trẻ; cơ quan, tổ chức xã hội có liên quan bằng nhiều cách thức khác nhau, gắn với sự phát triển của công nghệ thông tin như truyền thông qua các nền tảng xã hội Facebook, Youtube, Zalo…; phát huy những cách thức truyền thông hiệu quả trong thời gian qua, lan tỏa những cách làm hay, hiệu quả ở các địa phương khác nhau./.

ThS. Trịnh Thị Thanh

Cục Trợ giúp pháp lý, Bộ Tư pháp


[1] Điều 3 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.

Theo dõi chúng tôi trên: