Thứ ba 22/09/2026 16:24
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Trợ giúp pháp lý - Những vấn đề đặt ra

Trợ giúp pháp lý là một chính sách xã hội, đã được triển khai ở nhiều quốc gia với các mô hình khác nhau theo hoàn cảnh và điều kiện của mỗi nước. Ở nước ta, nhu cầu được trợ giúp pháp lý là rất lớn, do đó, từ năm 1997 (theo Quyết định số 734/1997/TTg ngày 6/9/1997 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập tổ chức trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng chính sách) hệ thống cơ quan trợ giúp pháp lý của Nhà nước đã được hình thành ở Trung ương (Cục trợ giúp pháp lý, Bộ Tư Pháp) và ở địa phương (Trung tâm trợ giúp pháp lý thuộc Sở Tư Pháp) nhằm đáp ứng yêu cầu được tư vấn, giúp đỡ về pháp luật miễn phí cho các đối tượng có hoàn cảnh khó khăn, các đối tượng chính sách và những người yếu thế.

Đây là một chính sách xã hội rất nhân văn, thể hiện sự phấn đấu vì công bằng xã hội, sự đền ơn đáp nghĩa đối với những người có công với cách mạng. Đặc biệt đối với nước ta, việc nâng cao ý thức pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người dân, nhất là những người có hoàn cảnh khó khăn luôn là vấn đề hết sức cấp thiết. Trợ giúp pháp lý làm chỗ dựa cho người dân, để họ tiếp cận và tin vào công lý, vào Nhà nước, góp phần giữ vững trật tự an toàn xã hội.

Sau 9 năm triển khai công tác trợ giúp pháp lý, năm 2006, chúng ta có một hành lang pháp lý để đưa công tác này đi vào kỷ cương nền nếp và hướng tới “xóa đói giảm nghèo” về pháp luật, Luật Trợ giúp pháp lý được Quốc hội thông qua, trong đó quy định rõ những đối tượng nào được trợ giúp pháp lý, đối tượng nào được thực hiện việc trợ giúp pháp lý và việc trợ giúp pháp lý như thế nào… Tại thời điểm Luật Trợ giúp pháp lý được ban hành, cả nước chỉ có khoảng 2.800 luật sư, chủ yếu tập trung ở các tỉnh, thành phố lớn, trong khi nhu cầu được trợ giúp pháp lý miễn phí là rất lớn; do vậy việc nhanh chóng hình thành mạng lưới các trung tâm trợ giúp pháp lý và phát triển đội ngũ trợ giúp viên pháp lý, cộng tác viên pháp lý ở tất cả các tỉnh, thành là hết sức cấp thiết, đặc biệt là các địa phương khó khăn, vùng sâu, vùng xa, nơi mà đội ngũ luật sư hầu như còn chưa có.

1. Một số kết quả thực hiện Luật Trợ giúp pháp lý

Ngay sau khi ra đời Luật Trợ giúp pháp lý đã có tác động tích cực trong đời sống xã hội, bởi hệ thống các văn bản pháp luật hướng dẫn luật đã được ban hành kịp thời, đúng tiến độ, vì vậy, Luật đã nhanh chóng tiếp cận thực tiễn. Bên cạnh đó, đội ngũ Trợ giúp viên pháp lý, cộng tác viên pháp lý đã phát triển rộng và thường xuyên được bồi dưỡng kiến thức pháp luật cũng như kỹ năng trợ giúp pháp lý, nên đã phát huy vai trò tích cực của mình trong việc hỗ trợ kịp thời về pháp luật cho các đối tượng được trợ giúp pháp lý theo quy định của Luật Trợ giúp pháp lý.

Sau 8 năm thi hành Luật Trợ giúp pháp lý, hệ thống trợ giúp pháp lý của Nhà nước đã phát triển mạnh mẽ, với đội ngũ công chức, viên chức, người lao động tại các trung tâm và chi nhánh trợ giúp pháp lý là 1.314 người, trong đó có 572 trợ giúp viên pháp lý (490 người đã qua đào tạo miễn phí nghề luật sư). Ngoài ra, đội ngũ cộng tác viên trợ giúp pháp lý cũng phát triển nhanh chóng, toàn quốc có trên 10.700 cộng tác viên trợ giúp pháp lý (trong đó có 1.136 cộng tác viên là luật sư và 174 tư vấn viên pháp luật đăng ký trợ giúp pháp lý).

Có thể nói, từ trước năm 2010, có rất nhiều tổ chức quốc tế đã tài trợ cho công tác trợ giúp pháp lý, do vậy việc triển khai trợ giúp pháp lý có phần thuận lợi. Việc tập huấn bồi dưỡng nghiệp vụ trợ giúp pháp lý và phổ biến pháp luật được tổ chức rất nhiều đợt (từ năm 2006 đến năm 2014 đã bồi dưỡng nguồn bổ nhiệm trợ giúp viên pháp lý cho trên 1000 cán bộ), mỗi năm Bộ Tư pháp cũng tổ chức từ 05 - 07 khóa tập huấn nghiệp vụ trên toàn quốc hoặc theo khu vực, nhằm nâng cao kỹ năng cho đội ngũ thực hiện trợ giúp pháp lý. Rất nhiều tài liệu bồi dưỡng nghiệp vụ được in ấn và phát hành rộng rãi. Các địa phương cũng tổ chức hàng nghìn đợt tập huấn nghiệp vụ (mỗi năm mỗi tỉnh cũng tổ chức 04 - 05 đợt tập huấn). Rất nhiều đối tượng đã được bồi dưỡng kỹ năng trợ giúp pháp lý đặc biệt là mạng lưới cơ sở.

Ngoài hệ thống trợ giúp pháp lý của Nhà nước (bao gồm các trợ giúp viên pháp lý và cộng tác viên, tư vấn viên pháp luật đăng ký trợ giúp pháp lý), các tổ chức hành nghề luật sư, tư vấn pháp luật thuộc các tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội nghề nghiệp cũng được vận động, khuyến khích đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý.

Như vậy, nhiều nguồn lực xã hội đã được huy động tham gia trợ giúp pháp lý, chính vì vậy mà công tác trợ giúp pháp lý đã đạt được kết quả thật ấn tượng. Sau 08 năm thực hiện Luật Trợ giúp pháp lý, đến hết tháng 12/2014, cả nước thực hiện được khoảng 940.183 vụ việc, trong đó gồm 52.985 vụ việc tham gia tố tụng (13.120 vụ việc đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người được trợ giúp pháp lý; 39.865 vụ việc bào chữa); 879.133 vụ việc tư vấn pháp luật (tại trung tâm trợ giúp pháp lý và chi nhánh hoặc trợ giúp pháp lý lưu động). Trong đó có 80.320 vụ việc hình sự, 202.146 vụ việc dân sự, 103.776 vụ việc hôn nhân và gia đình, 72.526 vụ việc hành chính, 228.090 vụ việc về đất đai, 20.656 vụ việc về lao động, 129.719 vụ việc ưu đãi và 102.922 vụ việc trong các lĩnh vực pháp luật khác. Tổng số lượt người được trợ giúp pháp lý sau 08 năm là gần 10.000 đối tượng.

Trong lực lượng thực hiện trợ giúp pháp lý miễn phí, đội ngũ trợ giúp viên pháp lý đã từng bước đáp ứng yêu cầu công việc, tham gia ngày càng nhiều các vụ việc tranh tụng để đại diện, bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích cho người được trợ giúp pháp lý. Năm 2014, 572 trợ giúp viên pháp lý đã thực hiện trên 74.258 vụ việc/124.171 vụ việc trên toàn quốc, trong đó có 3.690 vụ việc tham gia tố tụng (mỗi trợ giúp viên pháp lý tham gia tố tụng khoảng 06 vụ /năm).

Nhìn lại kết quả thực hiện công tác trợ giúp pháp lý thời gian qua, có thể khẳng định: Chủ trương chính sách đúng đắn của Nhà nước ta về công tác này, chúng ta đã làm được rất nhiều việc có ý nghĩa. Tuy nhiên, cũng phải khách quan đánh giá những bất cập ngay từ chiến lược, khi mà tình hình thực tiễn đã có những thay đổi so với 08 năm trước, nếu chúng ta không có sự điều chỉnh kịp thời thì sẽ khó có thể là chỗ dựa tin cậy cho các đối tượng được hưởng trợ giúp pháp lý.

2. Một số vấn đề đặt ra đối với công tác trợ giúp pháp lý

Sau 08 năm triển khai luật trợ giúp pháp lý, có rất nhiều vấn đề đặt ra đòi hỏi các cơ quan có thẩm quyền nghiên cứu tổng kết kịp thời bổ sung, sửa đổi Luật Trợ giúp pháp lý. Đó là vấn đề đảm bảo sự công bằng, đảm bảo chất lượng dịch vụ trợ giúp pháp lý miễn phí và đảm bảo hoạt động của đội ngũ thực hiện trợ giúp pháp lý để sử dụng có hiệu quả nguồn ngân sách và nguồn tài trợ.

Công tác trợ giúp pháp lý đang thực sự đứng trước những thách thức lớn. Có thể nói lực lượng thực hiện trợ giúp pháp lý đến nay là khá hùng hậu. Tuy nhiên, lực lượng này chưa được sử dụng một cách hiệu quả, đặc biệt là đội ngũ luật sư. Hoạt động trợ giúp pháp lý chủ yếu mới chỉ thiên về phổ biến, giáo dục pháp luật, mà chưa đi sâu vào từng vụ việc cụ thể, chưa đáp ứng yêu cầu của các đối tượng được trợ giúp pháp lý trong tố tụng. Đội ngũ luật sư còn chưa tham gia trợ giúp pháp lý nhiều, trong khi đội ngũ này đã lớn mạnh gấp 3,5 lần so với thời kỳ đầu hình thành hệ thống trợ giúp pháp lý. Vấn đề luật sư công như một số nước cũng là một vấn đề đặt ra khi sửa Luật Trợ giúp pháp lý, để làm sao giải quyết được bài toán dịch vụ trợ giúp pháp lý miễn phí kịp thời và đảm bảo chất lượng trợ giúp pháp lý.

Xã hội hóa công tác trợ giúp pháp lý cũng là một vấn đề lớn đòi hỏi phải có bước đi rất cụ thể, phải năng động, phù hợp với từng vùng, miền, địa phương. Có lẽ việc xã hội hóa trợ giúp pháp lý ở nước ta sẽ rất khác với các nước trên thế giới, do mức độ nhận thức pháp luật của người dân, cũng như hoàn cảnh kinh tế, chính trị, văn hóa của nước ta. Chúng ta cần lựa chọn mô hình thực hiện trợ giúp pháp lý sao cho phù hợp, nhằm đảm bảo sự độc lập, năng động, kịp thời khi tiến hành trợ giúp pháp lý.

Ngoài ra còn rất nhiều vấn đề được đặt ra sau 08 năm thi hành Luật Trợ giúp pháp lý, đó là vấn đề mở rộng đối tượng được trợ giúp pháp lý đến đâu? Hình thức trợ giúp pháp lý nào phù hợp và hiệu quả; vấn đề tổ chức lại hệ thống các trung tâm trợ giúp pháp lý của Nhà nước; vấn đề đánh giá chất lượng trợ giúp pháp lý, nhất là trong các vụ việc cụ thể; cơ chế giám sát và quản lý hoạt động trợ giúp pháp lý; vấn đề sử dụng hiệu quả nguồn ngân sách và tiếp nhận tài trợ cho hoạt động trợ giúp pháp lý…, nhưng có lẽ vấn đề đầu tiên và khó khăn nhất vẫn là làm sao để có sự thống nhất về nhận thức, thông suốt về tư tưởng, thì mới có sự quyết tâm cao, tạo nên chuyển biến thật sự cho công tác trợ giúp pháp lý.

Sửa đổi Luật Trợ giúp pháp lý và thực hiện Đề án Đổi mới công tác trợ giúp pháp lý giai đoạn 2015 - 2025, định hướng đến năm 2030 của Chính phủ, chắc chắn tới đây, công tác trợ giúp pháp lý sẽ thực sự chuyển mình. Nhà nước phải khẳng định được vai trò của mình trong thực hiện “xóa đói pháp luật” cho các đối tượng khó khăn, yếu thế, đồng thời phải tổ chức lại bộ máy quản lý công tác trợ giúp pháp lý cho gọn nhẹ và hiệu quả, đặc biệt phải huy động được sự tham gia của toàn xã hội, của đội ngũ luật sư, của các tổ chức xã hội nghề nghiệp, các tổ chức kinh tế…

Duy Kiên

(Số liệu trong bài viết được trích dẫn từ Tài liệu tổng kết 08 năm thi hành Luật trợ giúp pháp lý của Cục Trợ giúp pháp lý ngày 16/6/2015)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.

Theo dõi chúng tôi trên: