Thứ hai 07/09/2026 04:33
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Trợ giúp pháp lý - Những vấn đề đặt ra

Trợ giúp pháp lý là một chính sách xã hội, đã được triển khai ở nhiều quốc gia với các mô hình khác nhau theo hoàn cảnh và điều kiện của mỗi nước. Ở nước ta, nhu cầu được trợ giúp pháp lý là rất lớn, do đó, từ năm 1997 (theo Quyết định số 734/1997/TTg ngày 6/9/1997 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập tổ chức trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng chính sách) hệ thống cơ quan trợ giúp pháp lý của Nhà nước đã được hình thành ở Trung ương (Cục trợ giúp pháp lý, Bộ Tư Pháp) và ở địa phương (Trung tâm trợ giúp pháp lý thuộc Sở Tư Pháp) nhằm đáp ứng yêu cầu được tư vấn, giúp đỡ về pháp luật miễn phí cho các đối tượng có hoàn cảnh khó khăn, các đối tượng chính sách và những người yếu thế.

Đây là một chính sách xã hội rất nhân văn, thể hiện sự phấn đấu vì công bằng xã hội, sự đền ơn đáp nghĩa đối với những người có công với cách mạng. Đặc biệt đối với nước ta, việc nâng cao ý thức pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người dân, nhất là những người có hoàn cảnh khó khăn luôn là vấn đề hết sức cấp thiết. Trợ giúp pháp lý làm chỗ dựa cho người dân, để họ tiếp cận và tin vào công lý, vào Nhà nước, góp phần giữ vững trật tự an toàn xã hội.

Sau 9 năm triển khai công tác trợ giúp pháp lý, năm 2006, chúng ta có một hành lang pháp lý để đưa công tác này đi vào kỷ cương nền nếp và hướng tới “xóa đói giảm nghèo” về pháp luật, Luật Trợ giúp pháp lý được Quốc hội thông qua, trong đó quy định rõ những đối tượng nào được trợ giúp pháp lý, đối tượng nào được thực hiện việc trợ giúp pháp lý và việc trợ giúp pháp lý như thế nào… Tại thời điểm Luật Trợ giúp pháp lý được ban hành, cả nước chỉ có khoảng 2.800 luật sư, chủ yếu tập trung ở các tỉnh, thành phố lớn, trong khi nhu cầu được trợ giúp pháp lý miễn phí là rất lớn; do vậy việc nhanh chóng hình thành mạng lưới các trung tâm trợ giúp pháp lý và phát triển đội ngũ trợ giúp viên pháp lý, cộng tác viên pháp lý ở tất cả các tỉnh, thành là hết sức cấp thiết, đặc biệt là các địa phương khó khăn, vùng sâu, vùng xa, nơi mà đội ngũ luật sư hầu như còn chưa có.

1. Một số kết quả thực hiện Luật Trợ giúp pháp lý

Ngay sau khi ra đời Luật Trợ giúp pháp lý đã có tác động tích cực trong đời sống xã hội, bởi hệ thống các văn bản pháp luật hướng dẫn luật đã được ban hành kịp thời, đúng tiến độ, vì vậy, Luật đã nhanh chóng tiếp cận thực tiễn. Bên cạnh đó, đội ngũ Trợ giúp viên pháp lý, cộng tác viên pháp lý đã phát triển rộng và thường xuyên được bồi dưỡng kiến thức pháp luật cũng như kỹ năng trợ giúp pháp lý, nên đã phát huy vai trò tích cực của mình trong việc hỗ trợ kịp thời về pháp luật cho các đối tượng được trợ giúp pháp lý theo quy định của Luật Trợ giúp pháp lý.

Sau 8 năm thi hành Luật Trợ giúp pháp lý, hệ thống trợ giúp pháp lý của Nhà nước đã phát triển mạnh mẽ, với đội ngũ công chức, viên chức, người lao động tại các trung tâm và chi nhánh trợ giúp pháp lý là 1.314 người, trong đó có 572 trợ giúp viên pháp lý (490 người đã qua đào tạo miễn phí nghề luật sư). Ngoài ra, đội ngũ cộng tác viên trợ giúp pháp lý cũng phát triển nhanh chóng, toàn quốc có trên 10.700 cộng tác viên trợ giúp pháp lý (trong đó có 1.136 cộng tác viên là luật sư và 174 tư vấn viên pháp luật đăng ký trợ giúp pháp lý).

Có thể nói, từ trước năm 2010, có rất nhiều tổ chức quốc tế đã tài trợ cho công tác trợ giúp pháp lý, do vậy việc triển khai trợ giúp pháp lý có phần thuận lợi. Việc tập huấn bồi dưỡng nghiệp vụ trợ giúp pháp lý và phổ biến pháp luật được tổ chức rất nhiều đợt (từ năm 2006 đến năm 2014 đã bồi dưỡng nguồn bổ nhiệm trợ giúp viên pháp lý cho trên 1000 cán bộ), mỗi năm Bộ Tư pháp cũng tổ chức từ 05 - 07 khóa tập huấn nghiệp vụ trên toàn quốc hoặc theo khu vực, nhằm nâng cao kỹ năng cho đội ngũ thực hiện trợ giúp pháp lý. Rất nhiều tài liệu bồi dưỡng nghiệp vụ được in ấn và phát hành rộng rãi. Các địa phương cũng tổ chức hàng nghìn đợt tập huấn nghiệp vụ (mỗi năm mỗi tỉnh cũng tổ chức 04 - 05 đợt tập huấn). Rất nhiều đối tượng đã được bồi dưỡng kỹ năng trợ giúp pháp lý đặc biệt là mạng lưới cơ sở.

Ngoài hệ thống trợ giúp pháp lý của Nhà nước (bao gồm các trợ giúp viên pháp lý và cộng tác viên, tư vấn viên pháp luật đăng ký trợ giúp pháp lý), các tổ chức hành nghề luật sư, tư vấn pháp luật thuộc các tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội nghề nghiệp cũng được vận động, khuyến khích đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý.

Như vậy, nhiều nguồn lực xã hội đã được huy động tham gia trợ giúp pháp lý, chính vì vậy mà công tác trợ giúp pháp lý đã đạt được kết quả thật ấn tượng. Sau 08 năm thực hiện Luật Trợ giúp pháp lý, đến hết tháng 12/2014, cả nước thực hiện được khoảng 940.183 vụ việc, trong đó gồm 52.985 vụ việc tham gia tố tụng (13.120 vụ việc đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người được trợ giúp pháp lý; 39.865 vụ việc bào chữa); 879.133 vụ việc tư vấn pháp luật (tại trung tâm trợ giúp pháp lý và chi nhánh hoặc trợ giúp pháp lý lưu động). Trong đó có 80.320 vụ việc hình sự, 202.146 vụ việc dân sự, 103.776 vụ việc hôn nhân và gia đình, 72.526 vụ việc hành chính, 228.090 vụ việc về đất đai, 20.656 vụ việc về lao động, 129.719 vụ việc ưu đãi và 102.922 vụ việc trong các lĩnh vực pháp luật khác. Tổng số lượt người được trợ giúp pháp lý sau 08 năm là gần 10.000 đối tượng.

Trong lực lượng thực hiện trợ giúp pháp lý miễn phí, đội ngũ trợ giúp viên pháp lý đã từng bước đáp ứng yêu cầu công việc, tham gia ngày càng nhiều các vụ việc tranh tụng để đại diện, bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích cho người được trợ giúp pháp lý. Năm 2014, 572 trợ giúp viên pháp lý đã thực hiện trên 74.258 vụ việc/124.171 vụ việc trên toàn quốc, trong đó có 3.690 vụ việc tham gia tố tụng (mỗi trợ giúp viên pháp lý tham gia tố tụng khoảng 06 vụ /năm).

Nhìn lại kết quả thực hiện công tác trợ giúp pháp lý thời gian qua, có thể khẳng định: Chủ trương chính sách đúng đắn của Nhà nước ta về công tác này, chúng ta đã làm được rất nhiều việc có ý nghĩa. Tuy nhiên, cũng phải khách quan đánh giá những bất cập ngay từ chiến lược, khi mà tình hình thực tiễn đã có những thay đổi so với 08 năm trước, nếu chúng ta không có sự điều chỉnh kịp thời thì sẽ khó có thể là chỗ dựa tin cậy cho các đối tượng được hưởng trợ giúp pháp lý.

2. Một số vấn đề đặt ra đối với công tác trợ giúp pháp lý

Sau 08 năm triển khai luật trợ giúp pháp lý, có rất nhiều vấn đề đặt ra đòi hỏi các cơ quan có thẩm quyền nghiên cứu tổng kết kịp thời bổ sung, sửa đổi Luật Trợ giúp pháp lý. Đó là vấn đề đảm bảo sự công bằng, đảm bảo chất lượng dịch vụ trợ giúp pháp lý miễn phí và đảm bảo hoạt động của đội ngũ thực hiện trợ giúp pháp lý để sử dụng có hiệu quả nguồn ngân sách và nguồn tài trợ.

Công tác trợ giúp pháp lý đang thực sự đứng trước những thách thức lớn. Có thể nói lực lượng thực hiện trợ giúp pháp lý đến nay là khá hùng hậu. Tuy nhiên, lực lượng này chưa được sử dụng một cách hiệu quả, đặc biệt là đội ngũ luật sư. Hoạt động trợ giúp pháp lý chủ yếu mới chỉ thiên về phổ biến, giáo dục pháp luật, mà chưa đi sâu vào từng vụ việc cụ thể, chưa đáp ứng yêu cầu của các đối tượng được trợ giúp pháp lý trong tố tụng. Đội ngũ luật sư còn chưa tham gia trợ giúp pháp lý nhiều, trong khi đội ngũ này đã lớn mạnh gấp 3,5 lần so với thời kỳ đầu hình thành hệ thống trợ giúp pháp lý. Vấn đề luật sư công như một số nước cũng là một vấn đề đặt ra khi sửa Luật Trợ giúp pháp lý, để làm sao giải quyết được bài toán dịch vụ trợ giúp pháp lý miễn phí kịp thời và đảm bảo chất lượng trợ giúp pháp lý.

Xã hội hóa công tác trợ giúp pháp lý cũng là một vấn đề lớn đòi hỏi phải có bước đi rất cụ thể, phải năng động, phù hợp với từng vùng, miền, địa phương. Có lẽ việc xã hội hóa trợ giúp pháp lý ở nước ta sẽ rất khác với các nước trên thế giới, do mức độ nhận thức pháp luật của người dân, cũng như hoàn cảnh kinh tế, chính trị, văn hóa của nước ta. Chúng ta cần lựa chọn mô hình thực hiện trợ giúp pháp lý sao cho phù hợp, nhằm đảm bảo sự độc lập, năng động, kịp thời khi tiến hành trợ giúp pháp lý.

Ngoài ra còn rất nhiều vấn đề được đặt ra sau 08 năm thi hành Luật Trợ giúp pháp lý, đó là vấn đề mở rộng đối tượng được trợ giúp pháp lý đến đâu? Hình thức trợ giúp pháp lý nào phù hợp và hiệu quả; vấn đề tổ chức lại hệ thống các trung tâm trợ giúp pháp lý của Nhà nước; vấn đề đánh giá chất lượng trợ giúp pháp lý, nhất là trong các vụ việc cụ thể; cơ chế giám sát và quản lý hoạt động trợ giúp pháp lý; vấn đề sử dụng hiệu quả nguồn ngân sách và tiếp nhận tài trợ cho hoạt động trợ giúp pháp lý…, nhưng có lẽ vấn đề đầu tiên và khó khăn nhất vẫn là làm sao để có sự thống nhất về nhận thức, thông suốt về tư tưởng, thì mới có sự quyết tâm cao, tạo nên chuyển biến thật sự cho công tác trợ giúp pháp lý.

Sửa đổi Luật Trợ giúp pháp lý và thực hiện Đề án Đổi mới công tác trợ giúp pháp lý giai đoạn 2015 - 2025, định hướng đến năm 2030 của Chính phủ, chắc chắn tới đây, công tác trợ giúp pháp lý sẽ thực sự chuyển mình. Nhà nước phải khẳng định được vai trò của mình trong thực hiện “xóa đói pháp luật” cho các đối tượng khó khăn, yếu thế, đồng thời phải tổ chức lại bộ máy quản lý công tác trợ giúp pháp lý cho gọn nhẹ và hiệu quả, đặc biệt phải huy động được sự tham gia của toàn xã hội, của đội ngũ luật sư, của các tổ chức xã hội nghề nghiệp, các tổ chức kinh tế…

Duy Kiên

(Số liệu trong bài viết được trích dẫn từ Tài liệu tổng kết 08 năm thi hành Luật trợ giúp pháp lý của Cục Trợ giúp pháp lý ngày 16/6/2015)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình

Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình

Trong bước chuyển mình của đất nước bước vào kỷ nguyên mới, văn hóa đang được đặt ở vị trí ngày càng quan trọng trong chiến lược phát triển quốc gia. Cùng với đó, con người được xác định là trung tâm của sự nghiệp phát triển văn hóa khi vừa là chủ thể sáng tạo, gìn giữ, vừa là lực lượng trực tiếp biến những giá trị ấy thành nguồn lực phát triển cho đất nước.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.

Theo dõi chúng tôi trên: