Thứ ba 18/08/2026 08:34
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Từ vụ Thẩm mỹ viện Cát Tường – Những điều cần suy ngẫm!

Sự việc diễn ra tại Thẩm mỹ viện Cát Tường đang được báo chí và dư luận quan tâm. Vụ việc này cũng đang là đề tài nóng để tranh luận trong giới luật sư, luật gia.

Nội dung vụ việc như sau: Khoảng 10h sáng 19/10/2013, chị Lê Thị Thanh Huyền đến Thẩm mỹ viện Cát Tường để liên hệ phẫu thuật hút mỡ bụng và nâng ngực. Giám đốc trung tâm Nguyễn Mạnh Tường đã trực tiếp tiến hành gây mê, hút 11 ống mỡ ở vùng bụng. Sau đó, ông Tường đã bơm số mỡ này vào vùng ngực cho chị Huyền. Cuộc phẫu thuật đến 16h cùng ngày thì cơ bản xong. Khoảng 30 phút sau, nhân viên trung tâm phát hiện chị Huyền sùi bọt mép, chóng mặt. Bác sĩ Tường đã tiêm, cấp cứu và bệnh nhân trở lại bình thường. Bác sĩ Tường rời khỏi trung tâm không lâu thì được nhân viên thông báo chị Huyền tiếp tục tím tái, sùi bọt mép. Ông Tường đến truyền dịch, chống sốc nhưng phát hiện chị Huyền đã chết lâm sàng và tử vong sau đó. Sợ trách nhiệm, ông Tường đã cùng với nhân viên bảo vệ mang xác nạn nhân vứt xuống sông [1].

Trong vụ việc nêu trên, chúng ta cùng nhìn nhận và có những suy ngẫm về hành vi của bác sĩ Nguyễn Mạnh Tường và những người có liên quan, để từ đó thấy được những rủi ro có thể xảy ra trong hoạt động thẩm mỹ – làm đẹp, sự kém hiểu biết pháp luật và y đức của các y, bác sĩ hiện nay. Vẫn biết “Con sâu làm rầu nồi canh” nhưng nếu không có sự kiểm soát chặt chẽ của các cơ quan chức năng, tăng cường giáo dục pháp luật cho người dân, giáo dục y đức cho các y, bác sĩ thì những vụ việc tương tự có thể sẽ vẫn còn xảy ra.

Về hành vi của bác sĩ Nguyễn Mạnh Tường

Theo luật sư Vũ Tiến Vinh, việc xác định tội danh của bác sĩ Nguyễn Mạnh Tường (bác sĩ ngoại khoa, Giám đốc Thẩm mỹ viện Cát Tường tại số 45 đường Giải Phóng, Hà Nội) cần căn cứ kết luận giám định pháp y, có thể xảy ra hai trường hợp [2].

Trường hợp thứ nhất, nếu nạn nhân chết trước khi bị vứt xuống sông thì hành vi của ông Tường phạm tội xâm phạm thi thể người khác được quy định tại Điều 246 Bộ luật Hình sự. Theo đó, người có hành vi xâm phạm thi thể người khác thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm. Phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm, ngoài ra bác sĩ Tường còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp được quy định tại Điều 99 với mức hình phạt tối đa lên đến 12 năm tù. Sự vi phạm quy tắc nghề nghiệp ở đây có thể được thực hiện do lỗi vô ý hoặc lỗi cố ý.

Nếu giám định pháp y kết luận nạn nhân vẫn còn sống hoặc đang ở trạng thái chết lâm sàng trước khi bị vứt xuống sông, nghi can Tường phải đối mặt với tội Giết người. Trường hợp này, can phạm vứt nạn nhân xuống sông nhằm che giấu các vi phạm trong hoạt động nghề nghiệp và nhằm giũ bỏ trách nhiệm với hậu quả mà mình gây ra. Trong trường hợp này, can phạm sẽ phải chịu 2 tình tiết định khung tăng nặng được quy định tại khoản 1 Điều 93 Bộ luật Hình sự về tội Giết người là “giết người để che giấu tội phạm khác” và “giết người vì động cơ đê hèn”. Mức phạt quy định từ 12 năm trở lên, tù chung thân hoặc tử hình.

Theo chúng tôi, trường hợp nạn nhân chưa chết hoặc chết lâm sàng ít có khả năng xảy ra. Nếu trường hợp này xảy ra thì bác sĩ Tường sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội Giết người theo Điều 93 Bộ luật Hình sự, như nhận định của luật sư Vũ Tiến Vinh đăng tải trên website Vnexpress.net ngày 23/10/2013. Tuy nhiên, bác sĩ Tường là thạc sỹ, hiện nay đang công tác tại Bệnh viện Bạch Mai [3], là người có nhiều năm kinh nghiệm trong ngành y, do đó theo chúng tôi việc xác định nạn nhân chết hay chết lâm sàng bác sĩ Tường có đủ trình độ để nhận biết. Hơn nữa, chị Huyền là khách hàng của thẩm mỹ viện, bác sĩ Tường không có lý do gì để không tận tình cứu chữa cho chị Huyền. Vì vậy, trong trường hợp này khả năng cao là nạn nhân chết trước khi bị mang xác phi tang xuống sông Hồng.

Trong trường hợp chị Huyền chết tại thẩm mỹ viện, nếu bác sỹ Tường giữ được bình tĩnh và trình báo sự việc cho cơ quan chức năng, khi đó bác sĩ Tường có thể chỉ phải đối mặt với tội danh quy định tại Điều 99 Bộ luật Hình sự, tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp. Nếu thẩm mỹ viện Cát Tường chưa được Sở Y tế cấp phép cho các hoạt động phẫu thuật thẩm mỹ, với vai trò, trách nhiệm là Giám đốc bác sĩ Tường sẽ phải đối mặt với tội danh nữa được quy định tại Điều 242 Bộ luật Hình sự, tội vi phạm quy định về khám bệnh, chữa bệnh, sản xuất, pha chế thuốc, cấp phát thuốc, bán thuốc hoặc dịch vụ y tế khác. Một giả thiết được đặt ra, nếu như bác sĩ Tường trình báo sự việc cho cơ quan chức năng, việc khám nghiệm tử thi sẽ được tiến hành, khi đó chúng ta xác định được nguyên nhân tử vong của chị Huyền (có thể do lỗi của bác sĩ thực hiện, cũng có khả năng do cơ thể chị Huyền không thích ứng được với các loại thuốc...). Nếu chị Huyền chết do cơ thể không thích ứng được với thuốc hay một lý do nào đó tương tự dẫn đến tử vong thì tội danh mà bác sĩ Tường phải đối mặt là tội vô ý làm chết người quy đinh tại Điều 98 Bộ luật Hình sự, thì hình phạt chỉ từ 06 tháng đến 05 năm.

Những điều cần suy ngẫm!

Qua vụ việc tại Thẩm mỹ viện Cát Tường cho thấy, một trong những nguyên nhân để sự việc dẫn từ sai lầm này đến sai lầm khác là do thiếu hiểu biết về pháp luật. Nếu là một người hiểu biết pháp luật, bình tĩnh và xử lý vụ việc thì sự việc sẽ không nghiệm trọng như hiện nay.

Một vấn đề nữa mà chúng ta cần nhìn nhận, đó là y đức của các y, bác sỹ hiện nay. Từ vụ việc nêu trên, bác sĩ Nguyễn Hữu Lành, bác sĩ gây mê hồi sức, bệnh viện Hồng Ngọc cho biết, là người cùng nghề, ông thực sự sốc trước thông tin bác sĩ Nguyễn Mạnh Tường làm chết người rồi vứt xác xuống sông phi tang. “Tôi nghĩ, không chỉ riêng tôi mà tất cả những ai hoạt động trong ngành y đều sốc trước thông tin này. Cũng có thể trong lúc bối rối, vị bác sĩ này quá sợ hãi đã làm những việc không thể tưởng tượng nổi như thế. Nhưng qua đây cũng nói lên một điều, ông Tường không nhận thức được về vấn đề y đức, một vấn đề mà những người làm nghề đều đã được giáo dục rất kỹ từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường”[4].

Y đức là phẩm chất tốt đẹp của người làm công tác y tế, được biểu hiện ở tinh thần trách nhiệm cao, tận tụy phục vụ, hết lòng thương yêu chǎm sóc người bệnh, coi họ đau đớn như mình đau đớn, như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: "Lương y phải như từ mẫu". Phải thật thà đoàn kết, khắc phục khó khǎn, học tập vươn lên để hoàn thành nhiệm vụ, toàn tâm toàn ý xây dựng nền Y học Việt Nam. Y đức phải thể hiện qua những tiêu chuẩn, nguyên tắc đạo đức được xã hội thừa nhận. Những tiêu chuẩn này đã được Bộ Y tế cụ thể hóa bằng Quyết định số 2088/-BYT ngày 6/11/1996 của Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành quy định 12 điều y đức đối với cán bộ y tế. Một điều chắc chắn rằng những người làm trong ngành Y trong đó có bác sĩ Tường hiểu và thấm nhuần những tiêu chuẩn này.

Vẫn biết những rủi ro, tai nạn trong nghề nghiệp, các bác sĩ có thể gặp phải, nhưng cách xử lý của bác sĩ Tường “đưa xác nạn nhân ra sông Hồng để vứt, để chối bỏ trách nhiệm” xét từ khía cạnh văn hóa đạo đức nói chung và văn hóa đạo đức nghề y nói riêng là không thể chấp nhận được. Khi gặp những trường hợp như thế, trước tiên phải cấp cứu bệnh nhân, bác sĩ nào cũng phải học qua việc này. Còn trường hợp bất khả kháng vì bệnh nhân sốc quá nặng, phải gọi cấp cứu, gọi đồng nghiệp đến hỗ trợ. Trong trường hợp xảy ra ở gần viện, phải đưa bệnh nhân đến ngay bệnh viện để cấp cứu. Ở đây sẽ có các trang thiết bị hiện đại, tốt hơn trong việc cấp cứu nạn nhân. Trường hợp không thể cấp cứu được nạn nhân, thì giữ nguyên hiện trường và báo với cơ quan chức năng để họ có biện pháp xử lý. “Đó là việc không ai mong muốn, nhưng khi đã xảy ra sự việc, phải thật bình tĩnh để xử lý, phải làm thế nào để cho người nhà bệnh nhân và những người trong xã hội nhìn vào, họ thấy được người bác sĩ đó có y đức, thực hiện hết trách nhiệm của mình” - Bác sĩ Nguyễn Hữu Lành nói.

Trong vụ việc này cũng cần phải nhắc tới vai trò, trách nhiệm của các cơ quan chức năng trong việc quản lý các cơ sở y tế tư nhân nói chung, các cơ sở thẩm mỹ viện nói riêng. Thẩm mỹ viện Cát Tường đã đi vào hoạt động và tiến hành công việc giải phẫu thẩm mỹ mà không được phép trong suốt 06 tháng, đến nay vẫn chưa có cơ quan chức năng nào phát hiện và xử lý. Liệu còn bao nhiêu cơ sở thẩm mỹ "như Cát Tường" và còn bao nhiêu người phụ nữ có khát khao làm đẹp phải đối mặt với những rủi ro thậm chí là cả tính mạng của mình?

Để hạn chế, ngăn chặn tình trạng này, theo chúng tôi cần phải đẩy mạnh hơn nữa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao y đức cho các y, bác sĩ và tất cả những người làm trong Ngành Y là việc cần phải làm ngay. Thực hiện Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật, mới đây, ngày 25/9/2013, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã có Công văn số 6902/BTP-PBGDPL về việc tổ chức thực hiện “Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” năm 2013 nhằm triển khai thống nhất “Ngày Pháp luật” trong phạm vi toàn quốc. Theo đó, tất cả các Bộ, Ngành đều phải có trách nhiệm triển khai phổ biến, tuyên truyền giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức, viên chức, người lao động thuộc Bộ, Ngành của mình. Để góp phần ngăn chặn những vụ việc như "Thẩm mỹ viện Cát Tường" thiết nghĩ, bên cạnh việc nâng cao trình độ chuyên môn, thắt chặt quản lý của các cơ quan chức năng trong quá trình thành lập và hoạt động của các thẩm mỹ viện thì việc tuyên truyền pháp luật, giáo dục đạo đức nghề y cho những đối tượng là y, bác sĩ và những người hành nghề y là hết sức cần thiết. Cũng trong dịp diễn ra “Ngày Pháp luật” năm 2013 sắp tới, Bộ Y tế cần triển khai mạnh mẽ nhiều hình thức tuyên truyền để pháp luật đến được với từng y, bác sĩ ở tất cả các ngành, lĩnh vực trong phạm vi toàn quốc. Một người bác sĩ giỏi bên cạnh chuyên môn, cũng cần phải hiểu biết pháp luật, có đủ y đức để có thể có những hành xử đúng đắn trong mọi trường hợp, chỉ có như vậy mới góp phần ngăn chặn và hạn chế những vụ việc thương tâm tương tự như “Vụ Thẩm mỹ viện Cát Tường”.

Tài liệu tham khảo:

1. Theo Ngoisao.net ngày 22/10/2013;

2. Theo Vnexpress.net ngày 23/10/2013;

3. Theo Baomoi.com.vn ngày 24/10/2013;

4. Theo Vov.vn ngày 23/10/2013.

Nguyễn Vũ

Ảnh: Thu Trang (sưu tầm)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.

Theo dõi chúng tôi trên: