Thứ bảy 24/10/2026 20:48
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Tuyển dụng công chức ở Ba Lan

Ba Lan là một quốc gia nằm ở vùng Trung Âu, theo chính thể cộng hòa. Người đứng đầu nhà nước là Tổng thống, người đứng đầu Chính phủ là Thủ tướng. Tổng thống có nhiệm kỳ 05 năm, có thể tái cử không quá 02 nhiệm kỳ. Theo quy định của Hiến pháp Ba Lan, Tổng thống chỉ định và bổ nhiệm Thủ tướng.


Cơ quan hành chính nhà nước Ba Lan bao gồm cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương và cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương. Cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương bao gồm Chính phủ và các bộ. Cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương của Ba Lan được chia làm 03 cấp: Cấp 01 bao gồm các tỉnh (hay còn gọi là cấp tỉnh); cấp 02 bao gồm các thành phố và các huyện (còn gọi là cấp huyện); cấp 03 bao gồm các xã, thị trấn (còn gọi là cấp xã). Cơ quan hành chính Ba Lan được chia làm 16 tỉnh, đứng đầu mỗi tỉnh là các Tỉnh trưởng do Thủ tướng Ba Lan bổ nhiệm. Trong bài viết này, tác giả tập trung nghiên cứu về tuyển dụng công chức ở Ba Lan.

1. Nguyên tắc tuyển dụng công chức

- Nguyên tắc bình đẳng, công bằng: Việc tuyển dụng công chức của Ba Lan không phân biệt chủng tộc, tôn giáo, giới tính, dòng dõi gia đình, niềm tin tôn giáo hoặc thái độ chính trị. Công dân có đủ điều kiện tuyển dụng đều có thể trở thành công chức. Mọi công dân có quyền được làm việc ở trong cơ quan nhà nước, với điều kiện là đáp ứng yêu cầu chung theo quy định của Hiến pháp, Luật Công chức và các văn bản hướng dẫn thi hành cũng như các yêu cầu được ghi trên thông báo các vị trí việc làm còn trống. Việc thông báo tuyển dụng công chức phải được thông báo rộng rãi trên cả nước qua công báo, cũng như ấn phẩm điện tử và các báo thương mại…

Mặt khác, việc tuyển dụng công chức ngoài điều kiện là công dân của Ba Lan thì các ứng viên tuyển dụng còn là thành viên trong khu vực liên minh Châu Âu và các quốc gia ký kết điều ước quốc tế với Ba Lan. Tòa án công lý Châu Âu có quyền xem xét các kháng cáo liên quan đến việc Ba Lan không chấp thuận các ứng viên thuộc liên minh Châu Âu thi tuyển công chức.

- Nguyên tắc cạnh tranh: Tuyển dụng công chức ở Ba Lan được dựa trên sự cạnh tranh lành mạnh giữa những ứng viên đáp ứng được các yêu cầu chung như: Công dân đủ tuổi chịu trách nhiệm pháp lý, có bằng đại học liên quan hoặc chứng chỉ học thuật, lý lịch rõ ràng và có sức khỏe phù hợp với công việc sẽ làm. Những người thi tuyển công chức có nghĩa vụ đáp ứng các yêu cầu cụ thể theo yêu cầu của công việc thực tế sẽ làm, cả về kiến thức và kinh nghiệm chuyên môn thông qua một số kỳ thi và sơ yếu lý lịch là cần thiết.

- Nguyên tắc thực tài: Việc tuyển dụng công chức phải dựa vào những ứng viên tốt nhất phù hợp cho hệ thống công vụ. Đây được coi là một phương tiện để xóa bỏ những thông lệ cũ như gia đình trị, sự bảo trợ chính trị, thương mại và sự hối lộ khi xin việc trong khu vực công.

2. Nội dung tuyển dụng công chức ở Ba Lan

2.1. Yêu cầu tuyển dụng công chức

Điều kiện tuyển dụng công chức phải đáp ứng các yêu cầu, điều kiện sau: Là công dân Ba Lan, có thể là công dân thuộc Liên minh Châu Âu và công dân của nước khác miễn là họ được tuyển dụng trên lãnh thổ Ba Lan tuân thủ theo Điều ước Quốc tế đã ký kết. Công dân không vi phạm pháp luật hoặc cố ý vi phạm tài chính; có trình độ cần thiết cho vị trí nhất định, được hưởng một danh tiếng hoàn hảo.

2.2. Thẩm quyền tuyển dụng công chức

Bộ Công vụ của Ba Lan là cơ quan quản lý việc tuyển dụng công chức trong phạm vi toàn quốc. Bộ Công vụ phải có trách nhiệm thông báo tuyển dụng công khai tại cơ quan, khu vực công cộng và ngoài ra phải thông báo tuyển dụng trên Bản tin Bộ Tư pháp, Bản tin của Thủ tướng.

Nội dung thông báo của cơ quan tuyển dụng công chức bao gồm: Tên, địa chỉ cơ quan, đặc điểm riêng của công việc, yêu cầu, mô tả công việc, phạm vi công việc, danh sách các tài liệu cần thiết, địa điểm và ngày nộp hồ sơ.

2.3. Phương thức tuyển dụng công chức

Một Ủy ban độc lập được thành lập để đánh giá các ứng viên tham gia dự tuyển công chức. Nguyên tắc công bằng, khách quan và đúng thủ tục sẽ là nguyên tắc chủ đạo cho hoạt động của Ủy ban này. Bất kỳ thành viên nào của Ủy ban có người thân hoặc bạn thân của một ứng viên hoặc của gia đình của các ứng viên đều bị yêu cầu phải rút khỏi Ủy ban.

Một kỳ thi nhằm kiểm tra kiến thức của các ứng viên, tất cả trong số họ được yêu cầu phải có bằng đại học liên quan hoặc các chứng chỉ cần thiết. Kiến thức này đặc biệt liên quan tới lĩnh vực luật công (hệ thống luật về Hiến pháp, hành chính, thuế và ngân sách của đất nước). Những đối tượng này được bổ sung bởi các đối tượng cụ thể coi là phù hợp với các lĩnh vực cụ thể, nơi mà các vị trí trống được tuyển dụng (ví dụ như luật lao động và an sinh xã hội cho các thanh tra về lao động, hải quan và các quy định thương mại quốc tế về sự thanh tra của hải quan, lý thuyết tổ chức và kế toán cho các quản trị viên). Người đứng đầu của cơ quan sẽ giám sát quy trình tuyển dụng cho đội ngũ công chức (các nhân viên công vụ, các công chức).

Tuyển dụng cho các vị trí công chức cấp cao, theo Luật Công chức, được coi là hợp pháp khi có một sự thăng tiến trong công chức. Các ứng viên cho các vị trí này phải có tư cách công chức. Theo các quy định, người đứng đầu cơ quan quản lý trực tiếp của quá trình tuyển dụng và Thủ tướng thông qua việc đề cử các quan chức cấp cao. Một Hội đồng các chuyên gia gồm sáu người (các giáo sư đại học, các chuyên gia nhân sự và các công chức) kiểm tra các ứng viên. Quy trình bắt đầu bằng việc làm quen với bản mô tả công việc của cơ quan có liên quan, tiếp theo là công bố các vị trí tuyển dụng trên bảng tin công chức. Sau đó, ban tuyển dụng và lựa chọn trong cơ quan công chức chuẩn bị một danh sách các ứng viên. Ban này đóng vai trò như là ban thư ký của nhóm chuyên gia. Ban này xem xét danh sách và các ứng cử viên được lựa chọn trải qua một cuộc thi viết với ba phần, đánh giá kiến thức, năng lực tâm lý, giải quyết vấn đề thực tiễn. Một cuộc phỏng vấn có cấu trúc với ban tuyển dụng là bước tiếp theo. Ứng viên nào đạt được kết quả tốt nhất sẽ nhận được một đề nghị, nhưng Bộ trưởng có liên quan có thể từ chối các ứng viên đã đạt điểm cao nhất mà không cần phải đưa ra lý do. Ứng viên bị loại có thể khiếu nại với người đứng đầu cơ quan chống lại quyết định của ban tuyển dụng, sau đó là Tòa án hành chính, nhưng Tòa án có thể xem xét những khía cạnh thủ tục chính thức, không xem xét nội dung của quyết định.

Luật Công chức cho phép thuyên chuyển ngang bên trong và ngang qua các bộ và các tổ chức của cơ quan nhà nước, vị trí tuyển được công bố trên bảng tin công chức. Thuyên chuyển cũng có thể là bắt buộc, áp đặt lên một công chức dưới những điều kiện nhất định nếu được khẳng định như là người quan trọng nhất của cơ quan. Tuy nhiên, nhìn chung, thuyên chuyển ngang không phải là khả thi và không được khuyến khích.

2.4. Quy trình tuyển dụng công chức

- Thông báo tuyển dụng công chức và tiếp nhận hồ sơ dự tuyển;

- Tổ chức tuyển dụng công chức;

- Thông báo kết quả tuyển dụng công chức.

2.5. Tập sự

Người quan tâm nộp đơn ứng tuyển trải qua các thủ tục chuyên môn và theo quyết định của người đứng đầu của cơ quan nơi mà các có vị trí tuyển dụng trống, được đưa ra một hợp đồng lao động có thời hạn giới hạn trong ba năm.

Trong thời gian này, những người được ký hợp đồng phải có một thời gian làm "công chức dự bị" để học được các kiến thức lý thuyết và các kỹ năng thực tiễn cần thiết cho vị trí việc làm. Giai đoạn chuẩn bị này kéo dài 06 tháng và phải được kết thúc trong vòng 18 tháng đầu tiên sau khi được ký kết hợp đồng. Các công chức dự bị phải tuân theo cuộc kiểm tra, nếu đánh giá tích cực, các ứng viên được nhận một hợp đồng lao động không thời hạn. Các sinh viên tốt nghiệp của các trường hành chính quốc gia được miễn dự bị công chức. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức có thể rút ngắn thời gian tập sự nếu ứng viên chứng minh kiến thức và kinh nghiệm phù hợp với kế hoạch tập sự đã đưa ra. Vào cuối giai đoạn tập sự, công chức có thể bị sa thải khỏi hệ thống công vụ, do hiệu suất làm việc không đạt yêu cầu hoặc được xác nhận là một công chức vĩnh viễn, suốt đời.

3. Liên hệ với việc tuyển dụng công chức ở Việt Nam

Việc tuyển dụng công chức ở Việt Nam theo quy định Luật Cán bộ, công chức năm 2008 và các văn bản hướng dẫn thi hành như Nghị định số 24/2010/NĐ-CP ngày 15/3/2010 của Chính phủ quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức; Nghị định số 01/NĐHN-BNV ngày 03/10/2013 của Bộ Nội vụ qui định về tuyển dụng, sử dụng, quản lý công chức. Qua các quy định của pháp luật, tác giả nhận thấy rằng có một số điểm giống nhau cơ bản trong việc tuyển dụng công chức của Việt Nam và Ba Lan về nguyên tắc tuyển dụng đều tuyển dụng theo nguyên tắc cạnh tranh; điều kiện, yêu cầu tuyển dụng có văn bằng, chứng chỉ phù hợp; phương thức tuyển dụng chủ yếu qua hình thức thi tuyển; quy trình tuyển dụng đều trải qua ba bước; đều có thời gian tập sự.

Tuy nhiên, do Việt Nam và Ba Lan có vị trí địa lý, dân cư, tín ngưỡng, tôn giáo, phong tục tập quán, lịch sử hình thành... khác nhau, nên việc tuyển dụng công chức cũng có nhiều điểm khác biệt. Cụ thể là:

Thứ nhất, về nguyên tắc tuyển dụng công chức: Ba Lan nhấn mạnh việc tuyển dụng theo nguyên tắc bình đằng, công bằng và nguyên tắc thực tài. Đây là những nội dung cốt lõi của việc xây dựng chế độ công vụ, công chức hiện đại, chính quy. Ở Việt Nam, pháp luật hiện hành chưa có những quy định cụ thể về nguyên tắc tuyển dụng như trên, xu hướng cải cách chế độ công vụ, công chức của Việt Nam cũng đang hướng tới điều này.

Thứ hai, về yêu cầu, điều kiện tuyển dụng công chức: Ở Ba Lan phải là công dân Ba Lan hoặc có thể là công dân của các quốc gia trong khu vực liên minh Châu Âu (EU) và các nước khác có ký điều ước quốc tế với Ba Lan. Tuy nhiên, việc tuyển dụng công chức của Việt Nam theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 36 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 quy định điều kiện tuyển dụng công chức có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam. Như vậy, về đối tượng dự tuyển công chức ở Ba Lan có phần quy định “mở hơn” so với Việt Nam.

Thứ ba, về thẩm quyền tuyển dụng công chức: Thẩm quyền tuyển dụng công chức ở Ba Lan trao cho cơ quan đó là Bộ Công vụ. Ở Việt Nam, theo quy định tại Điều 39 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 có rất nhiều cơ quan thực hiện tuyển dụng công chức như Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán Nhà nước thực hiện tuyển dụng và tuyển dụng công chức trong cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc quyền quản lý; Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chủ tịch nước thực hiện tuyển dụng công chức trong các cơ quan, đơn vị thuộc quyền quản lý; bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ tuyển dụng và phân cấp tuyển dụng công chức trong các cơ quan, đơn vị thuộc quyền quản lý... Ở Ba Lan thẩm quyền quản lý được giao cho một đơn vị chủ trì quản lý công tác tuyển dụng, từ đó, việc tuyển dụng công chức sẽ mang tính chuyên nghiệp. Đối với Việt Nam, việc tuyển dụng công chức có nhiều cơ quan thực hiện tuyển dụng công chức.

Thứ tư, về tập sự: Điểm khác biệt chủ yếu của việc tuyển dụng công chức ở Ba Lan đối với Việt Nam đó là ở Ba Lan có “công chức dự bị”, thời gian từ 06 tháng đến 18 tháng, sinh viên của Học viện Hành chính được miễn chế độ công chức dự bị này.

Các quy định tuyển dụng công chức của Ba Lan tương đối đầy đủ và hoàn thiện về các nội dung như yêu cầu, điều kiện tuyển dụng công chức, căn cứ tuyển dụng công chức, quy trình tuyển dụng công chức, tập sự công chức từ trung ương đến địa phương. Từ đó, góp phần xây dựng nền hành chính của Ba Lan ngày càng chuyên nghiệp, mẫn cán, không thiên vị, trung thực, trung lập chính trị đáp ứng sự mong đợi của xã hội. Qua bài viết, tác giả đã nhấn mạnh tới một số điểm giống nhau cơ bản, cũng như những điểm khác biệt trong quá trình tuyển dụng công chức ở Ba Lan và Việt Nam. Đó là cơ sở lý thuyết mang tính gợi mở trong quá trình xây dựng, hoàn thiện pháp luật về tuyển dụng công chức ở Việt Nam trong giai đoạn mới./.

TS. Trần Thị Hải Yến

Học viện Hành chính Quốc gia



Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: