Thứ năm 19/02/2026 08:12
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Ứng dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực thi hành án dân sự

Bài viết đề cập đến hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực thi hành án dân sự thông qua việc nhận diện những thuận lợi, khó khăn và đưa ra giải pháp nâng cao hiệu quả công tác này trong thời gian tới.

Hệ thống Thi hành án dân sự (THADS) là hệ thống quản lý tập trung, thống nhất từ Trung ương đến địa phương với 78 năm hình thành và phát triển. Hiện nay, hệ thống THADS có 08 đơn vị chuyên môn thuộc Tổng cục Thi hành án dân sự, 63 Cục Thi hành án dân sự ở cấp tỉnh, 702 Chi cục Thi hành án dân sự ở cấp huyện và gần 10.000 công chức, viên chức, người lao động trong toàn hệ thống. Cùng với đó, các cơ quan thi hành án trong quân đội cũng đã được kiện toàn với Cục Thi hành án Bộ Quốc phòng và Phòng Thi hành án quân khu và tương đương. Tính đến nay, hệ thống THADS trên toàn quốc đã thực hiện thi hành được gần 1.000.000 việc với trên 400 nghìn tỷ đồng/năm. Kết quả thực hiện nhiệm vụ thi hành án ngày càng cao, có xu hướng bền vững và cơ bản đạt, vượt các chỉ tiêu Quốc hội giao. THADS đã và đang góp phần tích cực, quan trọng vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là kết quả THADS về việc, về tiền góp phần tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy phát triển sản xuất, kinh doanh thông qua hoạt động thu hồi nợ, giảm nợ xấu và mở rộng tín dụng, bảo vệ quyền chủ nợ và thu hồi nợ của các tổ chức tín dụng, nâng cao chất lượng an sinh xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, cá nhân.

Chính phủ đang đẩy mạnh triển khai xây dựng Chính phủ điện tử, Chính phủ số của quốc gia với nhiều mục tiêu và yêu cầu đã được đặt ra nhằm phát triển Chính phủ số có toàn bộ hoạt động an toàn trên môi trường số; có mô hình hoạt động được thiết kế lại và vận hành dựa trên dữ liệu và công nghệ số, để có khả năng cung cấp dịch vụ chất lượng hơn, đưa ra quyết định kịp thời hơn, ban hành chính sách tốt hơn, sử dụng nguồn lực tối ưu hơn, kiến tạo phát triển, dẫn dắt chuyển đổi số quốc gia, giải quyết hiệu quả những vấn đề lớn trong phát triển và quản lý kinh tế - xã hội.

Phát triển Chính phủ số một cách tổng thể, toàn diện, phát huy kết quả đạt được, tập trung nguồn lực, huy động sự tham gia của cả hệ thống chính trị, có giải pháp, cách làm đột phá, mang tính khác biệt, để cơ bản hình thành Chính phủ số vào năm 2025. Quyết định 942/QĐ-TTg ngày 15/6/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số giai đoạn 2021 - 2025, định hướng đến năm 2030 đặt ra chỉ tiêu “100% thủ tục hành chính đủ điều kiện theo quy định của pháp luật được cung cấp dưới hình thức dịch vụ công trực tuyến mức độ 4”. Bên cạnh đó, thực hiện “100% kết quả giải quyết thủ tục hành chính được số hóa” là một chỉ tiêu triển khai quan trọng trong năm 2023 được nêu tại Quyết định số 17/QĐ-UBQGCĐS ngày 04/4/2023 của Chủ tịch Ủy ban Quốc gia về chuyển đổi số.

Công nghệ số đã và đang phát triển một cách nhanh chóng, ảnh hưởng tới mọi mặt đời sống xã hội, trong đó đã tác động mạnh mẽ tới hoạt động THADS, từ đó tạo ra sự chuyển đổi từ thủ tục thi hành án truyền thống sang thủ tục thi hành án dựa trên công nghệ số. Sự chuyển đổi này đã góp phần tạo điều kiện tốt hơn cho các bên có liên quan trong THADS khi thực hiện các thủ tục THADS; đảm bảo công bằng, minh bạch, trách nhiệm; thông tin kịp thời và chủ động trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí, từ đó tiết kiệm nguồn lực cho xã hội. Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới (Nghị quyết số 27-NQ/TW) xác định, tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống cơ quan thi hành án; hoàn thiện cơ chế nâng cao chất lượng, hiệu quả THADS, hành chính theo hướng rút ngắn thời gian, giảm thiểu chi phí; nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan trong thi hành án hình sự, dân sự và hành chính; thực hiện xã hội hóa một số hoạt động THADS với cơ chế bảo đảm và lộ trình phù hợp.

Theo yêu cầu về xây dựng Chính phủ điện tử, Bộ Tư pháp, hệ thống THADS cần tập trung hơn trong việc triển khai ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong tổ chức thi hành án, coi đây là giải pháp đột phá trong công tác THADS, qua đó góp phần rút ngắn thời gian thi hành án, nêu cao tinh thần phục vụ người dân, doanh nghiệp.

1. Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực thi hành án dân sự

1.1. Công tác chỉ đạo

Tổng cục Thi hành án dân sự đã ban hành nhiều văn bản để lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện ứng dụng CNTT, chuyển đổi số nhằm cụ thể hóa các nội dung của Nghị quyết số 27-NQ/TW cũng như đem lại hiệu quả cao trong công tác của cơ quan, đơn vị. Hàng năm, Tổng cục Thi hành án dân sự đã xây dựng kế hoạch ứng dụng CNTT, chuyển đổi số trong hệ thống THADS và ban hành các văn bản chỉ đạo các đơn vị triển khai thực hiện. Các kế hoạch, đề án về ứng dụng CNTT trong Hệ thống THADS xác định rõ mục đích, yêu cầu, các nhiệm vụ cụ thể, có lộ trình, giải pháp cho cả giai đoạn và đối với từng năm cụ thể. Đồng thời, Lãnh đạo Tổng cục chỉ đạo xây dựng kế hoạch triển khai từ Tổng cục đến các Cục, Chi cục Thi hành án dân sự. Hàng năm, ứng dụng CNTT và chuyển đổi số được đưa vào làm chỉ tiêu, nhiệm vụ giao hàng năm cho các cơ quan THADS và đưa vào tiêu chí chấm điểm đánh giá hàng năm đối với các cơ quan THADS địa phương.

1.2. Hạ tầng công nghệ thông tin

Hạ tầng kỹ thuật về CNTT trong hệ thống THADS ngày càng được quan tâm đầu tư xây dựng. 100% công chức hệ thống THADS được trang bị máy tính cá nhân có kết nối sử dụng internet phục vụ hoạt động.

Hệ thống Hội nghị truyền hình trực tuyến được triển khai thông suốt. Phần lớn các văn bản được trình, ký qua Hệ thống quản lý văn bản và điều hành tạo thuận lợi cho công chức, viên chức trong quá trình triển khai nhiệm vụ.

Ở Trung ương, 100% cán bộ, công chức, viên chức của Tổng cục Thi hành án dân sự được trang bị mỗi người 01 máy tính kết nối mạng nội bộ (LAN) và mạng internet, các phòng làm việc được trang bị một số thiết bị khác phục vụ công tác như máy in, máy fax, máy scan, máy photocopy, điện thoại…

Tại các cơ quan THADS địa phương: Cán bộ, công chức đều được trang bị tương đối đầy đủ các trang thiết bị tin học phục vụ công tác chuyên môn nghiệp vụ, đạt yêu cầu 01 máy tính/01 người; 100% Cục Thi hành án dân sự và Chi cục Thi hành án dân sự đã thiết lập hệ thống mạng nội bộ.

Trong những năm qua, Tổng cục Thi hành án dân sự đã triển khai nhiều phần mềm nghiệp vụ bao gồm:

(i) Phần mềm quản lý quá trình thụ lý, tổ chức thi hành án và báo cáo thống kê THADS: Ngày 02/6/2017, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ký Quyết định số 791/QĐ-BTP về việc triển khai Phần mềm này trong toàn Hệ thống THADS;

(ii) Phần mềm quản lý văn bản đi/đến: Ngày 12/11/2014, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ký Quyết định số 3037/QĐ-BTP về việc ban hành Kế hoạch triển khai, đưa vào sử dụng phần mềm quản lý công văn đi/đến cho Cục Thi hành án dân sự các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;

(iii) Phần mềm quản lý công chức THADS: Ngày 20/9/2021, Tổng cục Thi hành án dân sự đã ban hành Công văn số 3028/TCTHADS-TCCB về việc triển khai phần mềm quản lý công chức THADS;

(iv) Phần mềm cơ sở dữ liệu điện tử về thông tin của người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành án: Ngày 22/3/2021 Tổng cục trưởng Tổng cục Thi hành án dân sự đã ký Quyết định số 247/QĐ-TCTHADS về việc triển khai phần mềm cơ sở dữ liệu điện tử về thông tin của người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành án;

(v) Phần mềm hỗ trợ trực tuyến THADS: Ngày 01/10/2020, Tổng cục trưởng Tổng cục Thi hành án dân sự đã ký Quyết định số 816/QĐ-TCTHADS về việc triển khai phần mềm hỗ trợ trực tuyến THADS;

(vi) Phần mềm kế toán nghiệp vụ thi hành án dân sự và kế toán hành chính sự nghiệp THADS;

(vii) Phần mềm lưu trữ dùng chung cho hệ thống tổ chức các cơ quan THADS (đang sử dụng tại Tổng cục Thi hành án dân sự, các Cục THADS).

Ngoài ra, hầu hết công chức, viên chức thuộc Tổng cục Thi hành án dân sự, các cơ quan THADS địa phương đều được cấp hộp thư điện tử công vụ phục vụ công tác chuyên môn nghiệp vụ (khoảng 10.000 tài khoản), dung lượng cao nhất lên đến 5GB; đầu tư mua sắm, lắp đặt và đưa vào sử dụng hệ thống giao ban trực tuyến với 64 điểm cầu (tại Tổng cục và 63 Cục Thi hành án dân sự) phục vụ công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành nhanh chóng, tiết kiệm. Triển khai cấp chữ ký số cho Lãnh đạo Tổng cục Thi hành án dân sự, Lãnh đạo các đơn vị thuộc Tổng cục, Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự và Chi cục trưởng Chi cục Thi hành án dân sự.

1.3. Bảo đảm an toàn, an ninh thông tin

Công tác bảo đảm an toàn thông tin mạng thường xuyên được quan tâm, quán triệt và chỉ đạo thực hiện nghiêm túc theo các văn bản chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, Bộ Tư pháp về bảo vệ an ninh mạng như: Nghị quyết số 51-NQ/TW ngày 05/9/2019 của Bộ Chính trị về Chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia; Nghị quyết số 30-NQ/TW ngày 25/7/2018 của Bộ Chính trị về Chiến lược an ninh mạng quốc gia; Nghị quyết số 22/NQ-CP ngày 18/10/2019 của Chính phủ về Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 30-NQ/TW ngày 25/7/2018 của Bộ Chính trị về Chiến lược an ninh mạng quốc gia; Luật An ninh mạng năm 2018; Nghị định số 04/2019/NĐ-CP ngày 27/12/2019 của Chính phủ quy định chi tiết, trình tự, thủ tục áp dụng một số biện pháp bảo vệ an ninh mạng; các văn bản chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về công tác phòng, chống gián điệp mạng, bảo vệ bí mật nhà nước trên không gian mạng; Luật Bảo vệ bí mật nhà nước năm 2018 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Ngày 16/01/2023, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ký Quyết định số 45/QĐ-BTP ban hành Quy chế bảo đảm an toàn, an ninh thông tin mạng Bộ Tư pháp. Đến nay, 100% máy tính của công chức tại Tổng cục Thi hành án dân sự đều được Cục Công nghệ thông tin hỗ trợ cài đặt phần mềm diệt virus.

1.4. Cung cấp thông tin, dịch vụ công trực tuyến phục vụ người dân, doanh nghiệp

Cổng/Trang thông tin điện tử THADS thường xuyên cập nhật, đăng tải các thông tin liên quan đến công tác chỉ đạo, quản lý, điều hành hoạt động THADS; cung cấp một số dịch vụ công trực tuyến; hỗ trợ trực tuyến THADS đối với gửi đơn yêu cầu THADS; yêu cầu xác nhận kết quả THADS; tiếp nhận phản ánh, kiến nghị về THADS; đăng tải công khai danh sách người phải thi hành án chưa có điều kiện, quyết định giải quyết khiếu nại lần hai và thông tin về các thông báo lựa chọn tổ chức thẩm định giá, tổ chức bán đấu giá và thông tin bán đấu giá tài sản THADS…

Đối với việc triển khai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án trên Cổng dịch vụ công quốc gia theo nhiệm vụ được Thủ tướng Chính phủ giao tại Quyết định số 422/QĐ-TTg ngày 04/4/2022 phê duyệt Danh mục dịch vụ công trực tuyến tích hợp, cung cấp trên Cổng dịch vụ công quốc gia năm 2022. Hoạt động này đang được triển khai thực hiện tại 35 Chi cục Thi hành án dân sự, Tòa án nhân dân cấp huyện thuộc 07 tỉnh. Kết quả thu, nộp tiền tạm ứng án phí trên Cổng dịch vụ công quốc gia, tính đến ngày 24/4/2024 như sau: Tổng số thông báo nộp tạm ứng án phí thực hiện là 5.901 thông báo; tổng số tiền tạm ứng án phí đã thu, nộp là 38.932.979.281 VNĐ.

Việc triển khai thực hiện thu nộp tiền tạm ứng án phí, lệ phí tòa án trên Cổng dịch vụ công mang lại hiệu quả cho công dân. Theo đó, người khởi kiện không cần đến trụ sở cơ quan THADS, Tòa án nhân dân để làm trực tiếp nên tiết kiệm được thời gian, chi phí cho người khởi kiện; cơ quan nhà nước (cơ quan THADS, Tòa án nhân dân) tiết kiệm được chi phí phát hành, gửi biên lai giấy; hạn chế được việc tiếp xúc trực tiếp không cần thiết giữa người khởi kiện với cơ quan nhà nước.

1.5. Nguồn nhân lực

Tổng cục Thi hành án dân sự, các Cục Thi hành án dân sự bố trí cán bộ chuyên trách về CNTT tại cơ quan, thực hiện chính sách đảm bảo cho cán bộ phụ trách lĩnh vực CNTT. Hiện tại, ở Tổng cục Thi hành án dân sự có Vụ Quản lý thi hành án hành chính, thống kê và dữ liệu thi hành án (gọi tắt là Vụ Nghiệp vụ 3) là đơn vị trực thuộc tham mưu trong công tác nghiên cứu và triển khai các ứng dụng CNTT của toàn hệ thống THADS. Ở các cơ quan THADS hiện nay được phân bổ 01 biên chế chuyên trách CNTT/Cục Thi hành án dân sự (hầu hết các Cục Thi hành án dân sự đã tuyển đủ số biên chế này, một số đơn vị giao kiêm nhiệm phụ trách), các Chi cục Thi hành án dân sự chưa có cán bộ chuyên trách về CNTT. Tuy nhiên, hiện nay trình độ của công chức được giao nhiệm vụ đầu mối ứng dụng CNTT và chuyển đổi số chưa đảm bảo chất lượng, một số không được đào tạo về chuyên ngành CNTT. Hàng năm, Tổng cục Thi hành án dân sự phối hợp với các đơn vị liên quan (Vụ Tổ chức cán bộ, Cục Công nghệ thông tin, Học viện Tư pháp) xây dựng kế hoạch đào tạo bồi dưỡng, trong đó có đào tạo, bồi dưỡng kiến thức CNTT cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong hệ thống THADS.

2. Thuận lợi, khó khăn

Về cơ bản, hạ tầng CNTT được đầu tư đã đáp ứng yêu cầu quản lý, chỉ đạo, điều hành và thực hiện nhiệm vụ của Bộ Tư pháp, Tổng cục Thi hành án dân sự. Việc xây dựng, triển khai các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu, phần mềm ứng dụng trong hoạt động của Bộ, Ngành được tăng cường, từng bước đồng bộ và mang lại hiệu quả rõ rệt. Việc ứng dụng CNTT đã góp phần tích cực thay đổi lề lối, phương thức lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, lãnh đạo các cấp; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành; phục vụ công tác chuyên môn nghiệp vụ; tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp tiếp cận, sử dụng dịch vụ công của Bộ, Ngành Tư pháp.

Công tác đào tạo nâng cao kiến thức về CNTT được quan tâm thường xuyên. Công chức, viên chức của hệ thống THADS được tạo điều kiện tham gia các khóa bồi dưỡng kiến thức về CNTT, bảo đảm an toàn an ninh thông tin, an toàn dữ liệu; công tác bảo đảm an toàn thông tin mạng thường xuyên được quan tâm, quán triệt và chỉ đạo thực hiện nghiêm túc theo các văn bản chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, Bộ Tư pháp về bảo vệ an ninh mạng.

Đặc biệt, công tác phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong hoạt động ứng dụng CNTT đang ngày càng chặt chẽ hơn. Trong thời gian vừa qua, Tổng cục Thi hành án dân sự đã làm việc với các đơn vị chuyên môn của Tòa án nhân dân tối cao, Văn phòng Chính phủ, Kho bạc nhà nước trong việc xây dựng, triển khai, đánh giá hoạt động của việc thu nộp tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án trên Cổng dịch vụ công quốc gia. Đồng thời, các cơ quan cũng tham gia trao đổi, thảo luận phương án giải quyết khó khăn, vướng mắc khi triển khai thủ tục này.

Bên cạnh đó, hoạt động ứng dụng CNTT trong lĩnh vực THADS còn gặp một số khó khăn, hạn chế như: (i) Việc đầu tư trang thiết bị, hạ tầng CNTT chưa đồng bộ, số lượng người cùng truy cập vào phần mềm nghiệp vụ tại một số thời điểm lớn ảnh hưởng tới việc khai thác các phần mềm nghiệp vụ. Tốc độ xử lý của đường truyền đôi lúc còn chậm dẫn đến tình trạng quá tải khi truy cập vào một số hệ thống phần mềm nghiệp vụ. Trong quá trình khai thác phần mềm nghiệp vụ, đôi khi vẫn còn tình trạng chậm, treo, nhất là trong thời điểm tổng hợp, lấy báo cáo số liệu. (ii) Công tác xây dựng, quản lý, sử dụng cơ sở dữ liệu điện tử vẫn còn tình trạng cắt khúc, chưa tạo lập được cơ sở dữ liệu tập trung, nhất là tích hợp cơ sở dữ liệu của từng địa phương thành cơ sở dữ liệu chung thống nhất của cả hệ thống THADS. Việc xây dựng, triển khai một số phần mềm, ứng dụng CNTT mặc dù đã được thực hiện nhưng còn chậm so với yêu cầu. (iii) Kinh phí dành cho các hoạt động ứng dụng CNTT, chuyển đổi số, đảm bảo an toàn thông tin mạng còn hạn hẹp. So với yêu cầu công tác hiện nay thì việc đầu tư cho hoạt động ứng dụng CNTT chưa thực sự đáp ứng nhu cầu. Trong thời gian tới, lĩnh vực THADS cần quan tâm đẩy mạnh thực hiện, tăng cường các nguồn lực, tích cực phối hợp với các đơn vị có thế mạnh về CNTT hỗ trợ, hợp tác phát triển. (iv) Đội ngũ công chức phụ trách nhiệm vụ ứng dụng CNTT, chuyển đổi số tại một số cơ quan, đơn vị kiêm nhiệm dẫn đến hiệu quả hoạt động chưa cao. Kỹ năng sử dụng máy tính, khả năng ứng dụng CNTT của một số cán bộ, công chức THADS còn hạn chế, nhất là tại các Chi cục Thi hành án dân sự. Lĩnh vực THADS chưa có nhiều chính sách khuyến khích, đãi ngộ nên chưa thu hút được nguồn nhân lực CNTT có trình độ chuyên môn cao vào công tác tại hệ thống THADS. (v) Dịch vụ công trực tuyến thu, nộp tiền tạm ứng án phí, lệ phí trên Cổng dịch vụ công quốc gia vẫn còn một số khó khăn, vướng mắc có thể làm phát sinh thêm công việc, chi phí cho cơ quan nhà nước, chưa thực sự tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp... kéo dài thời gian giải quyết vụ việc.

3. Đánh giá chung và nhiệm vụ, giải pháp

3.1. Đánh giá chung

Việc ứng dụng CNTT trong hoạt động của hệ thống THADS đã thu được nhiều kết quả tích cực, đáp ứng yêu cầu trao đổi thông tin, cung cấp số liệu, dữ liệu giữa các cơ quan, tổ chức và người dân. Nhiều phần mềm chuyên môn, nghiệp vụ được triển khai có hiệu quả; tăng cường kết nối, trao đổi thông tin, dữ liệu theo hướng đồng bộ, liên thông, hiện đại, thực hiện nhiệm vụ của Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030 (Đề án 06). Việc xây dựng các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu, phần mềm ứng dụng trong hoạt động của Bộ, Ngành được tăng cường, từng bước đồng bộ và mang lại hiệu quả rõ rệt. Nguồn nhân lực về CNTT được quan tâm đào tạo, bồi dưỡng. Việc ứng dụng CNTT giúp giảm được thời gian, công sức, chi phí và tạo điều kiện thuận lợi, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số, hiện đại hóa hệ thống THADS. Đồng thời, việc ứng dụng CNTT đã góp phần tích cực thay đổi lề lối, phương thức lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, lãnh đạo các cấp; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành; phục vụ công tác chuyên môn nghiệp vụ; tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp tiếp cận, sử dụng dịch vụ công của Bộ, Ngành Tư pháp.

Bên cạnh những kết quả đạt được, quá trình triển khai thực hiện vẫn còn một số tồn tại, hạn chế, cụ thể: Hạ tầng CNTT còn thiếu đồng bộ; hiệu quả khai thác và sử dụng các ứng dụng CNTT để phục vụ công tác chuyên môn, nghiệp vụ của công chức, viên chức còn thấp; nguồn nhân lực về CNTT trong Bộ Tư pháp, trong đó có hệ thống THADS còn thiếu về số lượng, chưa đáp ứng được yêu cầu về chất lượng.

Có thể thấy rằng, việc ứng dụng CNTT trong công tác THADS thời gian qua đã có những chuyển biến nhất định, đạt được một số kết quả trên nhiều mặt (hạ tầng, phần mềm, cơ sở dữ liệu, nhân lực, đào tạo, bồi dưỡng…). Tuy nhiên, so với yêu cầu của công tác THADS hiện nay và thời gian tới thì việc ứng dụng CNTT chưa đáp ứng yêu cầu, cần phải quan tâm đẩy mạnh, tăng cường các nguồn lực, tích cực phối hợp với các đơn vị có thế mạnh về CNTT để hỗ trợ, hợp tác phát triển.

3.2. Nhiệm vụ

Thứ nhất, hoàn thiện môi trường pháp lý thúc đẩy hoạt động ứng dụng CNTT trong lĩnh vực THADS.

Thứ hai, phát triển hạ tầng CNTT, các ứng dụng và phần mềm nghiệp vụ hỗ trợ cho công tác chỉ đạo, điều hành, tổ chức, hoạt động THADS, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động THADS và cung cấp nhiều tiện ích cho người dân, doanh nghiệp; kết nối cơ sở dữ liệu THADS, phần mềm chuyên ngành với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, các cơ sở dữ liệu quốc gia và phần mềm chuyên ngành liên quan khác.

Thứ ba, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ quản trị, vận hành, khai thác hiệu quả các hệ thống thông tin đã được đầu tư, nâng cao kỹ năng ứng dụng CNTT cho công chức trong hệ thống THADS; ứng dụng công nghệ mới như công nghệ trí tuệ nhân tạo, điện toán đám mây, bigdata...

Thứ tư, xây dựng, triển khai các tiện ích, dịch vụ công trực tuyến phục vụ hiệu quả cho người dân, doanh nghiệp.

Thứ năm, tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến nâng cao nhận thức và kỹ năng cho cán bộ, công chức về các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và của tỉnh về CNTT, truyền thông về các ứng dụng CNTT trong cải cách hành chính. Cùng với đó, tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả chương trình tổng thể cải cách hành chính gắn kết chặt chẽ với việc xây dựng chính quyền điện tử, công sở số; đẩy mạnh ứng dụng CNTT, số hóa quy trình, hồ sơ; cung cấp đầy đủ thông tin lên Cổng thông tin điện tử THADS và các Trang thông tin điện tử THADS của địa phương.

3.3. Giải pháp

Một là, tiếp tục quán triệt, tuyên truyền vai trò của ứng dụng CNTT trong chuyển đổi số và nâng cao chất lượng hoạt động THADS; tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp tuyên truyền nâng cao nhận thức, vai trò, trách nhiệm cho công chức, người lao động trong các cơ quan THADS về tầm quan trọng của ứng dụng CNTT và chuyển đổi số trong phát triển kinh tế xã hội và hiện đại hóa hoạt động THADS. Đề ra nhiệm vụ cụ thể theo lộ trình để chỉ đạo triển khai thực hiện.

Thủ trưởng cơ quan THADS trực tiếp chỉ đạo quyết liệt việc khai thác, sử dụng hiệu quả các hệ thống ứng dụng dùng chung, các phần mềm chuyên ngành đã triển khai; yêu cầu cán bộ, công chức chủ động, tích cực, có tinh thần trách nhiệm cao trong việc tăng cường xử lý công việc, trao đổi sử dụng văn bản điện tử trên môi trường mạng, đặc biệt là đẩy mạnh hoạt động số hóa hồ sơ giải quyết thủ tục hành chính.

Hai là, hoàn thiện thể chế: Nghiên cứu, sửa đổi các quy định của pháp luật về THADS, nhất là các quy định làm cơ sở pháp lý cho việc ứng dụng CNTT, chuyển đổi số và các quy định tái cấu trúc các thủ tục liên quan đến giải quyết việc của người dân và doanh nghiệp trong THADS như: Văn bản điện tử; gửi, nhận văn bản trên môi trường mạng; thủ tục thu, nộp và thanh toán tiền trực tuyến; hồ sơ điện tử; phương thức gửi đơn yêu cầu thi hành án trên môi trường mạng…

Ba là, xây dựng hạ tầng thông tin, hạ tầng số quốc gia đồng bộ, hiện đại: Rà soát lại các nội dung, kế hoạch, dự án, đề án ưu tiên cho hoạt động ứng dụng CNTT, tạo điều kiện thuận lợi cho ứng dụng CNTT phát triển. Ưu tiên nguồn vốn nâng cấp hạ tầng CNTT, đào tạo, bồi dưỡng nhân lực CNTT. Ưu tiên các đơn vị cung cấp ứng dụng CNTT có kinh nghiệm, nghiệp vụ cao về CNTT. Bên cạnh đó, nghiên cứu cơ chế thuê hạ tầng và các dịch vụ CNTT đảm bảo hiệu quả, tiết kiệm; đồng thời, thực hiện tốt công tác quản lý và thực thi các chính sách về an toàn thông tin, bảo mật dữ liệu.

Bốn là, về ứng dụng CNTT, công nghệ số: Tiếp tục triển khai các văn bản chỉ đạo về việc tập trung thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm về chuyển đổi số trong cơ quan nhà nước. Quán triệt, tuyên truyền sâu rộng các chủ trương, chính sách của Đảng, Chính sách, pháp luật của Nhà nước về chuyển đổi số đến toàn thể công chức, viên chức trong hệ thống THADS. Đảm bảo số hóa tài liệu, hồ sơ, quy trình nghiệp vụ; đảm bảo tỷ lệ văn bản trao đổi giữa cơ quan nhà nước dưới dạng điện tử đạt 100%.

Trong thời gian tới, lĩnh vực THADS cần chú trọng đẩy mạnh công tác số hóa hồ sơ; xây dựng, nâng cấp một số phần mềm nghiệp vụ, xây dựng, hoàn thiện, khai thác hiệu quả cơ sở dữ liệu THADS, theo dõi thi hành án hành chính, bồi thường nhà nước, đảm bảo tài chính; kết nối cơ sở dữ liệu THADS, phần mềm nghiệp vụ trong lĩnh vực THADS với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành, phần mềm chuyên ngành có liên quan; ứng dụng các công nghệ mới như công nghệ trí tuệ nhân tạo, công nghệ bigdata... để nâng cao hiệu quả, chất lượng hoạt động THADS, góp phần thúc đẩy cải cách hành chính nhà nước.

Năm là, phát triển nguồn nhân lực CNTT: Kiện toàn tổ chức làm công tác ứng dụng CNTT chuyên trách tại Tổng cục Thi hành án dân sự và các cơ quan THADS địa phương; tuyển dụng nguồn nhân lực có chất lượng cao phục vụ công tác ứng dụng CNTT và chuyển đổi số trong THADS; xây dựng kế hoạch đào tạo nâng cao trình độ cho cán bộ, công chức, viên chức trong hệ thống THADS. Tạo điều kiện cho cán bộ, công chức, viên chức tham gia các lớp đào tạo nâng cao kỹ năng về CNTT, chuyển đổi số, an toàn thông tin trong hoạt động chuyển đổi số.

Sáu là, về bảo đảm an toàn thông tin mạng, an ninh mạng cho chuyển đổi số: Phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền quan tâm đầu tư cho việc đảm bảo an toàn thông tin, an ninh thông tin, đặc biệt là các hoạt động trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh; thực hiện tốt công tác bảo mật thông tin, nhất là các thông tin tuyệt mật liên quan đến quốc phòng, an ninh./.

Hoàng Thị Vân Anh

Vụ Nghiệp vụ 3, Tổng cục Thi hành án dân sự

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (Số 409), tháng 7/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.
Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Trong hành trình chăm sóc sức khỏe người dân, có một mắt xích âm thầm nhưng vô cùng quan trọng: bảo quản thuốc. Chất lượng của từng viên thuốc, từng lọ vaccine hay mỗi loại dược liệu đều phụ thuộc tuyệt đối vào môi trường chúng được gìn giữ. Chỉ một biến động nhỏ về nhiệt độ, độ ẩm hay ánh sáng cũng đủ ảnh hưởng đến hiệu lực điều trị và an toàn của sản phẩm.
EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

Năng lượng không chỉ là “đầu vào” của sản xuất, mà còn là hạ tầng nền tảng quan trọng quyết định sức cạnh tranh quốc gia, chất lượng sống của người dân và năng lực tự chủ của nền kinh tế đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng cao, biến động nguồn cung nhiên liệu toàn cầu, áp lực chuyển dịch xanh và yêu cầu vận hành hệ thống an toàn, minh bạch, đặt ra bài toán lớn đối với ngành điện: vừa phải bảo đảm đủ điện cho phát triển nhanh và bền vững, vừa phải thiết kế lại cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư, phát triển thị trường và tăng năng lực quản trị.
Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

An toàn thực phẩm tại bếp ăn trường học luôn là nỗi trăn trở của các bậc phụ huynh và nhà quản lý giáo dục. Trước bài toán này, thay vì quản lý bằng giấy tờ, Công ty TNHH Hương Việt Sinh đã có bước đi tiên phong, xây dựng hệ sinh thái số, thiết lập tiêu chuẩn mới về sự minh bạch và an toàn trong lĩnh vực cung cấp suất ăn bán trú.
Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Trong giai đoạn đất nước chuyển mình mạnh mẽ, mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045 đặt ra yêu cầu ngày càng lớn đối với hệ thống năng lượng, đặc biệt là điện lực. Việc bảo đảm đủ điện cho sản xuất, kinh doanh và đời sống của Nhân dân không chỉ là nhiệm vụ kinh tế mà còn là vấn đề an ninh quốc gia. Trong bối cảnh đó, công tác điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050 (QHĐ VIII) nhận được sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ, các bộ ngành và cộng đồng doanh nghiệp.
LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước (Nghị quyết số 79-NQ/TW) được ban hành không chỉ khẳng định vai trò chủ đạo, dẫn dắt của doanh nghiệp nhà nước, mà còn đặt ra yêu cầu cao hơn về hiệu quả, năng lực cạnh tranh và khả năng làm chủ công nghệ. Trong dòng chảy đó, Tổng công ty Lắp máy Việt Nam - LILAMA đang cho thấy những nỗ lực rõ nét nhằm bứt phá, tái định vị từ một doanh nghiệp lắp máy truyền thống thành lực lượng tiên phong trong chế tạo, tổng thầu và làm chủ công nghệ công nghiệp - năng lượng.
Mô hình bệnh viện - dưỡng lão tích hợp: Giải pháp chăm sóc sức khỏe Nhân dân

Mô hình bệnh viện - dưỡng lão tích hợp: Giải pháp chăm sóc sức khỏe Nhân dân

Trong bối cảnh Việt Nam bước vào giai đoạn già hóa dân số nhanh, nhu cầu chăm sóc sức khỏe toàn diện và mô hình dưỡng lão chuyên nghiệp ngày càng trở nên cấp thiết. Sự kết hợp giữa y học cổ truyền với phục hồi chức năng, chăm sóc người cao tuổi được xem là hướng đi chiến lược, phù hợp với định hướng lớn của Đảng, Nhà nước về bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân.
Phát huy tinh thần, khí thế Đại hội XIV của Đảng, quyết tâm tổ chức thành công cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Phát huy tinh thần, khí thế Đại hội XIV của Đảng, quyết tâm tổ chức thành công cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Thành công của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng là nền tảng vững chắc để đẩy mạnh công tác chuẩn bị và tổ chức thắng lợi cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Trên cơ sở phân tích ý nghĩa, những điểm mới và yêu cầu đối với công tác bầu cử, làm rõ các nhiệm vụ trọng tâm về chuẩn bị nhân sự, công tác tuyên truyền, bảo đảm quyền của cử tri, cơ sở vật chất, hoạt động giám sát, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, Đồng chí Nguyễn Thị Thanh - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội khẳng định quyết tâm của Đảng ủy Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội trong lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thành công cuộc bầu cử là hành động thiết thực để triển khai kịp thời khí thế, tinh thần chỉ đạo mạnh mẽ của Nghị quyết Đại hội XIV và Chỉ thị số 01-CT/TW ngày 23/01/2026 của Bộ Chính trị.
Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Ngày 10/12/2025, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV thông qua Luật Bảo hiểm tiền gửi số 111/2025/QH15, thay thế Luật Bảo hiểm tiền gửi số 06/2012/QH13 với các quy định nhằm tạo hành lang pháp lý đầy đủ, rõ ràng để tổ chức bảo hiểm tiền gửi nâng cao năng lực tài chính và tham gia hiệu quả vào quá trình cơ cấu lại tổ chức tín dụng, qua đó bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền, bảo đảm duy trì sự ổn định của hệ thống tổ chức tín dụng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội theo định hướng tại Chiến lược phát triển bảo hiểm tiền gửi và Chiến lược ngành ngân hàng. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2026.
Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.

Theo dõi chúng tôi trên: