Thứ ba 19/05/2026 17:48
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Ủy thác tư pháp trong việc giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài tại Tòa án Việt Nam

Tóm tắt: Trong bài viết, tác giả bàn về khái niệm cũng như những thuận lợi, khó khăn của công tác ủy thác tư pháp trong việc giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài tại Tòa án Việt Nam và đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả của công tác này.

Tóm tắt: Trong bài viết, tác giả bàn về khái niệm cũng như những thuận lợi, khó khăn của công tác ủy thác tư pháp trong việc giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài tại Tòa án Việt Nam và đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả của công tác này.

Abstract: In the article, the author discusses the concept as well as the advantages and disadvantages of the judicial entrustment in resolving civil cases involving foreign elements in Vietnamese Court and proposes some solutions to contribute to the improvement of the efficiency of this work.


1. Khái niệm chung về ủy thác tư pháp trong việc giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài tại Tòa án Việt Nam

Theo khoản 2 Điều 464 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài là vụ việc dân sự thuộc một trong các trường hợp sau đây: Có ít nhất một trong các bên tham gia là cá nhân, cơ quan, tổ chức nước ngoài; các bên tham gia đều là công dân, cơ quan, tổ chức Việt Nam nhưng việc xác lập, thay đổi, thực hiện, chấm dứt quan hệ xảy ra tại nước ngoài; các bên tham gia đều là công dân, cơ quan, tổ chức Việt Nam nhưng đối tượng của quan hệ đó ở nước ngoài.

Khi giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài tại Tòa án Việt Nam thì Tòa án thường sẽ có hoạt động tố tụng như: Lấy lời khai, tống đạt giấy tờ, thu thập chứng cứ, xác minh địa chỉ… cho đương sự ở nước ngoài. Để thực hiện được công việc này, Tòa án cần sự tương trợ của nước nơi hành vi tố tụng đó thực hiện. Hoạt động này gọi là ủy thác tư pháp. Theo Điều 6 Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 thì ủy thác tư pháp là yêu cầu bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hoặc cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài về việc thực hiện một hoặc một số hoạt động tương trợ tư pháp theo quy định của pháp luật nước có liên quan hoặc điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Ủy thác tư pháp được chia ra làm ủy thác tư pháp của Việt Nam và ủy thác tư pháp của nước ngoài. Ủy thác tư pháp của Việt Nam là yêu cầu bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền Việt Nam đề nghị cơ quan có thẩm quyền nước ngoài thực hiện một hoặc một số hoạt động tương trợ tư pháp về dân sự. Ủy thác tư pháp của nước ngoài là yêu cầu bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền nước ngoài đề nghị cơ quan có thẩm quyền Việt Nam thực hiện một hoặc một số hoạt động tương trợ tư pháp về dân sự[1]. Phạm vi tương trợ tư pháp bao gồm: Tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu liên quan đến tương trợ tư pháp về dân sự; triệu tập người làm chứng, người giám định; thu thập, cung cấp chứng cứ; các yêu cầu tương trợ tư pháp khác về dân sự.

Như vậy, ủy thác tư pháp trong việc giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài tại Tòa án Việt Nam là yêu cầu bằng văn bản của Tòa án Việt Nam đề nghị cơ quan có thẩm quyền nước ngoài thực hiện một hoặc một số hoạt động tương trợ tư pháp. Ủy thác tư pháp trong việc giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết vụ án, góp phần đảm bảo cho vụ án được giải quyết trong thời hạn tố tụng, nhanh chóng, công bằng, khách quan.

2. Thuận lợi và khó khăn của công tác ủy thác tư pháp trong việc giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài tại Tòa án Việt Nam

2.1.Thuận lợi

Từ năm 2013 đến năm 2018, theo Báo cáo số lượng yêu cầu ủy thác tư pháp ra nước ngoài và từ nước ngoài vào Việt Nam cho thấy nhu cầu ủy thác tư pháp là rất lớn. Trong việc thực hiện ủy thác tư pháp giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài tại Tòa án ở Việt Nam hiện nay có một số thuận lợi:

Thứ nhất, ngày 01/10/2016, Công ước Lahay về tống đạt ra nước ngoài giấy tờ tư pháp và ngoài tư pháp trong lĩnh vực dân sự hoặc thương mại có hiệu lực đối với nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Việc trở thành thành viên của Công ước này sẽ giúp công tác ủy thác tư pháp trong việc giải quyết vụ việc được diễn ra một cách thuận lợi, nhanh chóng hơn, khách quan, toàn diện, công bằng, đúng pháp luật.

Thứ hai, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 được ban hành và có hiệu lực thay thế Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004. Bộ luật đã có một số điểm mới cơ bản như: Bỏ chương về tương trợ tư pháp về dân sự, thay đổi căn bản thủ tục thông báo, tống đạt văn bản tố tụng của Tòa án cho đương sự ở nước ngoài nhằm đa dạng hóa các phương thức tống đạt, thông báo văn bản tố tụng của Tòa án cho đương sự ở nước ngoài nhằm đảm bảo hiệu quả và rút ngắn thời gian của việc tống đạt văn bản tố tụng cho đương sự ở nước ngoài. Theo đó, bên cạnh phương thức tống đạt, thông báo truyền thống, Bộ luật đã bổ sung thêm các phương thức tống đạt mới như: Tống đạt theo đường dịch vụ bưu chính, tống đạt qua văn phòng đại diện, chi nhánh của họ tại Việt Nam. Trường hợp thực hiện các phương thức tống đạt không có kết quả thì Tòa án tiến hành niêm yết công khai và thông báo trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có), Cổng thông tin điện tử của cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài. Bổ sung quy định về thu thập chứng cứ ở nước ngoài. Quy định mới, đặc thù về thủ tục thông báo về việc thụ lý, ngày mở phiên họp, phiên tòa, thời hạn mở phiên tòa, phiên họp hòa giải đối với vụ việc có yếu tố nước ngoài; về thời hạn kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án xét xử vụ án dân sự có yếu tố nước ngoài; về xử lý kết quả tống đạt văn bản tố tụng của Tòa án cho đương sự ở nước ngoài và kết quả yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thu thập chứng cứ; về tống đạt, thông báo văn bản tố tụng và xử lý kết quả tống đạt, thông báo văn bản tố tụng của Tòa án cấp phúc thẩm cho đương sự ở nước ngoài; về xác định và cung cấp pháp luật nước ngoài để Tòa án áp dụng trong việc giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài.

Thứ ba, vào tháng 01/2018, Vụ Pháp luật quốc tế của Bộ Tư pháp đã xây dựng Sổ tay hướng dẫn thực hiện tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự tại Việt Nam. Sổ tay là tài liệu thiết thực cung cấp cho cơ quan có thẩm quyền thực hiện ủy thác tư pháp nắm rõ toàn diện nội dung ủy thác tư pháp, hướng dẫn thực hiện thủ tục thực hiện ủy thác tư pháp từ Việt Nam ra nước ngoài, ủy thác tư pháp từ nước ngoài đến Việt Nam và các bản phụ lục. Nhờ có cuốn Sổ tay này mà quá trình ủy thác tư pháp trong lĩnh vực dân sự nói chung và ủy thác tư pháp trong việc giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài được thống nhất cách áp dụng giải quyết và đạt được nhiều hiệu quả, giải quyết nhanh chóng vụ việc.

Thứ tư, Tòa án nhân dân tối cao cũng có những lưu ý khi yêu cầu ủy thác tư pháp về dân sự khi thấy Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án nhân dân cấp cao có một số sai sót khi lập hồ sơ yêu cầu ủy thác tư pháp cho cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài theo quy định của công ước tống đạt giấy tờ, phổ biến là hồ sơ yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của Đặc khu Hồng Kông (Trung Quốc) thực hiện. Cho nên, ngày 20/12/2017, Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành văn bản về việc lưu ý khi yêu cầu ủy thác tư pháp về dân sự đối với Hồng Kông (Trung Quốc). Đây là văn bản tối quan trọng đánh dấu sự quản lý, hướng dẫn áp dụng thống nhất và thuận lợi trong việc ủy thác tư pháp về dân sự của Tòa án.

Thứ năm, hàng năm có rất nhiều lớp tập huấn tương trợ tư pháp về dân sự nói chung. Năm 2017, Bộ Tư pháp đã tổ chức tập huấn cho cán bộ Tòa án, thi hành án các tỉnh phía Bắc về công tác tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự. Đầu năm 2019, Tòa án nhân dân tối cao tổ chức hội nghị tập huấn chuyên đề “Áp dụng các quy định tương trợ tư pháp về dân sự tại Tòa án” thông qua hình thức trực tuyến.

2.2. Khó khăn

Bên cạnh một số thuận lợi thì công tác ủy thác tư pháp trong việc giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài tại Tòa án Việt Nam vẫn còn gặp một số khó khăn như là:

2.2.1. Sự phối hợp liên ngành chưa thực sự đồng bộ, hiệu quả giữa Tòa án và Bộ Tư pháp (cơ quan đầu mối trung ương thực hiện tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự) trong việc ủy thác tư pháp ra nước ngoài

Trong việc giải quyết án dân sự có yếu tố nước ngoài, Tòa án sẽ có thể tiến hành ủy thác tư pháp cho đương sự ở nước ngoài. Tuy nhiên, sự phối hợp giữa Tòa án và Bộ Tư pháp trong việc tống đạt văn bản tố tụng cho đương sự ở nước ngoài chưa thực sự hiệu quả trong những năm qua. Điều này được thể hiện rất rõ trong nội dung của Báo cáo hoạt động tương trợ tư pháp năm 2018 của Chính phủ: “Về công tác chỉ đạo, điều hành và tổ chức thực hiện hoạt động quản lý nhà nước về tương trợ tư pháp vẫn còn một số nội dung chưa được triển khai thường xuyên và sâu rộng như hoạt động phối hợp liên ngành trong hướng dẫn, rà soát, kiểm tra tình hình thực hiện ủy thác tư pháp tại Tòa án, các cơ quan thực hiện tương trợ tư pháp về dân sự. Công tác thông tin, phối hợp liên ngành còn chưa thường xuyên và chặt chẽ”[2].

Như vậy, mặc dù hiện nay chúng ta có Luật Tương trợ tư pháp năm 2007, Thông tư liên tịch số 12/2016/TTLT-BTP-BNG-TANDTC ngày 19/10/2016 của Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao, Tòa án nhân dân tối cao quy định về trình tự, thủ tục tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự đã có quy định về sự phối hợp liên ngành trong việc ủy thác tư pháp nhưng thực tiễn thực hiện cho thấy vẫn tồn tại những bất cập, hạn chế. Đây là một trong những khó khăn được thể hiện thường xuyên trong Báo cáo hoạt động tương trợ tư pháp hàng năm của Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao.

2.2.2. Ủy thác tư pháp không có kết quả do đương sự đóng cửa, vắng mặt

Rất nhiều trường hợp trong thực tiễn khi thực hiện ủy thác tư pháp trong việc giải quyết vụ án dân sự có yếu tố nước ngoài gặp khó khăn vì đương sự cung cấp địa chỉ không đầy đủ, địa chỉ sai hoặc đương sự vắng mặt ở địa chỉ cần được ủy thác tư pháp. Chẳng hạn, trong việc giải quyết ly hôn giữa anh Han Myung Hwan và chị Nguyễn Thị O của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng[3], Tòa án đã nhận định: Anh Han Myung Hwan là người Hàn Quốc có địa chỉ: 621 Pyeongjang - Ri Gyeom - Myeon Gokseong-Gun - Jeollanam - do, Hàn Quốc. Theo địa chỉ mà chị Nguyễn Thị O cung cấp cũng như địa chỉ mà anh Han Myung Hwan đã khai trong giấy chứng nhận kết hôn, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng đã tiến hành ủy thác tư pháp cho Tòa án tối cao Hàn Quốc để tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về việc giải quyết vụ án và đề nghị anh Han Myung Hwan cho biết quan điểm đối với yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị O. Ngày 15/8/2018, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng nhận được Công văn số 2547/BTP-PLQT ngày 09/8/2018 của Bộ Tư pháp cho biết Tòa án tại Hàn Quốc không thực hiện được ủy thác tư pháp do đương sự đóng cửa, vắng mặt. Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng đã thông báo về việc thụ lý vụ án và thời gian giải quyết vụ án trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án và Cổng thông tin điện tử của Cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Hàn Quốc. Tuy nhiên, đã hết thời hạn 01 tháng kể từ ngày đăng thông báo nhưng anh Han Myung Hwan không có mặt tại phiên tòa. Do vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án vắng mặt anh Han Myung Hwan theo quy định tại điểm b khoản 5 Điều 477 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

2.2.3. Việt Nam chưa là thành viên của Công ước Lahay năm 1970 về thu thập chứng cứ ở nước ngoài

Công ước Lahay năm 1970 về thu thập chứng cứ ở nước ngoài được ký vào ngày 18/3/1970 và có hiệu lực từ ngày 7/10/1972. Công ước được đánh giá là điều ước quốc tế đa phương quan trọng trong lĩnh vực tương trợ tư pháp để các quốc gia tăng cường hợp tác, hỗ trợ nhau thực hiện các yêu cầu ủy thác tư pháp về thu thập chứng cứ nhằm giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài.

Hiện nay, Việt Nam vẫn chưa là thành viên của Công ước Lahay năm 1970 về thu thập chứng cứ ở nước ngoài. Cho nên, việc thu thập chứng cứ ở nước ngoài hiện nay vẫn gặp khó khăn, chưa đảm bảo sự thuận lợi. Trong khi thu thập chứng cứ ở nước ngoài cũng là một trong các hoạt động của ủy thác tư pháp để giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài. Bởi lẽ, thứ nhất, các hồ sơ ủy thác tư pháp theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam vẫn chủ yếu là tống đạt giấy tờ, tài liệu, bản án, các quyết định của Tòa án, yêu cầu về thu thập chứng cứ, lấy lời khai của đương sự hoặc người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ việc, tập trung ở các lĩnh vực hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, hành chính, lao động và các vụ việc về hộ tịch[4]. Thứ hai, mặc dù pháp luật chúng ta quy định trong trường hợp giữa Việt Nam và nước có đương sự cần ủy thác tư pháp chưa cùng là thành viên của điều ước quốc tế thì việc thu thập chứng cứ có thể thực hiện theo con đường ngoại giao, tuy nhiên, đối với một số nước như Canada, yêu cầu thu thập chứng cứ không được thực hiện bằng con đường ngoại giao mà thông qua luật sư các bên[5].

Vậy nên, việc chúng ta chưa là thành viên của Công ước sẽ là một rào cản lớn trong việc muốn đẩy mạnh hiệu quả công tác ủy thác tư pháp để giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài. Nếu chúng ta là thành viên của Công ước sẽ góp phần cho hoạt động thu thập chứng cứ ở nước ngoài được diễn ra thuận lợi, nhanh chóng và dễ dàng hơn.

2.2.4. Số lượng trả lời kết quả ủy thác tư pháp gửi đến những quốc gia chưa ký hiệp định tương trợ tư pháp với Việt Nam còn thấp

Về nguyên tắc thì với những quốc gia mà Việt Nam và nước đó chưa có hiệp định tương trợ tư pháp thì việc ủy thác tư pháp sẽ được diễn ra bằng con đường ngoại giao. Tuy nhiên, theo số liệu thống kê chính thức của Bộ Tư pháp, tình hình thực hiện ủy thác tư pháp về dân sự qua cơ quan đầu mối trong năm 2018[6] cụ thể như sau: Tổng số yêu cầu ủy thác tư pháp của Việt Nam gửi cho nước ngoài là 2069 yêu cầu, trong đó có 94 (4,5%) yêu cầu được gửi đến những nước chưa có điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp với Việt Nam, và chỉ có 11/94 (12%) yêu cầu có kết quả trả lời, còn lại là 83 yêu cầu không có kết quả trả lời. Với con số này cũng sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến việc giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài một cách khách quan, công bằng.

2.2.5. Quy định của một số nước thành viên trong Công ước năm 1965 về tống đạt giấy tờ gây khó khăn cho Tòa án cấp tỉnh và Tòa án cấp cao khi ủy thác cho nước này thực hiện việc tống đạt văn bản tố tụng

Đây là một khó khăn của Tòa án Việt Nam đã được nêu ra trong Thông báo về tình hình và kết quả công tác tương trợ tư pháp tại Tòa án nhân dân năm 2018. Tòa đã nhận định, một trong những khó khăn về công tác ủy thác tư pháp về dân sự ra nước ngoài của Tòa án nhân dân là quy định của một số nước thành viên Công ước tống đạt giấy tờ, đặc biệt là Canada gây khó khăn cho Tòa án cấp tỉnh và Tòa án cấp cao khi ủy thác cho nước này thực hiện việc tống đạt văn bản tố tụng. Việt Nam và Canada chưa có hiệp định tương trợ tư pháp chung nào. Cho nên việc tống đạt giấy tờ có thể thông qua kênh của Công ước năm 1965 và trong đó có thể tống đạt qua đường bưu điện. Cụ thể, theo pháp luật của Canada, yêu cầu gửi đến Canada phải hết sức cụ thể để không gây khó khăn cho việc thực hiện, không được gây tốn kém, mất nhiều công sức của bên thực hiện, không được ảnh hưởng đến chính sách công của Canada. Vai trò của cơ quan đại diện ở nước ngoài có vai trò không đáng kể trong hoạt động tương trợ tư pháp[7]. Bên cạnh đó, chi phí tống đạt giấy tờ ở Canada giống với Hoa Kỳ là cao. Về thủ tục ủy thác tư pháp tống đạt giấy tờ đi bang Quebec (Canada) mỗi một đương sự là một yêu cầu có hồ sơ tống đạt riêng và phải nộp phí trên mỗi yêu cầu, kể cả trường hợp hai hay nhiều đương sự có chung địa chỉ, giấy tờ phải được dịch trong tất cả các trường hợp người được tống đạt không hiểu được ngôn ngữ trong giấy tờ. Tất cả các giấy tờ làm phát sinh vụ việc phải được dịch. Bản dịch tóm tắt tất cả các giấy tờ khác được chấp nhận nếu người được tống đạt đồng ý. Giấy tờ dịch sang tiếng Pháp, tuy nhiên Cơ quan trung ương của Quebec có thể cho phép một bản dịch sang tiếng Anh, theo yêu cầu, với điều kiện là người được tống đạt hiểu được ngôn ngữ này. Về ngôn ngữ, đối với tống đạt chính thức và tống đạt theo phương thức đặc biệt, yêu cầu dịch thuật phụ thuộc vào địa phương hoặc vùng lãnh thổ liên quan. Về phương thức thanh toán, thông thường các bang chấp nhận thanh toán bằng séc và lệnh chuyển tiền, một số bang chấp nhận tiền mặt và các hình thức thanh toán khác. Lưu ý, cần trả trước cho các bang và gửi kèm theo hồ sơ 02 bộ biên lai chuyển tiền và phiếu hạch toán chuyển tiền ra nước ngoài[8].

3. Giải pháp nâng cao hiệu quả ủy thác tư pháp trong việc giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài tại Tòa án Việt Nam

Để nâng cao hiệu quả công tác ủy thác tư pháp trong việc giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài tại Tòa án Việt Nam hiện nay cần thực hiện một số giải pháp như sau:

Một là, để đảm bảo Bộ Tư pháp có kết quả trả lời cho Tòa án đúng thời hạn trong quá trình xét xử thì cần thường xuyên tổ chức trao đổi định kỳ (có thể là theo quý hoặc hàng năm) để thảo luận những hạn chế hay quyết định những biện pháp giải quyết khó khăn, hạn chế đảm bảo nâng cao sự phối hợp giữa Bộ Tư pháp và Tòa án trong việc thực hiện tương trợ tư pháp. Bên cạnh đó, do số lượng cần tương trợ tư pháp về dân sự ngày càng nhiều nên cân nhắc bổ sung thêm số lượng đội ngũ nhân lực cho Bộ Tư pháp trong việc thực hiện nhiệm vụ này.

Hai là, cần tiến tới ban hành Luật Tương trợ tư pháp về lĩnh vực dân sự riêng để đảm bảo thực hiện hiệu quả công tác tương trợ tư pháp về dân sự.

Ba là, đẩy mạnh đàm phán, ký kết điều ước quốc tế song phương với những quốc gia mà Việt Nam và quốc gia đó chưa cùng là thành viên của điều ước quốc tế để đảm bảo thuận lợi cho việc tiến hành ủy thác tư pháp. Đặc biệt là tiến tới gia nhập Công ước Lahay năm 1970 về thu thập chứng cứ ở nước ngoài trong lĩnh vực dân sự hoặc thương mại.

Bốn là, hàng năm cần thường xuyên tổ chức tập huấn cho cán bộ Tòa án các tỉnh và Tòa án cấp cao về thực hiện tương trợ tư pháp về dân sự, nhất là tìm hiểu pháp luật của một số nước mà Tòa án gặp khó khăn khi tiến hành ủy thác tư pháp.

ThS. Phạm Thị Hồng Mỵ

Khoa Luật, Đại học Sài Gòn



[1]. Khoản 1, 2 Điều 3 Thông tư liên tịch số 12/2016/TTLT-BTP-BNG-TANDTC ngày 19/10/2016 của Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao và Tòa án nhân dân tối cao quy định về trình tự, thủ tục tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự.

[2]. Báo cáo hoạt động tương trợ tư pháp năm 2018 của Chính phủ ngày 10/10/2018.

[3]. Bản án số 40/2019/HNGĐ-ST ngày 19/3/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng về việc tranh chấp ly hôn.

[4].Tlđd 3.

[5]. Dương Thị Bích Đào (2009), Tìm hiểu pháp luật một số nước về tương trợ tư pháp, https://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2009/05/21/2936/, truy cập ngày 28/6/2019.

[6]. Tlđd 3.

[7]. Tlđd 8.

[8]. Vụ pháp luật quốc tế, Bộ Tư pháp (2018), Sổ tay hướng dẫn thực hiện tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự tại Việt Nam.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: