Thứ bảy 04/04/2026 07:01
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Ủy thác tư pháp trong việc giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài tại Tòa án Việt Nam

Tóm tắt: Trong bài viết, tác giả bàn về khái niệm cũng như những thuận lợi, khó khăn của công tác ủy thác tư pháp trong việc giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài tại Tòa án Việt Nam và đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả của công tác này.

Tóm tắt: Trong bài viết, tác giả bàn về khái niệm cũng như những thuận lợi, khó khăn của công tác ủy thác tư pháp trong việc giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài tại Tòa án Việt Nam và đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả của công tác này.

Abstract: In the article, the author discusses the concept as well as the advantages and disadvantages of the judicial entrustment in resolving civil cases involving foreign elements in Vietnamese Court and proposes some solutions to contribute to the improvement of the efficiency of this work.


1. Khái niệm chung về ủy thác tư pháp trong việc giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài tại Tòa án Việt Nam

Theo khoản 2 Điều 464 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài là vụ việc dân sự thuộc một trong các trường hợp sau đây: Có ít nhất một trong các bên tham gia là cá nhân, cơ quan, tổ chức nước ngoài; các bên tham gia đều là công dân, cơ quan, tổ chức Việt Nam nhưng việc xác lập, thay đổi, thực hiện, chấm dứt quan hệ xảy ra tại nước ngoài; các bên tham gia đều là công dân, cơ quan, tổ chức Việt Nam nhưng đối tượng của quan hệ đó ở nước ngoài.

Khi giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài tại Tòa án Việt Nam thì Tòa án thường sẽ có hoạt động tố tụng như: Lấy lời khai, tống đạt giấy tờ, thu thập chứng cứ, xác minh địa chỉ… cho đương sự ở nước ngoài. Để thực hiện được công việc này, Tòa án cần sự tương trợ của nước nơi hành vi tố tụng đó thực hiện. Hoạt động này gọi là ủy thác tư pháp. Theo Điều 6 Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 thì ủy thác tư pháp là yêu cầu bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hoặc cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài về việc thực hiện một hoặc một số hoạt động tương trợ tư pháp theo quy định của pháp luật nước có liên quan hoặc điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Ủy thác tư pháp được chia ra làm ủy thác tư pháp của Việt Nam và ủy thác tư pháp của nước ngoài. Ủy thác tư pháp của Việt Nam là yêu cầu bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền Việt Nam đề nghị cơ quan có thẩm quyền nước ngoài thực hiện một hoặc một số hoạt động tương trợ tư pháp về dân sự. Ủy thác tư pháp của nước ngoài là yêu cầu bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền nước ngoài đề nghị cơ quan có thẩm quyền Việt Nam thực hiện một hoặc một số hoạt động tương trợ tư pháp về dân sự[1]. Phạm vi tương trợ tư pháp bao gồm: Tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu liên quan đến tương trợ tư pháp về dân sự; triệu tập người làm chứng, người giám định; thu thập, cung cấp chứng cứ; các yêu cầu tương trợ tư pháp khác về dân sự.

Như vậy, ủy thác tư pháp trong việc giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài tại Tòa án Việt Nam là yêu cầu bằng văn bản của Tòa án Việt Nam đề nghị cơ quan có thẩm quyền nước ngoài thực hiện một hoặc một số hoạt động tương trợ tư pháp. Ủy thác tư pháp trong việc giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết vụ án, góp phần đảm bảo cho vụ án được giải quyết trong thời hạn tố tụng, nhanh chóng, công bằng, khách quan.

2. Thuận lợi và khó khăn của công tác ủy thác tư pháp trong việc giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài tại Tòa án Việt Nam

2.1.Thuận lợi

Từ năm 2013 đến năm 2018, theo Báo cáo số lượng yêu cầu ủy thác tư pháp ra nước ngoài và từ nước ngoài vào Việt Nam cho thấy nhu cầu ủy thác tư pháp là rất lớn. Trong việc thực hiện ủy thác tư pháp giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài tại Tòa án ở Việt Nam hiện nay có một số thuận lợi:

Thứ nhất, ngày 01/10/2016, Công ước Lahay về tống đạt ra nước ngoài giấy tờ tư pháp và ngoài tư pháp trong lĩnh vực dân sự hoặc thương mại có hiệu lực đối với nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Việc trở thành thành viên của Công ước này sẽ giúp công tác ủy thác tư pháp trong việc giải quyết vụ việc được diễn ra một cách thuận lợi, nhanh chóng hơn, khách quan, toàn diện, công bằng, đúng pháp luật.

Thứ hai, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 được ban hành và có hiệu lực thay thế Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004. Bộ luật đã có một số điểm mới cơ bản như: Bỏ chương về tương trợ tư pháp về dân sự, thay đổi căn bản thủ tục thông báo, tống đạt văn bản tố tụng của Tòa án cho đương sự ở nước ngoài nhằm đa dạng hóa các phương thức tống đạt, thông báo văn bản tố tụng của Tòa án cho đương sự ở nước ngoài nhằm đảm bảo hiệu quả và rút ngắn thời gian của việc tống đạt văn bản tố tụng cho đương sự ở nước ngoài. Theo đó, bên cạnh phương thức tống đạt, thông báo truyền thống, Bộ luật đã bổ sung thêm các phương thức tống đạt mới như: Tống đạt theo đường dịch vụ bưu chính, tống đạt qua văn phòng đại diện, chi nhánh của họ tại Việt Nam. Trường hợp thực hiện các phương thức tống đạt không có kết quả thì Tòa án tiến hành niêm yết công khai và thông báo trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có), Cổng thông tin điện tử của cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài. Bổ sung quy định về thu thập chứng cứ ở nước ngoài. Quy định mới, đặc thù về thủ tục thông báo về việc thụ lý, ngày mở phiên họp, phiên tòa, thời hạn mở phiên tòa, phiên họp hòa giải đối với vụ việc có yếu tố nước ngoài; về thời hạn kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án xét xử vụ án dân sự có yếu tố nước ngoài; về xử lý kết quả tống đạt văn bản tố tụng của Tòa án cho đương sự ở nước ngoài và kết quả yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thu thập chứng cứ; về tống đạt, thông báo văn bản tố tụng và xử lý kết quả tống đạt, thông báo văn bản tố tụng của Tòa án cấp phúc thẩm cho đương sự ở nước ngoài; về xác định và cung cấp pháp luật nước ngoài để Tòa án áp dụng trong việc giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài.

Thứ ba, vào tháng 01/2018, Vụ Pháp luật quốc tế của Bộ Tư pháp đã xây dựng Sổ tay hướng dẫn thực hiện tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự tại Việt Nam. Sổ tay là tài liệu thiết thực cung cấp cho cơ quan có thẩm quyền thực hiện ủy thác tư pháp nắm rõ toàn diện nội dung ủy thác tư pháp, hướng dẫn thực hiện thủ tục thực hiện ủy thác tư pháp từ Việt Nam ra nước ngoài, ủy thác tư pháp từ nước ngoài đến Việt Nam và các bản phụ lục. Nhờ có cuốn Sổ tay này mà quá trình ủy thác tư pháp trong lĩnh vực dân sự nói chung và ủy thác tư pháp trong việc giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài được thống nhất cách áp dụng giải quyết và đạt được nhiều hiệu quả, giải quyết nhanh chóng vụ việc.

Thứ tư, Tòa án nhân dân tối cao cũng có những lưu ý khi yêu cầu ủy thác tư pháp về dân sự khi thấy Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án nhân dân cấp cao có một số sai sót khi lập hồ sơ yêu cầu ủy thác tư pháp cho cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài theo quy định của công ước tống đạt giấy tờ, phổ biến là hồ sơ yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của Đặc khu Hồng Kông (Trung Quốc) thực hiện. Cho nên, ngày 20/12/2017, Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành văn bản về việc lưu ý khi yêu cầu ủy thác tư pháp về dân sự đối với Hồng Kông (Trung Quốc). Đây là văn bản tối quan trọng đánh dấu sự quản lý, hướng dẫn áp dụng thống nhất và thuận lợi trong việc ủy thác tư pháp về dân sự của Tòa án.

Thứ năm, hàng năm có rất nhiều lớp tập huấn tương trợ tư pháp về dân sự nói chung. Năm 2017, Bộ Tư pháp đã tổ chức tập huấn cho cán bộ Tòa án, thi hành án các tỉnh phía Bắc về công tác tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự. Đầu năm 2019, Tòa án nhân dân tối cao tổ chức hội nghị tập huấn chuyên đề “Áp dụng các quy định tương trợ tư pháp về dân sự tại Tòa án” thông qua hình thức trực tuyến.

2.2. Khó khăn

Bên cạnh một số thuận lợi thì công tác ủy thác tư pháp trong việc giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài tại Tòa án Việt Nam vẫn còn gặp một số khó khăn như là:

2.2.1. Sự phối hợp liên ngành chưa thực sự đồng bộ, hiệu quả giữa Tòa án và Bộ Tư pháp (cơ quan đầu mối trung ương thực hiện tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự) trong việc ủy thác tư pháp ra nước ngoài

Trong việc giải quyết án dân sự có yếu tố nước ngoài, Tòa án sẽ có thể tiến hành ủy thác tư pháp cho đương sự ở nước ngoài. Tuy nhiên, sự phối hợp giữa Tòa án và Bộ Tư pháp trong việc tống đạt văn bản tố tụng cho đương sự ở nước ngoài chưa thực sự hiệu quả trong những năm qua. Điều này được thể hiện rất rõ trong nội dung của Báo cáo hoạt động tương trợ tư pháp năm 2018 của Chính phủ: “Về công tác chỉ đạo, điều hành và tổ chức thực hiện hoạt động quản lý nhà nước về tương trợ tư pháp vẫn còn một số nội dung chưa được triển khai thường xuyên và sâu rộng như hoạt động phối hợp liên ngành trong hướng dẫn, rà soát, kiểm tra tình hình thực hiện ủy thác tư pháp tại Tòa án, các cơ quan thực hiện tương trợ tư pháp về dân sự. Công tác thông tin, phối hợp liên ngành còn chưa thường xuyên và chặt chẽ”[2].

Như vậy, mặc dù hiện nay chúng ta có Luật Tương trợ tư pháp năm 2007, Thông tư liên tịch số 12/2016/TTLT-BTP-BNG-TANDTC ngày 19/10/2016 của Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao, Tòa án nhân dân tối cao quy định về trình tự, thủ tục tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự đã có quy định về sự phối hợp liên ngành trong việc ủy thác tư pháp nhưng thực tiễn thực hiện cho thấy vẫn tồn tại những bất cập, hạn chế. Đây là một trong những khó khăn được thể hiện thường xuyên trong Báo cáo hoạt động tương trợ tư pháp hàng năm của Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao.

2.2.2. Ủy thác tư pháp không có kết quả do đương sự đóng cửa, vắng mặt

Rất nhiều trường hợp trong thực tiễn khi thực hiện ủy thác tư pháp trong việc giải quyết vụ án dân sự có yếu tố nước ngoài gặp khó khăn vì đương sự cung cấp địa chỉ không đầy đủ, địa chỉ sai hoặc đương sự vắng mặt ở địa chỉ cần được ủy thác tư pháp. Chẳng hạn, trong việc giải quyết ly hôn giữa anh Han Myung Hwan và chị Nguyễn Thị O của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng[3], Tòa án đã nhận định: Anh Han Myung Hwan là người Hàn Quốc có địa chỉ: 621 Pyeongjang - Ri Gyeom - Myeon Gokseong-Gun - Jeollanam - do, Hàn Quốc. Theo địa chỉ mà chị Nguyễn Thị O cung cấp cũng như địa chỉ mà anh Han Myung Hwan đã khai trong giấy chứng nhận kết hôn, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng đã tiến hành ủy thác tư pháp cho Tòa án tối cao Hàn Quốc để tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về việc giải quyết vụ án và đề nghị anh Han Myung Hwan cho biết quan điểm đối với yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị O. Ngày 15/8/2018, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng nhận được Công văn số 2547/BTP-PLQT ngày 09/8/2018 của Bộ Tư pháp cho biết Tòa án tại Hàn Quốc không thực hiện được ủy thác tư pháp do đương sự đóng cửa, vắng mặt. Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng đã thông báo về việc thụ lý vụ án và thời gian giải quyết vụ án trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án và Cổng thông tin điện tử của Cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Hàn Quốc. Tuy nhiên, đã hết thời hạn 01 tháng kể từ ngày đăng thông báo nhưng anh Han Myung Hwan không có mặt tại phiên tòa. Do vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án vắng mặt anh Han Myung Hwan theo quy định tại điểm b khoản 5 Điều 477 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

2.2.3. Việt Nam chưa là thành viên của Công ước Lahay năm 1970 về thu thập chứng cứ ở nước ngoài

Công ước Lahay năm 1970 về thu thập chứng cứ ở nước ngoài được ký vào ngày 18/3/1970 và có hiệu lực từ ngày 7/10/1972. Công ước được đánh giá là điều ước quốc tế đa phương quan trọng trong lĩnh vực tương trợ tư pháp để các quốc gia tăng cường hợp tác, hỗ trợ nhau thực hiện các yêu cầu ủy thác tư pháp về thu thập chứng cứ nhằm giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài.

Hiện nay, Việt Nam vẫn chưa là thành viên của Công ước Lahay năm 1970 về thu thập chứng cứ ở nước ngoài. Cho nên, việc thu thập chứng cứ ở nước ngoài hiện nay vẫn gặp khó khăn, chưa đảm bảo sự thuận lợi. Trong khi thu thập chứng cứ ở nước ngoài cũng là một trong các hoạt động của ủy thác tư pháp để giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài. Bởi lẽ, thứ nhất, các hồ sơ ủy thác tư pháp theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam vẫn chủ yếu là tống đạt giấy tờ, tài liệu, bản án, các quyết định của Tòa án, yêu cầu về thu thập chứng cứ, lấy lời khai của đương sự hoặc người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ việc, tập trung ở các lĩnh vực hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, hành chính, lao động và các vụ việc về hộ tịch[4]. Thứ hai, mặc dù pháp luật chúng ta quy định trong trường hợp giữa Việt Nam và nước có đương sự cần ủy thác tư pháp chưa cùng là thành viên của điều ước quốc tế thì việc thu thập chứng cứ có thể thực hiện theo con đường ngoại giao, tuy nhiên, đối với một số nước như Canada, yêu cầu thu thập chứng cứ không được thực hiện bằng con đường ngoại giao mà thông qua luật sư các bên[5].

Vậy nên, việc chúng ta chưa là thành viên của Công ước sẽ là một rào cản lớn trong việc muốn đẩy mạnh hiệu quả công tác ủy thác tư pháp để giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài. Nếu chúng ta là thành viên của Công ước sẽ góp phần cho hoạt động thu thập chứng cứ ở nước ngoài được diễn ra thuận lợi, nhanh chóng và dễ dàng hơn.

2.2.4. Số lượng trả lời kết quả ủy thác tư pháp gửi đến những quốc gia chưa ký hiệp định tương trợ tư pháp với Việt Nam còn thấp

Về nguyên tắc thì với những quốc gia mà Việt Nam và nước đó chưa có hiệp định tương trợ tư pháp thì việc ủy thác tư pháp sẽ được diễn ra bằng con đường ngoại giao. Tuy nhiên, theo số liệu thống kê chính thức của Bộ Tư pháp, tình hình thực hiện ủy thác tư pháp về dân sự qua cơ quan đầu mối trong năm 2018[6] cụ thể như sau: Tổng số yêu cầu ủy thác tư pháp của Việt Nam gửi cho nước ngoài là 2069 yêu cầu, trong đó có 94 (4,5%) yêu cầu được gửi đến những nước chưa có điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp với Việt Nam, và chỉ có 11/94 (12%) yêu cầu có kết quả trả lời, còn lại là 83 yêu cầu không có kết quả trả lời. Với con số này cũng sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến việc giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài một cách khách quan, công bằng.

2.2.5. Quy định của một số nước thành viên trong Công ước năm 1965 về tống đạt giấy tờ gây khó khăn cho Tòa án cấp tỉnh và Tòa án cấp cao khi ủy thác cho nước này thực hiện việc tống đạt văn bản tố tụng

Đây là một khó khăn của Tòa án Việt Nam đã được nêu ra trong Thông báo về tình hình và kết quả công tác tương trợ tư pháp tại Tòa án nhân dân năm 2018. Tòa đã nhận định, một trong những khó khăn về công tác ủy thác tư pháp về dân sự ra nước ngoài của Tòa án nhân dân là quy định của một số nước thành viên Công ước tống đạt giấy tờ, đặc biệt là Canada gây khó khăn cho Tòa án cấp tỉnh và Tòa án cấp cao khi ủy thác cho nước này thực hiện việc tống đạt văn bản tố tụng. Việt Nam và Canada chưa có hiệp định tương trợ tư pháp chung nào. Cho nên việc tống đạt giấy tờ có thể thông qua kênh của Công ước năm 1965 và trong đó có thể tống đạt qua đường bưu điện. Cụ thể, theo pháp luật của Canada, yêu cầu gửi đến Canada phải hết sức cụ thể để không gây khó khăn cho việc thực hiện, không được gây tốn kém, mất nhiều công sức của bên thực hiện, không được ảnh hưởng đến chính sách công của Canada. Vai trò của cơ quan đại diện ở nước ngoài có vai trò không đáng kể trong hoạt động tương trợ tư pháp[7]. Bên cạnh đó, chi phí tống đạt giấy tờ ở Canada giống với Hoa Kỳ là cao. Về thủ tục ủy thác tư pháp tống đạt giấy tờ đi bang Quebec (Canada) mỗi một đương sự là một yêu cầu có hồ sơ tống đạt riêng và phải nộp phí trên mỗi yêu cầu, kể cả trường hợp hai hay nhiều đương sự có chung địa chỉ, giấy tờ phải được dịch trong tất cả các trường hợp người được tống đạt không hiểu được ngôn ngữ trong giấy tờ. Tất cả các giấy tờ làm phát sinh vụ việc phải được dịch. Bản dịch tóm tắt tất cả các giấy tờ khác được chấp nhận nếu người được tống đạt đồng ý. Giấy tờ dịch sang tiếng Pháp, tuy nhiên Cơ quan trung ương của Quebec có thể cho phép một bản dịch sang tiếng Anh, theo yêu cầu, với điều kiện là người được tống đạt hiểu được ngôn ngữ này. Về ngôn ngữ, đối với tống đạt chính thức và tống đạt theo phương thức đặc biệt, yêu cầu dịch thuật phụ thuộc vào địa phương hoặc vùng lãnh thổ liên quan. Về phương thức thanh toán, thông thường các bang chấp nhận thanh toán bằng séc và lệnh chuyển tiền, một số bang chấp nhận tiền mặt và các hình thức thanh toán khác. Lưu ý, cần trả trước cho các bang và gửi kèm theo hồ sơ 02 bộ biên lai chuyển tiền và phiếu hạch toán chuyển tiền ra nước ngoài[8].

3. Giải pháp nâng cao hiệu quả ủy thác tư pháp trong việc giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài tại Tòa án Việt Nam

Để nâng cao hiệu quả công tác ủy thác tư pháp trong việc giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài tại Tòa án Việt Nam hiện nay cần thực hiện một số giải pháp như sau:

Một là, để đảm bảo Bộ Tư pháp có kết quả trả lời cho Tòa án đúng thời hạn trong quá trình xét xử thì cần thường xuyên tổ chức trao đổi định kỳ (có thể là theo quý hoặc hàng năm) để thảo luận những hạn chế hay quyết định những biện pháp giải quyết khó khăn, hạn chế đảm bảo nâng cao sự phối hợp giữa Bộ Tư pháp và Tòa án trong việc thực hiện tương trợ tư pháp. Bên cạnh đó, do số lượng cần tương trợ tư pháp về dân sự ngày càng nhiều nên cân nhắc bổ sung thêm số lượng đội ngũ nhân lực cho Bộ Tư pháp trong việc thực hiện nhiệm vụ này.

Hai là, cần tiến tới ban hành Luật Tương trợ tư pháp về lĩnh vực dân sự riêng để đảm bảo thực hiện hiệu quả công tác tương trợ tư pháp về dân sự.

Ba là, đẩy mạnh đàm phán, ký kết điều ước quốc tế song phương với những quốc gia mà Việt Nam và quốc gia đó chưa cùng là thành viên của điều ước quốc tế để đảm bảo thuận lợi cho việc tiến hành ủy thác tư pháp. Đặc biệt là tiến tới gia nhập Công ước Lahay năm 1970 về thu thập chứng cứ ở nước ngoài trong lĩnh vực dân sự hoặc thương mại.

Bốn là, hàng năm cần thường xuyên tổ chức tập huấn cho cán bộ Tòa án các tỉnh và Tòa án cấp cao về thực hiện tương trợ tư pháp về dân sự, nhất là tìm hiểu pháp luật của một số nước mà Tòa án gặp khó khăn khi tiến hành ủy thác tư pháp.

ThS. Phạm Thị Hồng Mỵ

Khoa Luật, Đại học Sài Gòn



[1]. Khoản 1, 2 Điều 3 Thông tư liên tịch số 12/2016/TTLT-BTP-BNG-TANDTC ngày 19/10/2016 của Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao và Tòa án nhân dân tối cao quy định về trình tự, thủ tục tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự.

[2]. Báo cáo hoạt động tương trợ tư pháp năm 2018 của Chính phủ ngày 10/10/2018.

[3]. Bản án số 40/2019/HNGĐ-ST ngày 19/3/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng về việc tranh chấp ly hôn.

[4].Tlđd 3.

[5]. Dương Thị Bích Đào (2009), Tìm hiểu pháp luật một số nước về tương trợ tư pháp, https://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2009/05/21/2936/, truy cập ngày 28/6/2019.

[6]. Tlđd 3.

[7]. Tlđd 8.

[8]. Vụ pháp luật quốc tế, Bộ Tư pháp (2018), Sổ tay hướng dẫn thực hiện tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự tại Việt Nam.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.
Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Bài viết phân tích các vấn đề cốt lõi về hợp đồng tiếp thị liên kết, đánh giá thực tiễn áp dụng và chỉ ra những bất cập trong quy định pháp luật, đặc biệt liên quan đến khái niệm pháp lý, cơ chế giao kết và hiệu lực phụ lục hợp đồng. Trên cơ sở đó, bài viết đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hợp đồng tiếp thị liên kết, nhằm bảo đảm tính minh bạch, công bằng trong quan hệ hợp đồng và góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của hoạt động tiếp thị liên kết trong môi trường thương mại điện tử tại Việt Nam.
Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự gia tăng của quan hệ hôn nhân xuyên biên giới, vấn đề giải quyết xung đột pháp luật về điều kiện kết hôn ngày càng trở nên cấp thiết. Bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá quy định hiện hành về xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch (lex patriae). Qua đó, nhận diện một số bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thực thi nguyên tắc này tại Việt Nam hiện nay.
Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Tóm tắt: Ở Việt Nam, chế định Hội thẩm nhân dân là phương thức thể chế hóa quyền làm chủ của Nhân dân trong hoạt động xét xử. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy, chế định này tồn tại một số hạn chế, dẫn đến sự tham gia của Nhân dân trong nhiều trường hợp còn hình thức. Bài viết phân tích vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử, nhận diện những hạn chế trong quy định pháp luật hiện hành về cơ chế lựa chọn, phân công, tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm pháp lý; từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của Hội thẩm nhân dân, đáp ứng yêu cầu công cuộc cải cách tư pháp trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.

Theo dõi chúng tôi trên: