Chủ nhật 08/02/2026 05:20
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Vai trò của bảo hộ chỉ dẫn địa lý trong hội nhập kinh tế quốc tế

Tóm tắt: Chỉ dẫn địa lý là tài sản quốc gia và luôn gắn với những lợi thế về điều kiện tự nhiên, sản xuất, đặc trưng về chất lượng và danh tiếng của sản phẩm. Bài viết dưới đây đã làm rõ nội hàm chỉ dẫn địa lý và tầm quan trọng của bảo hộ chỉ dẫn địa lý ở nước ta trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc

Tóm tắt: Chỉ dẫn địa lý là tài sản quốc gia và luôn gắn với những lợi thế về điều kiện tự nhiên, sản xuất, đặc trưng về chất lượng và danh tiếng của sản phẩm. Bài viết dưới đây đã làm rõ nội hàm chỉ dẫn địa lý và tầm quan trọng của bảo hộ chỉ dẫn địa lý ở nước ta trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.

Abstract: Geographical indications are national assets and are always associated with the advantages of natural conditions, production, quality characteristics and reputation of the products. The following article clarifies the connotation of geographical indications and the importance of protecting geographical indications in our country in the context of international economic integration.

1. Dẫn nhập

Từ thời xa xưa, lợi thế cạnh tranh trong thương mại của một sản phẩm so với sản phẩm khác chủ yếu là nhờ vào những đặc tính và chất lượng riêng biệt mà các điều kiện địa lý như khí hậu và địa chất của khu vực địa lý mang lại. Các vùng địa lý với các địa danh nổi tiếng đã mang lại lợi thế cho các sản phẩm cùng loại như rượu vang Bordeaux của Pháp, pha lê Bohemia của Cộng hòa Séc, xúc xích Frankfurter của Đức… Các địa danh đi kèm với các sản phẩm đã gợi cho người tiêu dùng nhớ đến không chỉ nguồn gốc xuất xứ của sản phẩm, mà còn nắm bắt được cả đặc tính, chất lượng đặc biệt của sản phẩm nhờ nguồn gốc địa lý đó. Chỉ dẫn địa lý dần trở thành một chỉ dẫn thương mại mang tính chất vô hình của sản phẩm, nhưng góp phần làm gia tăng giá trị cho sản phẩm và có vai trò ngày càng quan trọng trong đời sống nói chung và trong hoạt động thương mại nói riêng.

Pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong đó có bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp với chỉ dẫn địa lý đã và đang được nhiều quốc gia trên thế giới xây dựng, tham gia ký các cam kết chung thông qua các điều ước quốc tế và sử dụng chúng như một công cụ hữu hiệu nhằm bảo đảm với người tiêu dùng về nguồn gốc, chất lượng sản phẩm, mặt khác để quảng bá, nâng cao hình ảnh, giá trị thương mại và khả năng cạnh tranh của các sản phẩm đã được bảo hộ. Cơ chế bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đã được Nhà nước Việt Nam ghi nhận bằng việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, đặc biệt là các quy định nền tảng được xác lập trong Bộ luật Dân sự và Luật Sở hữu trí tuệ. Bên cạnh đó, cùng với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đã tham gia Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), tham gia Hiệp định về những khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ năm 1994 (gọi tắt là Hiệp định TRIPs), Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA), Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP)… Những Hiệp định này đã thiết lập các quy chuẩn quốc tế quy định về bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ nói chung và chỉ dẫn địa lý nói riêng. Đây chính là cơ sở pháp lý cho hoạt động bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ về chỉ dẫn địa lý của Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.

2. Khái niệm và đặc điểm của chỉ dẫn địa lý

Việc nhận biết sản phẩm thông qua các dấu hiệu gắn với nơi sản xuất được coi là tập quán đã có từ lâu đời cả ở trên thế giới và ở Việt Nam. Những dấu hiệu chỉ dẫn nơi sản xuất của hàng hóa được xem là loại nhãn hiệu đầu tiên nhằm phân biệt sản phẩm của các vùng sản xuất khác nhau. Tuy nhiên, khác với một nhãn hiệu thông thường, là dấu hiệu bất kỳ do các nhà sản xuất tự nghĩ ra để phân biệt sản phẩm của mình với sản phẩm tương tự của các đối thủ cạnh tranh, chỉ dẫn địa lý thường mang các dấu hiệu có để giúp phân biệt sản phẩm của những khu vực sản xuất khác nhau, do đó, các dấu hiệu về mặt địa lý có chức năng chỉ định đến một địa danh nhất định. Dấu hiệu đó có thể là tên gọi một quốc gia (Made in Japan, Swiss made, Made in Vietnam, Scotch Whisky..), một thành phố (Paris, Bordeaux, California...) hay một địa danh bất kỳ (Phú Quốc, Parma, Camebert, Roqueford...); cũng có khi dấu hiệu đó là một hình ảnh đặc trưng của một khu vực (hình ảnh gấu trúc của Trung Quốc, kanguru của Australie hay biểu tượng chùa một cột của Việt Nam...), một công trình kiến trúc biểu tượng cho một địa danh (London Bridge biểu tượng của London, tháp Eiffel gợi nhớ đến nước Pháp, lụa Pisa của Ý, Paris Parfum của Pháp), hay những nhân vật nổi tiếng của một quốc gia, khu vực (rượu mạnh Napoléon, socola Mozart, xì gà Che Guevara)...

Các nhà sản xuất nhận ra rằng, khi nhắc đến các tên gọi hay nhìn những hình ảnh, biểu tượng đó, người tiêu dùng nhận ra nguồn gốc xuất xứ của sản phẩm, vì vậy, họ đã sử dụng các dấu hiệu này như là một nhãn hiệu để gắn lên sản phẩm do họ sản xuất ra. Như vậy, chỉ dẫn địa lý được sử dụng trong đời sống với ý nghĩa ban đầu là bất kỳ dấu hiệu nào có mối liên hệ trực tiếp hay gián tiếp với một khu vực địa lý nhất định, được sử dụng để phân biệt sản phẩm của khu vực sản xuất đó với các khu vực sản xuất khác. Với cách hiểu như vậy, chỉ dẫn địa lý chỉ đơn thuần là chỉ dẫn nguồn gốc[1], giúp người tiêu dùng nhận ra nơi sản xuất của sản phẩm. Điều này có nghĩa, chỉ dẫn địa lý chưa có mối liên hệ với chất lượng, với danh tiếng của sản phẩm mà chủ yếu được sử dụng để chỉ rõ địa danh, xuất xứ, khu vực địa lý nơi sản xuất ra sản phẩm.

Chỉ dẫn địa lý cũng được hiểu là những chỉ dẫn về hàng hóa bắt nguồn từ lãnh thổ của một quốc gia hoặc từ một khu vực hay địa phương thuộc lãnh thổ đó, có chất lượng, uy tín hoặc đặc tính nhất định chủ yếu do xuất xứ địa lý quyết định. Những đặc tính nhất định, chất lượng và danh tiếng (uy tín) này có thể xuất phát từ các yếu tố khác nhau như: Các yếu tố tự nhiên như là nguyên liệu thô, đất, khí hậu vùng, nhiệt độ, độ ẩm…; hoặc phương pháp sản xuất một chế phẩm của sản phẩm như là phương pháp sản xuất truyền thống hoặc các yếu tố con người như sự tập trung của các doanh nghiệp tương tự trong cùng khu vực, chuyên môn hóa quá trình sản xuất hoặc duy trì các tiêu chuẩn chất lượng nhất định[2]. Sự kết nối giữa hàng hóa và địa điểm trở nên nổi tiếng đến mức bất kỳ một sự nhắc đến địa điểm đều gợi nhắc đến hàng hóa được sản xuất ở đó và ngược lại. Ví dụ như, nhắc tới Vùng của rượu Champanh, là gợi nhớ đến Pháp - là quốc gia mà rượu Champanh được sản xuất ra ở đó. Mặc dù, các chỉ dẫn địa lý có giá trị tương tự như nhãn hiệu, tuy nhiên, các chức năng của chỉ dẫn địa lý khác với nhãn hiệu. Nhãn hiệu được sở hữu bởi các doanh nghiệp và được sử dụng để xác định các sản phẩm và dịch vụ trên thị trường, đặc biệt để phân biệt chúng với các sản phẩm và dịch vụ cạnh tranh trong khi chỉ dẫn địa lý không bao giờ thuộc về một doanh nghiệp cụ thể. Một chỉ dẫn địa lý có thể được sử dụng chung (cùng lúc) bởi một số doanh nghiệp, với điều kiện là các sản phẩm được sử dụng có nguồn gốc từ cùng khu vực địa lý mà chỉ dẫn địa lý đó đề cập đến.

Dưới giác độ pháp lý, theo Điều 2 Thỏa ước Lisbon năm 1958, sửa đổi, bổ sung năm 1979, chỉ dẫn địa lý được biết đến dưới thuật ngữ “tên gọi xuất xứ” và được định nghĩa là “tên gọi địa lý của quốc gia, khu vực, địa phương nơi mà hàng hóa được sản xuất và hàng hóa đó mang tính chất, chất lượng đặc thù của môi trường địa lý, bao gồm yếu tố tự nhiên và con người”; đến Hiệp định TRIPs, chỉ dẫn địa lý được hiểu là các chỉ dẫn dùng để phân biệt một sản phẩm hàng hóa xuất xứ từ lãnh thổ của một nước thành viên, hoặc một vùng hay địa phương có chất lượng, uy tín hoặc các tính chất đặc thù khác của sản phẩm có được nhờ xuất xứ địa lý của chúng (khoản 1 Điều 22). Như vậy, chỉ dẫn địa lý là dấu hiệu dùng để chỉ sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hay quốc gia cụ thể. Khu vực địa lý mang chỉ dẫn địa lý có ranh giới được xác định một cách chính xác bằng từ ngữ và bản đồ. Danh tiếng của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý do điều kiện địa lý quyết định, được xác định bằng mức độ tín nhiệm của người tiêu dùng đối với sản phẩm đó thông qua mức độ rộng rãi người tiêu dùng biết đến và chọn lựa sản phẩm đó. Điều kiện địa lý mang lại danh tiếng, tính chất, chất lượng đặc thù của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý gồm: Yếu tố tự nhiên (khí hậu, thủy văn, địa chất, địa hình, hệ sinh thái và các điều kiện tự nhiên khác); yếu tố con người (kỹ năng, kỹ xảo của người sản xuất, quy trình sản xuất truyền thống của địa phương…). Chất lượng, đặc tính của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý được xác định bằng một hoặc một số chỉ tiêu định tính, định lượng hoặc cảm quan về vật lý, hóa học, vi sinh và các chỉ tiêu đó phải có khả năng kiểm tra được bằng phương tiện kỹ thuật hoặc chuyên gia với phương pháp kiểm tra phù hợp.

Ở Việt Nam, chỉ dẫn địa lý cũng được hiểu là thông tin về nguồn gốc của hàng hóa. Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam quy định: “Chỉ dẫn địa lý là dấu hiệu dùng để chỉ sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hay quốc gia cụ thể”[3]. Thông qua chỉ dẫn địa lý, có thể nhận biết một khu vực địa lý cụ thể gắn liền với chất lượng, danh tiếng và những đặc tính riêng có của sản phẩm mà chỉ ở nơi ấy mới có, chẳng hạn như: “Vạn Phúc” (lụa tơ tằm); “Bát Tràng” (gốm, sứ); “Phú Quốc” (nước mắm)...

3. Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý

Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý dựa trên nền tảng các quy định về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Một trong những quan điểm phổ biến hiện nay là việc “Nhà nước, các cơ quan chức năng ban hành các quy định, chính sách pháp luật và tổ chức thực thi các quy định pháp luật liên quan đến việc xác lập, công nhận và bảo vệ quyền của chủ sở hữu là các tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ”[4]. Tuy nhiên, trên thực tiễn, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ còn bao gồm tất cả các hoạt động của cơ quan có thẩm quyền và các chủ thể để bảo vệ và khai thác quyền một cách hiệu quả. Bởi vậy, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ theo nghĩa rộng là việc Nhà nước, các cơ quan chức năng và các chủ thể, thông qua hệ thống pháp luật tiến hành các hoạt động liên quan đến việc xác lập, công nhận, khai thác và bảo vệ các chủ thể chống lại các hành vi xâm phạm quyền đối với các tài sản trí tuệ. Hiểu theo nghĩa này, thì bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp là việc Nhà nước, các cơ quan chức năng và các chủ thể, thông qua hệ thống pháp luật tiến hành các hoạt động liên quan đến việc xác lập, công nhận, khai thác và bảo vệ các chủ thể chống lại các hành vi xâm phạm quyền đối với các đối tượng sở hữu công nghiệp.

Chỉ dẫn địa lý là đối tượng được bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, vì vậy, bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý cũng được hiểu là việc Nhà nước, các cơ quan chức năng và các chủ thể, thông qua hệ thống pháp luật tiến hành các hoạt động liên quan đến việc xác lập, khai thác, quản lý và bảo vệ các chủ thể chống lại các hành vi xâm phạm quyền đối với chỉ dẫn địa lý. Điểm mấu chốt của bảo hộ chỉ dẫn địa lý chính là cơ chế đảm bảo khả năng truy xuất nguồn gốc địa lý của sản phẩm và đảm bảo tính đặc thù của sản phẩm thông qua quy trình kiểm soát chặt chẽ về chất lượng sản phẩm. Chỉ dẫn địa lý là tài sản tập thể, quyền sở hữu thuộc về Nhà nước, nhưng quyền sử dụng lại thuộc tập thể các nhà sản xuất, kinh doanh tại địa phương. Vì vậy, việc bảo hộ chỉ dẫn địa lý không dừng lại ở việc xác lập quyền, việc bảo hộ chỉ dẫn địa lý cần được tiếp cận rộng hơn, nghĩa là sau khi được Nhà nước công nhận chỉ dẫn địa lý, cần có cơ chế quản lý nhằm đảm bảo khả năng truy suất nguồn gốc sản phẩm, bảo vệ lợi ích cho người sản xuất và lợi ích xã hội cho cộng đồng.

Việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý đã được ghi nhận trong Công ước Paris năm 1983, tại đoạn 2 Điều 1 quy định: “Sở hữu công nghiệp phải được hiểu theo nghĩa rộng nhất, không những chỉ áp dụng cho công nghiệp và thương mại theo đúng nghĩa của chúng mà cho các ngành sản xuất nông nghiệp, công nghiệp khai thác và tất cả các sản phẩm chế biến hoặc sản phẩm tự nhiên như rượu vang, ngũ cốc, thuốc lá, hoa quả, gia súc, khoáng sản, nước khoáng, bia, hoa và bột”. Hiệp định TRIPs cũng yêu cầu “tất cả các thành viên của WTO thiết lập những điều luật cơ bản (không xác định) quy định vấn đề bảo vệ của các chỉ dẫn địa lý”[5]. Hiệp định này cũng đã thiết lập các tiêu chuẩn để quy định về bảo hộ và thực thi sở hữu trí tuệ quốc tế, xây dựng các tiêu chuẩn quốc tế tối thiểu đối với chỉ dẫn địa lý. Từ đây, bảo hộ chỉ dẫn địa lý đã được thừa nhận trên phạm vi quốc tế.

Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) quy định “các nước được quyền lựa chọn cơ chế bảo hộ đối với chỉ dẫn địa lý, hoặc là theo cơ chế riêng chỉ áp dụng cho chỉ dẫn địa lý, hoặc là theo cơ chế chung với nhãn hiệu thương mại”[6]. Điều này có nghĩa là các nước như Việt Nam sẽ vẫn được tiếp tục sử dụng hệ thống bảo hộ chỉ dẫn địa lý của mình (độc lập với bảo hộ về nhãn hiệu thương mại). Đây được xem là giải pháp hợp lý với Việt Nam bởi Việt Nam đang và sẽ đồng thời có cam kết về chỉ dẫn địa lý với các đối tác sử dụng các cơ chế khác nhau (ví dụ: EU bảo hộ chỉ dẫn địa lý riêng, không theo cơ chế nhãn hiệu thương mại). Tuy nhiên, dù theo cơ chế bảo hộ chỉ dẫn địa lý nào, các nước CPTPP vẫn phải tuân thủ các nghĩa vụ nhất định, cụ thể: (i) Bảo đảm minh bạch, cải cách trong thủ tục hành chính liên quan tới việc bảo hộ hoặc công nhận các chỉ dẫn địa lý; (ii) Căn cứ để phản đối hoặc từ chối bảo hộ/công nhận một chỉ dẫn địa lý phải bao gồm các trường hợp gây nhầm lẫn với các nhãn hiệu thương mại đã hoặc đang xem xét đơn đăng ký trước đó hoặc trùng với tên chung để chỉ một loại hàng hóa trong ngôn ngữ của nước thành viên đó (riêng với rượu vang/rượu mạnh thì tên trùng với một loại nho trong ngôn ngữ của nước đó); (iii) Thời điểm bắt đầu bảo hộ không được sớm hơn ngày nộp đơn đăng ký hoặc ngày được đăng ký.

Về quan hệ giữa chỉ dẫn địa lý và nhãn hiệu, trong trường hợp có nhãn hiệu trùng hoặc tương tự với một chỉ dẫn địa lý mà nhãn hiệu lại được bảo hộ trước (đã đăng ký trước hoặc đã trở nên nổi tiếng trước), mặc dù chỉ dẫn địa lý vẫn được bảo hộ nhưng quyền của chủ nhãn hiệu sẽ được ưu tiên hơn, theo hướng: (i) Chủ sở hữu nhãn hiệu có quyền ngăn cấm việc sử dụng chỉ dẫn địa lý đó nếu việc sử dụng này có khả năng gây ra nhầm lẫn về nguồn gốc thương mại của hàng hóa. Tuy nhiên, chỉ dẫn địa lý chỉ có ý nghĩa mô tả xuất xứ của hàng hóa thì được xem là ngoại lệ, vẫn được phép sử dụng song song cùng nhãn hiệu đó; (ii) Không bảo hộ chỉ dẫn địa lý nếu có khả năng gây nhầm lẫn với nhãn hiệu về nguồn gốc thương mại của hàng hóa (trừ khi việc sử dụng chỉ dẫn địa lý đó thuộc trường hợp ngoại lệ đối với quyền của nhãn hiệu).

Chỉ dẫn địa lý là một đối tượng sở hữu công nghiệp tương đối mới so với các đối tượng truyền thống như sáng chế và nhãn hiệu. Ở châu Âu, một khuôn khổ pháp lý chung cho bảo hộ chỉ dẫn địa lý cũng đã được tạo lập từ năm 1992. Các quy tắc chung ở cấp EU đều dành không gian cho quy định pháp lý chi tiết hơn ở cấp quốc gia. Có nghĩa là, “việc bảo hộ chỉ dẫn địa lý của từng quốc gia thuộc EU vẫn có sự khác nhau”[7]. Các nước châu Âu, điển hình là Pháp, đã có các quy định về công nhận và bảo hộ chỉ dẫn địa lý từ đầu thế kỷ XX. Hiện nay, “rất nhiều nước ngoài châu Âu, trong đó có Việt Nam đã thiết lập hệ thống các quy định riêng để bảo hộ chỉ dẫn địa lý”[8]. Như vậy, có thể hiểu, bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý là việc Nhà nước, các chủ thể khai thác và sử dụng chỉ dẫn địa lý, các cơ quan chức năng thông qua hệ thống pháp luật tiến hành các hoạt động liên quan đến việc xác lập, khai thác, quản lý và bảo vệ các chủ thể chống lại các hành vi xâm phạm quyền đối với chỉ dẫn địa lý”.

4. Vai trò của bảo hộ chỉ dẫn địa lý ở Việt Nam

Bảo hộ chỉ dẫn địa lý cho các đặc sản địa phương đang là hướng đi có hiệu quả nhằm bảo vệ tên tuổi và nâng cao giá trị hàng hóa trong nước, xúc tiến xuất khẩu sản phẩm ra thị trường nước ngoài, là công cụ cho phép bảo tồn, chống lại sự lạm dụng, gian lận thương mại dựa trên việc thúc đẩy tiềm năng các nguồn lực địa phương, tăng cường lợi thế so sánh và sức cạnh tranh của sản phẩm thông qua một chiến lược riêng của các sản phẩm khu vực nông thôn, đặc biệt là nông sản thực phẩm, phát huy các lợi thế riêng của địa phương để phát triển và quảng bá sản phẩm, nâng cao giá trị kinh tế cho đặc sản. Bên cạnh đó, việc duy trì chất lượng sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý không chỉ tạo ra công ăn việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống cho người sản xuất của địa phương đó, mà cả những nhà kinh doanh, nhà sản xuất nguyên liệu thô, phụ phẩm, các công ty vận tải và người tiêu dùng. Cụ thể:

Một là, trong việc phát triển kinh tế: Chỉ dẫn địa lý là một nhân tố quan trọng góp phần trong bình ổn chất lượng và danh tiếng của các sản phẩm, được coi là công cụ marketing quan trọng trong cạnh tranh thị trường. Vì vậy, bảo hộ chỉ dẫn địa lý đóng vai trò quan trọng để phát triển hình ảnh tốt đẹp của sản phẩm tới người tiêu dùng. Kinh nghiệm của các nước phát triển và thực tế tại Việt Nam cho thấy, việc xây dựng hệ thống bảo hộ chỉ dẫn địa lý đã góp phần cải thiện nền nông nghiệp nông thôn vì nó là điều kiện phát huy các lợi thế riêng có của địa phương đó để phát triển sản phẩm đặc sản. Đây được coi là cách thức hiệu quả nhất để có được sự thành công trong việc phát triển sản phẩm nông nghiệp. Trong những năm gần đây, xu hướng của người tiêu dùng đang chuyển sang sử dụng các sản phẩm tự nhiên, dẫn tới mức thu nhập của người nông dân được cải thiện. Đã có rất nhiều tấm gương nông dân làm giàu nhờ trồng vải thiều Thanh Hà, xoài cát Hòa Lộc, nho Ninh Thuận, thanh long Bình Thuận,… hoặc mở xưởng sản xuất nước mắm Phan Thiết, nước mắm Phú Quốc... Rõ ràng là, bảo hộ chỉ dẫn địa lý cho các sản phẩm đặc sản đang là một hướng đi có hiệu quả nhằm bảo vệ tên tuổi và nâng cao giá trị hàng hóa trong nước, xúc tiến xuất khẩu sản phẩm ra thị trường nước ngoài làm tăng kim ngạch xuất khẩu. Thiết nghĩ, nếu triển khai tốt việc xây dựng, quản lý, khai thác càng nhiều sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý sẽ mang lại nhiều lợi ích kinh tế cho hàng nông sản, đặc biệt đối với Việt Nam, một trong các nước hàng đầu trên thế giới về xuất khẩu nông sản.

Hai là, chỉ dẫn địa lý cũng đang được xem là một công cụ quan trọng cung cấp sự đảm bảo chất lượng cho người tiêu dùng: Khi một chỉ dẫn địa lý được bảo hộ, cơ chế quản lý và kiểm soát việc sử dụng chỉ dẫn địa lý cũng như việc duy trì, đảm bảo chất lượng sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý sẽ tạo ra công ăn việc làm cho số lượng lớn người lao động của địa phương đó, khắc phục tình trạng thất nghiệp. Nó cũng là phương tiện nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống cho không chỉ người sản xuất của địa phương mà cả những nhà kinh doanh, nhà sản xuất nguyên liệu thô, phụ phẩm, các công ty vận tải… Ngoài ra, địa phương có chỉ dẫn địa lý được bảo hộ còn có thể phát triển ngành công nghiệp du lịch sinh thái nhằm đem lại nguồn lợi kinh tế cao cho cư dân địa phương. Chẳng hạn, các tour du lịch Phú Quốc hiện nay thường kèm theo tham quan các cơ sở sản xuất nước mắm, điều này sẽ thúc đẩy phát triển du lịch. Người tiêu dùng tin rằng khi mua sản phẩm được bảo hộ chỉ dẫn địa lý, họ đã lựa chọn được sản phẩm có chất lượng, an toàn. Đồng thời, các sản phẩm được bảo hộ chỉ dẫn địa lý được đảm bảo rằng có tính chất đặc thù của địa phương, vùng lãnh thổ hoặc quốc gia; bảo vệ được bí quyết công nghệ, thúc đẩy phát triển nông nghiệp, nông thôn và phát triển du lịch.

Nguyễn Thúy Hằng

NCS Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh





[1]. Theo Luận án Tiến sĩ kinh tế của tác giả Lê Thị Thu Hà với đề tài “Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp dưới góc độ thương mại đối với chỉ dẫn địa lý của Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” bảo vệ tại Đại học Ngoại Thương Hà Nội năm 2010.

[2]. Surckha Vasishta và Amar Rai Lall “Đạo luật về chỉ dẫn địa lý của hàng hóa (đăng ký và bảo hộ), 1999” trong “Luật về quyền sở hữu trí tuệ trong triển vọng và hồi tưởng” (Delhi, 2001). AK Koul và VK Ahuja.

[3]. Khoản 22 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).

[4]. Lê Văn Kiều (2007), Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, giải quyết tranh chấp, khiếu nại và tố cáo về sở hữu trí tuệ, Tài liệu Khóa đào tạo chuyên sâu về sở hữu trí tuệ do Cục Sở hữu trí tuệ tổ chức.

[5]. Daniele Giovannucci - Tim Josling - William Kerr - Bernard O’Connor - May T. Yeung (2009), “Kết nối sản phẩm và xuất xứ sản phẩm”, Hướng dẫn chỉ dẫn địa lý, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam - Trung tâm WTO và Hội nhập, Dự án hỗ trợ thương mại đa biên (EU-VIETNAM MUTRAP).

[6]. Theo Trung tâm WTO và Hội nhập – VCCI (www.trungtamwto.vn).

[7]. Delphine Marie-Vivien (2016), “Quản lý và kiểm soát chỉ dẫn địa lý: Kinh nghiệm của châu Âu và bài học cho Việt Nam”, Hội thảo Chỉ dẫn địa lý và những cam kết trong khuôn khổ Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam-EU (EVFTA), Hà Nội.

[8]. Phạm Thị Mỹ Dung (2016), “Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý theo pháp luật Việt Nam”, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Học viện Khoa học Xã hội.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.
Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Tóm tắt: Thông báo thi hành án là thủ tục không thể thiếu trong từng giai đoạn của quá trình tổ chức thi hành án dân sự. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về thông báo thi hành án còn tồn tại một số bất cập, hạn chế như chưa tương xứng giữa quyền với nghĩa vụ của đương sự, giữa trách nhiệm với quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và chủ yếu được thực hiện theo hình thức thông báo trực tiếp… Bài viết phân tích pháp luật thực định và thực tiễn thi hành, từ đó, đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến thông báo thi hành án để phù hợp thực tiễn, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích những bất cập trong quy định của pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con, từ đó, đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy quyền được giáo dục của con trong gia đình được thực hiện hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển của trẻ em và xã hội trong bối cảnh hiện nay.
Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết tập trung nghiên cứu một số học thuyết và phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật, chỉ ra những bất cập tồn tại trong quy định pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam chưa phù hợp với các học thuyết này. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng trong thời gian tới.
Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Tóm tắt: Cải cách thủ tục hành chính là yếu tố quan trọng, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính, thúc đẩy cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, đặc biệt là tạo động lực cho đổi mới sáng tạo. Nghiên cứu này phân tích sự cần thiết của cải cách thủ tục hành chính và thực trạng cải cách thủ tục hành chính ở Việt Nam trong việc khơi thông động lực đổi mới sáng tạo, từ đó, đề xuất giải pháp cải cách.
Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích quá trình phát triển tư tưởng về mối quan hệ giữa luật pháp và kinh tế học, tập trung vào trường phái kinh tế học pháp luật với phương pháp phân tích chi phí - lợi ích làm nổi bật vai trò quan trọng của việc cân nhắc các tác động hành vi cùng hiệu quả phân bổ nguồn lực trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật. Trên cơ sở đó, đề xuất áp dụng phương pháp kinh tế học pháp luật vào quy trình lập pháp tại Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả, tính minh bạch, sự công bằng xã hội và góp phần thúc đẩy cải cách pháp luật bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế, chuyển đổi số.

Theo dõi chúng tôi trên: