Thứ năm 30/04/2026 01:20
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Vai trò của cơ chế Bảo hiến trong thi hành pháp luật ở Việt Nam hiện nay

Xây dựng và tổ chức thi hành pháp là hoạt động cơ bản của mọi nhà nước từ xưa đến nay. Trong các kiểu nhà nước và các hình thức chính thể nhà nước khác nhau, các hoạt động này do một hoặc nhiều chủ thể quyền lực nhà nước thực hiện.

1. Khái niệm về Bảo hiến

Hiến pháp, “đạo luật gốc” có vị trí trung tâm của hệ thống pháp luật của mỗi nhà nước. Nó luôn cần có sự tuân thủ một cách nghiêm ngặt của mọi chủ thể trong xã hội, đặc biệt từ phía các cơ quan nhà nước. Để ngăn chặn nguy cơ có các hành vi vi phạm các quy định của Hiến pháp, làm biến dạng những nội dung của Hiến pháp khi triển khai nó trong thực tiễn, các nhà nước có Hiến pháp thành văn có quy định, bảo vệ Hiến pháp. Chế định này được gọi là chế định bảo hiến.

Có nhiều quan niệm khác nhau về bảo hiến. Theo tác phẩm “Chế độ Hiến pháp Đức”, các tác giả cho rằng, bảo hiến như là hoạt động của các cơ quan Tòa án nhằm xem xét những vụ việc về những vấn đề Hiến pháp - pháp lý liên quan đến việc bảo đảm sự tuân thủ Hiến pháp từ phía các cơ quan quyền lực nhà nước và nhằm đưa ra những quyết định về các vụ việc đó kéo theo những hậu quả pháp lý[1]. Quan điểm Chánh án Tòa án Tối cao J. Marshall thể hiện một cách rõ rệt nhất trong phán quyết về vụ Marbury v. Madison (Marbury kiện Madison) năm 1803: “Chỉ có Tòa án mới có quyền và có nghĩa vụ tuyên bố cái gì được gọi là luật”, “một văn bản luật trái với Hiến pháp không phải là luật”[2], nêu ra cách nhìn nhận trực quan về việc bảo hiến với vai trò của Tòa án.

Bảo hiến (bảo vệ Hiến pháp) có thể hiểu đơn giản đó là việc kiểm soát tính hợp hiến các đạo luật, các văn bản pháp luật dưới luật. Thực tiễn của chế độ bảo hiến các nước cho thấy, các định chế bảo hiến được sinh ra không đơn thuần chỉ là kiểm soát tính hợp hiến của hành vi lập pháp. Chẳng hạn, Tòa án Hiến pháp ở nhiều quốc gia châu Âu bên cạnh việc kiểm soát tính hợp hiến các đạo luật của Quốc hội còn thực hiện nhiều chức năng khác để bảo vệ nội dung và tinh thần của Hiến pháp như giải quyết tranh chấp giữa lập pháp và hành pháp, giữa liên bang và tiểu bang, giữa trung ương và địa phương; kiểm soát tính hợp hiến trong hành vi của tổng thống cũng như các quan chức hành pháp; giải quyết tranh chấp về kết quả bầu cử... Tòa án ở Mỹ - một định chế bảo hiến cũng không đơn thuần chỉ kiểm soát tính hợp hiến trong hành vi của Quốc hội, mà còn Tổng thống và các cơ quan của hành pháp... Nhìn chung vì các đạo luật phụ thuộc trực tiếp Hiến pháp nên bảo hiến cơ bản là kiểm soát tính hợp hiến các đạo luật nhưng đó không phải là tất cả. Bảo hiến được hiểu theo nghĩa bao trùm hơn là kiểm soát tính hợp hiến trong hành vi của các định chế chính trị được ấn định trong Hiến pháp. Tuy nhiên, ý nghĩa cốt lõi của bảo hiến vẫn là kiểm soát tính hợp hiến trong hành vi lập pháp.

2. Thi hành pháp luật

Thi hành pháp luật còn được gọi là chấp hành pháp luật. Trong một số tài liệu, giáo trình chuyên ngành luật là một trong 4 dạng của thực hiện pháp luật. Là hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể thực hiện nghĩa vụ của mình bằng hành động tích cực. Khác với hình thức tuân thủ, trong hình thức thi hành pháp luật đòi hỏi phải thực hiện trách nhiệm pháp lý một cách tích cực. Ở đây, cần phải thực hiện hành động tích cực, cụ thể, không giới hạn ở chỗ không hành động gì cả. Chủ thể của hình thức thực hiện pháp luật này là các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, mọi công dân và các nhà chức trách[3].

Tuy nhiên, thi hành pháp luật với cách tiếp cận hẹp hơn, gắn với chủ thể là cơ quan nhà nước là việc thực hiện nghĩa vụ của Nhà nước nói chung và của các cơ quan nhà nước, nhân viên nhà nước nói riêng với các hành vi chủ động, mang tính tích cực để đáp lại những yêu cầu từ phía xã hội với nhà nước. Đây là điểm phân biệt thi hành pháp luật của nhà nước với hình thức áp dụng pháp luật cũng là một hình thức thực hiện pháp luật gắn với cơ quan nhà nước được hiểu là quá trình thực hiện thẩm quyền của cơ quan nhà nước nhằm thực hiện các quy phạm pháp luật trong những tình huống thực tế.

Xây dựng và tổ chức thi hành pháp là hoạt động cơ bản của mọi nhà nước từ xưa đến nay. Trong các kiểu nhà nước và các hình thức chính thể nhà nước khác nhau, các hoạt động này do một hoặc nhiều chủ thể quyền lực nhà nước thực hiện.

Trong các nhà nước hiện nay trên thế giới, công việc của nhà nước được phân thành những phần khác nhau, có thể được phân chia thành những phần quyền lực khác nhau như trong các nhà nước thực hiện tam quyền phân lập hoặc được phân định thành những mảng công việc khác nhau do các cơ quan nhà nước khác nhau thực hiện như ở Việt Nam, thì xây dựng và tổ chức thực hiện pháp luật do các chủ thể khác nhau thực hiện. Xây dựng pháp luật, theo nghĩa là ban hành luật, do Quốc hội thực hiện còn tổ chức thi hành pháp luật do cơ quan nắm giữ quyền hành pháp mà đa phần là Chính phủ hay người đứng đầu Chính phủ là Thủ tướng Chính phủ thực hiện.

Ở Pháp người ta quan niệm, tổ chức thi hành pháp luật được coi là một phương diện hoạt động của cơ quan thực hiện quyền hành pháp[4]. Hiện nay, Hiến pháp năm 1958 của Cộng hòa Pháp quy định Tổng thống có nhiệm vụ bảo đảm thi hành Hiến pháp, ký ban hành các đạo luật và các nghị định (nghị định lập quy độc lập với lĩnh vực của luật và nghị định quy định chi tiết thi hành luật). Thủ tướng Chính phủ có trách nhiệm bảo đảm việc thi hành pháp luật, ban hành văn bản pháp quy để thi hành luật[5].

Tại Việt Nam, kể từ năm 1946 cho tới nay, tuy ở mức độ khác nhau, trong các bản Hiến pháp đều quy định chức năng và nhiệm vụ về thi hành pháp luật. Hiến pháp năm 2013 quy định: Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành của Quốc hội, có nhiệm vụ tổ chức thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước (khoản 1 Điều 96); Thủ tướng Chính phủ lãnh đạo việc tổ chức thi hành pháp luật ( khoản 1 Điều 98); Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ là thành viên Chính phủ và là người đứng đầu bộ, cơ quan ngang bộ, lãnh đạo công tác của bộ, cơ quan ngang bộ; chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực được phân công; tổ chức thi hành và theo dõi việc thi hành pháp luật liên quan đến ngành, lĩnh vực trong phạm vi toàn quốc (khoản 1 Điều 99).

Các hình thức thi hành pháp luật quy định trong Nghị định số 59/2012/NĐ-CP ngày 23/7/2012 của Chính phủ về theo dõi tình hình thi hành pháp luật gồm 06 loại hoạt động cơ bản sau đây: (i) Ban hành văn bản hướng dẫn thi hành các văn bản của cấp trên để cụ thể hóa, chi tiết hóa hoặc cho phù hợp với đăc điểm cụ thể của ngành, địa phương mà cơ quan hành chính nhà nước thực hiện công việc quản lý; (ii) Xây dựng, ban hành hoặc thực hiện các chương trình, kế hoạch, quy hoạch triển khai văn bản pháp luật của cấp trên hoặc do mình đã ban hành; (iii) Tổ chức bộ máy, nhân sự, cần thiết ngân sách và các điều kiện bảo đảm khác để tổ chức thi hành pháp luật; (iv) Tổ chức hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật; (v Tiến hành công tác cấp phép, đăng ký, cấp chứng chỉ hành nghề, giấy chứng nhận (bao gồm cả cấp giấy chứng nhận mang tính ưu đãi cho tổ chức, cá nhân (nếu có); (vi) Tiến hành các hoạt động thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm, giải quyết khiếu tố cáo, kiến nghị đối với việc chấp hành văn bản pháp luật của cấc đối tượng có trách nhiệm phải tuân thủ văn bản pháp luật (các cơ quan trực thuộc, các tổ chức dịch vụ công, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, công dân).

3. Vai trò của Bảo hiến trong thi hành pháp luật

Chức năng chung của cơ quan bảo hiến là tập trung vào việc tuyên bố hủy bỏ những chỉ thị, văn bản pháp luật của cơ quan nhà nước được ban hành trái với Hiến pháp. Đối với quá trình lập pháp, hành pháp và tư pháp, cơ quan bảo hiến có vai trò hết sức quan trọng vì nó có chức năng tuyên hủy những văn bản pháp luật trái với Hiến pháp, bảo vệ tính nghiêm minh của pháp luật…

Nghiên cứu kinh nghiệm các nước có thể nhận thấy, vi phạm Hiến pháp được thể hiện ở nhiều dạng khác nhau. Đó là, tình trạng trái Hiến pháp của các văn bản luật; hành vi trái Hiến pháp của công dân, của cán bộ công quyền trong quá trình thực hiện quyền cũng như nghĩa vụ của mình. Việc bảo đảm tính tối cao của Hiến pháp trong hệ thống pháp luật và bảo đảm để tất cả các chủ thể trong xã hội tôn trọng và nghiêm chỉnh chấp hành các quy định của Hiến pháp luôn là vấn đề hệ trọng.

Theo quy định pháp luật Việt Nam, hoạt động giám sát và bảo vệ Hiến pháp ở Việt Nam về cơ bản gồm việc giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, cá nhân có thẩm quyền trong việc thi hành Hiến pháp và pháp luật; giám sát văn bản quy phạm pháp luật và điều ước quốc tế; giải thích Hiến pháp; giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân; v.v... Trách nhiệm giám sát và bảo vệ Hiến pháp được trao cho nhiều cơ quan nhà nước có thẩm quyền, đó là cơ quan quyền lực nhà nước, Chủ tịch nước, các cơ quan hành chính, cơ quan tư pháp. Trong đó, với tư cách là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, có chức năng giám sát tối cao đối với Tòa ánn bộ hoạt động của Nhà nước, Quốc hội là trung tâm của thiết chế bảo hiến ở Việt Nam. Giám sát của Quốc hội mang tính quyền lực nhà nước, hướng tới mọi đối tượng, mọi chủ thể trong xã hội và bao trùm tất cả các lĩnh vực, các quan hệ xã hội thuộc phạm vi điều chỉnh của Hiến pháp. Tuy nhiên, quá trình thực hiện cơ chế giám sát và bảo vệ Hiến pháp theo các quy định của pháp luật hiện hành vẫn còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, cụ thể:

Một là, việc giám sát và bảo vệ Hiến pháp được giao cho nhiều cơ quan nhà nước, cá nhân có thẩm quyền mà không giao cho một cơ quan chuyên trách có chức năng bảo vệ Hiến pháp. Điều này dẫn đến tình trạng không xác định rõ phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của từng cơ quan nên hoặc là đùn đẩy trách nhiệm hoặc chồng chéo trong thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn, làm ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động giám sát và bảo vệ Hiến pháp.

Hai là, việc giám sát và bảo vệ Hiến pháp theo cơ chế hiện hành chủ yếu dựa vào việc thực hiện quyền giám sát tối cao của Quốc hội, trong khi đó giám sát tối cao của Quốc hội phụ thuộc vào các cơ quan của Quốc hội và đại biểu Quốc hội. Vì thế không tránh khỏi sự ỷ lại trong việc thực hiện nhiệm vụ bảo hiến.

Ba là, chúng ta chưa có một cơ chế hữu hiệu nào để giám sát chính hoạt động của Quốc hội và giám sát tính hợp hiến của các đạo luật, nghị quyết do Quốc hội ban hành cũng như việc giải quyết và hệ quả pháp lý trong trường hợp luật, nghị quyết của Quốc hội có dấu hiệu trái với Hiến pháp. Mặc dù, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định “theo đề nghị của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, đại biểu Quốc hội, Quốc hội xem xét, quyết định bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ luật, nghị quyết của Quốc hội trái Hiến pháp”. Tuy nhiên, cho đến nay, Quốc hội vẫn chưa bãi bỏ một văn bản luật, nghị quyết nào của mình với lý do văn bản đó trái Hiến pháp, mặc dù việc sửa đổi, bổ sung luật diễn ra liên tục hàng năm.

Bốn là, thẩm quyền hủy bỏ, đình chỉ văn bản quy phạm pháp luật trái Hiến pháp, luật. Trên thực tế, bên cạnh các vi phạm Hiến pháp dưới dạng ban hành văn bản quy phạm pháp luật trái với Hiến pháp, không phù hợp Hiến pháp, sai thẩm quyền được quy định trong Hiến pháp, vi hiến dưới dạng không hành động còn diễn ra khá phổ biến nhưng rất khó kiểm soát và xác định trách nhiệm[6]. Đặc biệt là trong lĩnh vực ban hành văn bản quy định cụ thể hóa các quyền và tự do hiến định của công dân, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội trong thực tiễn hầu như chưa được áp dụng. Hình thức kiến nghị thông qua hoạt động kiểm tra, giám sát của các cơ quan của Quốc hội, đại biểu Quốc hội, đoàn đại biểu Quốc hội, cơ quan nhà nước có thẩm quyền chưa thực sự đem lại hiệu quả vì pháp luật chưa quy định cụ thể trình tự, thủ tục xử lý văn bản trái pháp luật.

Năm là, Hiến pháp Việt Nam không có hiệu lực áp dụng trực tiếp. Các cơ quan, tổ chức khi áp dụng pháp luật thường không viện dẫn quy định của Hiến pháp để giải quyết một vụ việc cụ thể, người dân cũng ít khi viện dẫn điều khoản của Hiến pháp để chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm khi khởi kiện hoặc khiếu nại.

Ở Việt Nam, cùng với việc thực hiện mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, việc xây dựng cơ chế bảo vệ Hiến pháp trở nên cấp thiết. Hiến pháp năm 2013 đã hình thành Hội đồng bầu cử quốc gia. Tuy nhiên, cơ quan này không thực sự có chức năng bảo vệ Hiến pháp và càng không có chức phán định, tài phán về hành vi vi hiến. Chính vì điều này nên thực tế ở Việt Nam đang thiếu vắng cơ chế thực sự của bảo hiến, điều này làm ảnh hưởng lớp đến thực tiễn hoạt động thực hiện pháp luật.

Mỗi quốc gia tùy thuộc vào điều kiện cụ thể, vào thể chế chính trị của mỗi nước mà hình thành cơ chế, mô hình cơ quan bảo hiến cho phù hợp. Ở nước ta, việc lựa chọn mô hình bảo hiến nào, là Tòa án tư pháp, Tòa án Hiến pháp, hay Hội đồng Hiến pháp… là điều cần phải được cân nhắc kỹ.

Việc thiết kế mô hình bảo hiến phải bảo đảm phù hợp với mô hình tổ chức nhà nước ở Việt Nam. Đó là quyền lực nhà nước là thống nhất nhưng vẫn có sự phân công, phối hợp thực hiện giữa các cơ quan để thực hiện chức năng lập pháp, hành pháp và tư pháp. Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất, Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, Tòa án là cơ quan xét xử… Việc thiết kế mô hình bảo hiến phải tạo ra được một công cụ độc lập để giải quyết được tình trạng vi phạm Hiến pháp nếu sảy ra, tăng cường năng lực bảo vệ Hiến pháp. Nhiệm vụ cơ bản của cơ quan bảo vệ Hiến pháp là kiểm tra, giám sát tính hợp hiến, hợp pháp của các văn bản pháp luật và hành vi của các cơ quan trong bộ máy nhà nước. Vì thế, cơ quan bảo vệ Hiến pháp phải có vị trí tương đối độc lập với các cơ quan khác để bảo đảm được tính khách quan và hiệu quả trong việc giám sát và bảo vệ Hiến pháp. Đồng thời, cần phải xác định rằng, mô hình bảo hiến phải kế thừa và phát huy được cơ chế bảo hiến hiện hành, có tiếp thu, chọn lọc kinh nghiệm của nước ngoài để tìm ra được cách thức, giải pháp để Hiến pháp được tôn trọng và tuân thủ cho phù hợp với điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội ở Việt Nam. Việc tìm kiếm mô hình bảo hiến ở nước ta không đồng nghĩa với việc phải xây dựng một cơ chế bảo hiến hoàn toàn mới để thay thế cho cơ chế hiện hành. Các cơ quan nhà nước vẫn phải tự kiểm soát được hành vi của mình, đồng thời có khả năng kiểm soát được hành vi của cơ quan khác là điều cần thiết trong quá trình thi hành pháp luật./.

ThS. Lê Ngọc Hưng

Học viện Hành chính Quốc gia


[1] Chế độ hiến pháp Đức Nxb. Thống kê, 2012. Sđd, tr. 22.

[2] Richard C. Schroeder (ed.). An Ouline of American Goverment. 1990. P. 95.

[3] Giáo trình Lý luận chung Nhà nước và Pháp luật - Học viện Hành chính Quốc gia, Nxb. Khoa học và Kỹ thuật, tr. 344.

[4] http://www.youth.ueh.edu.vn/hoctap/ocw/Luat%20kinh%20te/Quyen%20hanh%20phap.pdf, truy cập ngày 25/10/2023.

[5] Văn phòng Quốc hội, sách “Hiến pháp một số nước trên thế giới”, Nxb. Thống kê, năm 2009, Điều 6 Mục I Chương 4 Phần II Hiến pháp Cộng hòa Pháp năm 1791.

[6] Viện Nghiên cứu lập pháp, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ: “Xây dựng và hoàn thiện cơ chế bảo vệ Hiến pháp phù hợp với Hiến pháp - Cơ sở lý luận và thực tiễn”. H.2016, tr.126 - 127.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).

Theo dõi chúng tôi trên: