Thứ ba 26/05/2026 02:15
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Vai trò của hoạt động kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật trong việc bảo đảm quyền con người ở Việt Nam hiện nay

Bài viết khái quát về vấn đề bảo đảm quyền con người thông qua hoạt động kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật và phân tích vai trò của hoạt động kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật trong việc bảo đảm quyền con người ở nước ta hiện nay.

Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là quan điểm được Đảng ta nêu lần đầu tại Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII, tiếp tục được khẳng định tại các kỳ Đại hội tiếp theo và được thể chế hóa tại Hiến pháp năm 2013. Đến Đại hội lần thứ XIII của Đảng, một trong những định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021 - 2030 được Đảng ta khẳng định đó là: “Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, vì nhân dân phục vụ và vì sự phát triển của đất nước”[1]. Quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền đặt ra những thách thức và đòi hỏi mới cho hệ thống pháp luật Việt Nam. Bởi vì, trong mô hình Nhà nước pháp quyền, vai trò của pháp luật được đề cao, như là phương tiện bảo vệ, bảo đảm quyền và tự do cơ bản của cá nhân, hạn chế sự tùy tiện, lạm quyền của các cơ quan nhà nước. Nói đúng hơn, bảo vệ các quyền và tự do cơ bản của con người là nội hàm của Nhà nước pháp quyền[2].

Tuy nhiên, trong thực tiễn xây dựng và ban hành pháp luật ở nước ta, với hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) nhiều tầng nấc, do nhiều cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ban hành[3], số lượng văn bản được ban hành hàng năm rất lớn thì bên cạnh những văn bản hợp hiến, hợp pháp còn tồn tại một tỷ lệ không nhỏ các văn bản chưa bảo đảm yêu cầu này, trong số đó có những quy định ảnh hưởng, xâm phạm quyền con người, quyền cơ bản của công dân cụ thể như: Quy định mỗi người dân cư trú trong 04 quận nội thành Hà Nội chỉ được sở hữu một chiếc xe gắn máy[4] hay quy định khi tổ chức đám cưới chỉ được mời người thân thiết, không tổ chức tiệc cưới nhiều lần, không mời tiệc cưới trong giờ làm việc[5]... Những vi phạm này được phát hiện sớm và xử lý thông qua hoạt động kiểm tra VBQPPL, nhờ đó, các quyền con người, quyền công dân được bảo đảm. Xem xét thực tế này có thể thấy được vai trò của hoạt động kiểm tra VBQPPL trong việc bảo đảm quyền con người ở nước ta hiện nay.

1. Khái quát về bảo đảm quyền con người thông qua hoạt động kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật

Theo khoản 4 Điều 2 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (Nghị định số 34/2016/NĐ-CP), kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật là việc xem xét, đánh giá, kết luận về tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống nhất của văn bản quy phạm pháp luật được kiểm tra và xử lý văn bản trái pháp luật.

Hoạt động kiểm tra VBQPPL hiện nay được thực hiện theo quy định tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2020 (Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật) và được quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành tại Nghị định số 34/2016/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Nghị định số 154/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020 của Chính phủ)[6].

Theo Đại từ điển Tiếng Việt, “bảo đảm là làm cho có được điều gì”[7]. Như vậy, bảo đảm quyền con người là làm cho có được quyền con người; bảo đảm quyền con người thông qua hoạt động kiểm tra VBQPPL là làm cho có được quyền con người thông qua hoạt động kiểm tra VBQPPL.

Từ hai khái niệm chung nêu trên có thể thấy, bảo đảm quyền con người thông qua hoạt động kiểm tra VBQPPL là quá trình phát hiện và xử lý những nội dung quy định trong VBQPPL trái Hiến pháp, pháp luật, vi phạm hoặc cản trở việc thực hiện quyền con người; phát hiện và xử lý những quy định hạn chế quyền con người, vi phạm nguyên tắc hạn chế quyền con người đã được Hiến pháp quy định nhằm bảo đảm, tôn trọng, bảo vệ, thúc đẩy thực thi các quyền con người đã được Hiến pháp và pháp luật ghi nhận. Mặt khác, bảo đảm quyền con người thông qua hoạt động kiểm tra VBQPPL còn là sự vận hành quy trình kiểm tra VBQPPL nhằm mục đích ghi nhận về mặt pháp lý các quyền con người và bảo đảm tôn trọng, bảo vệ, thực thi các quyền đố trong quá trình thực hiện hoạt động kiểm tra VBQPPL. Đây được coi là một trong các cách thức và con đường hiệu quả nhằm bảo đảm quyền con người.

2. Hoạt động kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật với vai trò bảo đảm quyền con người

Phân tích khái niệm nêu trên, đồng thời xem xét thực tiễn kiểm tra VBQPPL trong thời gian qua có thể thấy, vai trò của hoạt động kiểm tra VBQPPL trong việc bảo đảm quyền con người thể hiện ở các khía cạnh sau:

Thứ nhất, kiểm tra VBQPPL là cơ sở khẳng định và bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp của các quyền con người mà pháp luật đã ghi nhận.

Hoạt động kiểm tra VBQPPL giúp xác định tính chính xác và đầy đủ của các quyền con người đã được pháp luật ghi nhận; trường hợp phát hiện nội dung trái pháp luật, xâm phạm quyền con người, cơ quan có thẩm quyền kiểm tra văn bản có trách nhiệm thực hiện việc kết luận nội dung trái pháp luật, xâm phạm quyền con người và yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý nội dung trái pháp luật đó. Thông qua hoạt động kiểm tra VBQPPL, hệ thống pháp luật bảo đảm tính thống nhất và các quyền con người được ghi nhận đầy đủ.

Thực tiễn kiểm tra VBQPPL cho thấy, trong những năm gần đây, trung bình hàng năm, các cơ quan có thẩm quyền kiểm tra VBQPPL trên cả nước đã kiểm tra khoảng 13.000 VBQPPL, phát hiện và kiến nghị xử lý đối với khoảng 300 VBQPPL sai nội dung, thẩm quyền[8], trong số đó, có những văn bản có nội dung xâm phạm quyền con người đã được phát hiện và kiến nghị xử lý; đồng thời cũng khẳng định tính hợp hiến, hợp pháp của những quy định còn lại. Có thể nêu một số ví dụ cụ thể về bảo đảm quyền con người mà hoạt động kiểm tra VBQPPL đã thực hiện như sau:

- Quy định trái pháp luật làm hạn chế quyền dân sự: Quyết định số 45/2012/QĐ-UBND ngày 05/11/2012 của Ủy ban nhân dân tỉnh N quy định về dạy thêm, học thêm có thu tiền bao gồm: Điều kiện, hồ sơ, trình tự, thủ tục tổ chức dạy thêm, học thêm; hồ sơ, thủ tục cấp giấy phép tổ chức hoạt động dạy thêm, học thêm...; đồng thời, quy định cụ thể về thời gian tổ chức dạy thêm; quy định này áp dụng đối với các tổ chức và cá nhân thực hiện dạy thêm, học thêm và có các hoạt động liên quan đến dạy thêm, học thêm trên địa bàn tỉnh. Qua xem xét quy định của Quyết định số 45/2012/QĐ-UBND nêu trên thấy rằng, quy định về thời gian, dạy thêm, học thêm nêu trên được áp dụng đối với cả dạy thêm, học thêm trong nhà trường và dạy thêm, học thêm ngoài nhà trường. Tuy nhiên, dạy thêm, học thêm ngoài nhà trường là quan hệ pháp luật dân sự với nguyên tắc cơ bản là sự thỏa thuận giữa các chủ thể. Theo đó, thời gian dạy thêm, học thêm là sự thỏa thuận (quyền) giữa các bên tham gia quan hệ dạy thêm, học thêm, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh không có thẩm quyền can thiệp, hạn chế. Vì vậy, việc Quyết định số 45/2012/QĐ-UBND quy định về thời gian dạy thêm, học thêm (bao gồm cả thời gian dạy thêm, học thêm đối với dạy thêm, học thêm ngoài nhà trường) không phù hợp với quy định của pháp luật về thẩm quyền, hạn chế quyền tự do thỏa thuận trong quan hệ pháp luật dân sự của các bên.

- Quy định trái pháp luật dẫn tới chưa bảo đảm, bảo vệ, cản trở việc thực hiện quyền: Công văn số 8865/UBND-QLĐĐ1 ngày 28/11/2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh QN có nội dung: “Tạm dừng việc chuyển mục đích sử dụng các loại đất trong nhóm đất nông nghiệp (đặc biệt là các loại đất rừng, đất nông nghiệp đang canh tác, đất nuôi trồng thủy sản) sang đất ở đối với hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn cho đến khi quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch chung xây dựng khu kinh tế VĐ theo định hướng là đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt”.

Căn cứ Điều 57 Luật Đất đai năm 2013, “việc chuyển mục đích sử dụng các loại đất trong nhóm đất nông nghiệp sang đất ở” thuộc trường hợp phải được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Theo đó, Điều 52 Luật Đất đai năm 2013 quy định, căn cứ vào kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và nhu cầu sử dụng đất thể hiện trong đơn xin chuyển mục đích sử dụng đất, cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét và cho phép chuyển mục đích sử dụng đất theo trình tự, thủ tục tại Điều 69 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai.

Như vậy, theo quy định pháp luật hiện hành về đất đai, việc chuyển mục đích sử dụng các loại đất trong nhóm đất nông nghiệp sang đất ở là hoạt động hợp pháp, được thực hiện có điều kiện (căn cứ vào kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt). Dự thảo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch chung xây dựng khu kinh tế VĐ theo định hướng là đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt không phải là căn cứ pháp lý (điều kiện) để xem xét, quyết định việc có hay không cho phép hộ gia đình, cá nhân được chuyển mục đích sử dụng đất. Việc tạm dừng chuyển mục đích sử dụng các loại đất như nêu trên tại Công văn số 8865/UBND-QLĐĐ1 là không có cơ sở pháp lý, chưa phù hợp với quy định pháp luật hiện hành, ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là quyền, lợi ích hợp pháp của hộ gia đình, cá nhân.

Nội dung trái pháp luật tại Công văn số 8865/UBND-QLĐĐ1 không trực tiếp hạn chế quyền con người, song vì nội dung trái này mà quyền được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của người dân bị hạn chế. Chính vì vậy, trong trường hợp này, việc phát hiện nội dung trái pháp luật của văn bản đã giúp thúc đẩy thực hiện quyền được cấp giấy chứng nhận sử dụng đất, là một trong những quyền con người, quyền công dân đã được pháp luật ghi nhận.

- Quy định trái pháp luật làm giảm thời gian thực hiện quyền: Trong một công văn của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định về niên hạn của tàu du lịch là 25 năm đối với tàu đóng bằng vật liệu kim loại và 15 năm đối với tàu đóng bằng vật liệu gỗ. Điều này trái với quy định tại Nghị định số 111/2014/NĐ-CP ngày 20/11/2014 của Chính phủ quy định niên hạn sử dụng của phương tiện thủy nội địa và niên hạn sử dụng của phương tiện thủy được phép nhập khẩu (Điều 4, Điều 13). Theo đó, địa phương này đã quy định niên hạn sử dụng các loại tàu ngắn hơn niên hạn sử dụng theo quy định của Chính phủ và Bộ Giao thông vận tải; hạn chế quyền sử dụng tài sản của chủ tàu (cụ thể là làm ngắn đi thời gian sử dụng tàu của chủ tàu), làm hạn chế những cơ hội kinh doanh trong thời gian mà theo quy định của Chính phủ, Bộ Giao thông vận tải thì chủ thể này vẫn được thực hiện đầy đủ các quyền đối với tài sản của mình.

Thứ hai, kiểm tra VBQPPL là công cụ phát hiện các quy định vi phạm nguyên tắc hạn chế quyền con người đã được Hiến pháp ghi nhận, phát hiện những quy định hạn chế quyền đã được Hiến pháp, luật quy định.

Một trong những nguyên tắc của việc hiện thực hóa các quyền con người là quyền của người này được bảo đảm thực hiện bởi nghĩa vụ của người khác. Vì vậy, trong nhiều trường hợp, việc hạn chế quyền con người là cần thiết, tuy nhiên, việc hạn chế đó phải đúng nguyên tắc. Hiến pháp năm 2013 đã xác định rất rõ nguyên tắc hạn chế quyền cả về thẩm quyền và nội dung (tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013). Theo đó, việc hạn chế quyền chỉ được thực hiện bởi Quốc hội và thuộc một trong 04 trường hợp cần thiết: (i) Vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia; (ii) Vì trật tự, an toàn xã hội; (iii) Vì đạo đức xã hội; (iv) Vì sức khỏe cộng đồng. Theo đó, quá trình kiểm tra VBQPPL, cơ quan có thẩm quyền kiểm tra căn cứ vào nguyên tắc này để phát hiện, kết luận và kiến nghị xử lý đối với những quy định dưới luật vi phạm nguyên tắc này, bảo đảm việc tôn trọng và thực thi quyền con người.

Thực tế kiểm tra VBQPPL cho thấy, các quy định vi phạm nguyên tắc hạn chế quyền không phải là hãn hữu. Chẳng hạn: Quyết định số 16/2007/QĐ-BGTVT và Quyết định số 17/2007/QĐ-BGTVT ngày 26/3/2007 của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải ban hành “Quy định vận tải khách bằng ô tô theo tuyến cố định, hợp đồng và vận tải khách du lịch bằng ô tô” và “Quy định về vận tải khách bằng taxi” hướng dẫn thực hiện Nghị định số 110/2006/NĐ-CP ngày 28/9/2006 của Chính phủ về điều kiện kinh doanh vận tải bằng ô tô (Nghị định số 110/2006/NĐ-CP) đã quy định thêm một điều kiện mới cho các hợp tác xã kinh doanh vận tải là “chỉ được sử dụng xe của hợp tác xã hoặc thuê của một tổ chức cho thuê khác”. Điều kiện này hoàn toàn mới so với các điều kiện đã được quy định trong Luật Giao thông đường bộ và Nghị định số 110/2006/NĐ-CP. Quy định này buộc các thành viên hợp tác xã phải chuyển quyền sở hữu xe của mình cho hợp tác xã thì mới đủ điều kiện kinh doanh. Như vậy, quy định của Bộ Giao thông vận tải đã đặt ra nội dung hạn chế mới về quyền kinh doanh vận tải, trong khi Luật Giao thông đường bộ không quy định về điều kiện này, điều đó chưa phù hợp với quy định của Hiến pháp về thẩm quyền quy định hạn chế quyền tự do kinh doanh của công dân.

Quá trình kiểm tra văn bản cũng phát hiện và yêu cầu xử lý quy định hạn chế quyền đã được Hiến pháp ghi nhận, như: Nhằm hạn chế lưu thông các phương tiện giao thông cơ giới, giảm ùn tắc giao thông trong các quận nội thành, Ủy ban nhân dân Thành phố HN đã ban hành Quyết định số 98/2003/QĐ-UB ngày 14/8/2003 quy định tạm dừng đăng ký phương tiện mô tô, xe máy trên địa bàn 04 quận: BĐ, HK, HBT, ĐĐ. Đồng thời với văn bản này, Bộ Công an cũng ban hành Thông tư số 02/2003/TT-BCA ngày 13/11/2003 hướng dẫn việc tổ chức cấp đăng ký, biển số phương tiện giao thông cơ giới, trong đó quy định mỗi người chỉ được đăng ký 01 xe mô tô hoặc xe gắn máy. Thực chất, các quy định này đã hạn chế quyền sở hữu của công dân được ghi nhận tại Điều 58 Hiến pháp năm 1992. Theo đó, công dân có quyền sở hữu về tài sản và không hạn chế số lượng.

Thứ ba, kiểm tra VBQPPL góp phần bảo đảm thực thi các quyền con người thống nhất trên phạm vi toàn lãnh thổ.

Nhà nước pháp quyền với yêu cầu cao về chất lượng nội dung của hệ thống pháp luật[9], bao gồm các tiêu chuẩn về mặt chất lượng, đó không chỉ là hệ thống pháp luật đầy đủ, đồng bộ mà còn đáp ứng các yêu cầu về tính ổn định; tính chuẩn mực (tức là tính quy phạm của pháp luật); tính nhất quán, tính thống nhất của pháp luật; tính hệ thống; tính không hồi tố và tính minh bạch[10]. Trong đó, yêu cầu về tính nhất quán, tính thống nhất không chỉ thể hiện ở giá trị nội dung quy định mà còn đòi hỏi pháp luật phải được thực thi thống nhất trên toàn lãnh thổ, trong mọi điều kiện kinh tế, văn hóa. Các quy định về quyền con người cũng không phải là ngoại lệ. Thông qua hoạt động kiểm tra VBQPPL, các quy định không thống nhất được phát hiện, xử lý theo quy định, từ đó bảo đảm các quy định là thống nhất và bảo vệ các quyền con người cơ bản, không tạo ra sự phân biệt đối xử hay bất bình đẳng tại các vùng miền.

Thứ tư, kiểm tra VBQPPL góp phần phát huy dân chủ, tăng cường quyền con người trong giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước.

Hoạt động kiểm tra VBQPPL thực chất không chỉ nhằm bảo đảm các quyền con người được quy định đầy đủ, chính xác, thống nhất mà đó cũng là một trong những cách thức và phương diện thể hiện quyền con người. Kiểm tra VBQPPL nói chung và các VBQPPL chứa đựng quyền con người nói riêng là sự thể hiện quyền tự do, dân chủ của công dân trong việc kiểm tra tính hợp hiến, hợp pháp và hợp lý của các VBQPPL, một cách để thể hiện vai trò của công dân trong việc kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, một trong những yếu tố cấu thành nên cơ chế bảo đảm quyền con người. Thông qua việc kiểm tra này, mỗi cơ quan nhà nước sẽ tự ý thức được vai trò và trách nhiệm của mình, từ đó giúp nâng cao hiệu quả làm việc mà cụ thể và trước hết là nâng cao chất lượng mỗi VBQPPL mà mình có thẩm quyền soạn thảo, tham mưu, ban hành; đồng thời, cá nhân cũng biết rằng bộ máy này đang làm việc có hiệu quả vì mình và những quyền cơ bản của mình.

Thực hiện quy định tại Nghị định số 34/2016/NĐ-CP và thực tế kiểm tra VBQPPL thời gian qua cho thấy, các chủ thể có thẩm quyền kiểm tra văn bản đã nghiêm túc thực hiện thẩm quyền được giao theo đúng quy trình đã được pháp luật quy định, bảo đảm tính minh bạch và tôn trọng trách nhiệm giải trình khi cho phép cơ quan/người có văn bản được kiểm tra được quyền trình bày ý kiến liên quan đến nội dung văn bản được kiểm tra, giải trình và kiến nghị đến người có thẩm quyền kiểm tra VBQPPL sau khi có kết luận về văn bản trái pháp luật[11]. Việc áp dụng linh hoạt nhiều phương thức kiểm tra của cơ quan có thẩm quyền kiểm tra văn bản, trong đó, huy động sự tham gia của các chuyên gia, các nhà khoa học trong quá trình xem xét nội dung trái pháp luật của văn bản; đồng thời, việc triển khai kiểm tra khi nhận được phản ánh, kiến nghị của người dân, doanh nghiệp về văn bản trái pháp luật[12] đã huy động sự tham gia của công dân trong việc giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, góp phần phát huy dân chủ, thể hiện sự tham gia của các chủ thể hưởng quyền trong quá trình thực hiện việc kiểm tra VBQPPL.

3. Lời kết

Với những vai trò thiết thực trong việc bảo đảm quyền con người, hoạt động kiểm tra VBQPPL thực sự là một công cụ hữu hiệu nhằm ghi nhận, bảo vệ, tôn trọng, thúc đẩy thực thi quyền con người, quyền công dân trong thực tiễn. Trong công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền, với yêu cầu cao về bảo đảm quyền con người, quyền cơ bản của công dân, cần nghiên cứu thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kiểm tra VBQPPL để thông qua đó, nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền con người. Trong đó, giải pháp quan trọng và trước hết từ phía cơ quan nhà nước và người dân là cần nhận thức đầy đủ và đúng đắn về vị trí, vai trò của hoạt động kiểm tra VBQPPL trong việc bảo đảm quyền con người. Từ đó, có đầu tư thích đáng về nhân tài, vật lực, cơ chế, chính sách thích hợp cho việc triển khai hoạt động này trên thực tiễn. Đây là cơ sở, nền tảng nhằm tiếp tục phát huy những kết quả đã đạt được của hoạt động kiểm tra VBQPPL thời gian qua; đồng thời, đổi mới hoạt động này nhằm đóng góp vào sự nghiệp chung theo mục tiêu mà Đảng ta đã đề ra.

Nguyễn Thị Thu Hòe

Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, Bộ Tư pháp

[1]. Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng - Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị Quốc gia sự thật, Hà Nội, 2021, tập 1, tr. 118.

[2]. Xem: Đào Trí Úc, Giáo trình nhà nước pháp quyền, Nxb. Đại học quốc gia Hà Nội, 2015, tr. 63.

[3]. Theo quy định tại Điều 4 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật hiện hành, hệ thống VBQPPL được ban hành ở cả trung ương và địa phương, gồm 15 cấp giá trị hiệu lực, trong đó, ở địa phương thì cả 03 cấp chính quyền địa phương đều được ban hành VBQPPL.

[4]. Tại Thông tư số 02/2003/TT-BCA ngày 13/11/2003 của Bộ Công an hướng dẫn việc tổ chức cấp đăng ký, biển số phương tiện giao thông cơ giới; Quyết định số 98/2003/QĐ-UB ngày 14/8/2003 của Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội quy định tạm dừng đăng ký phương tiện mô tô, xe máy trên địa bàn 04 quận: Ba Đình, Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng, Đống Đa.

[5]. Tại Thông tư số 04/2011/TT-BVHTTDL ngày 21/01/2011 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định về việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội và trong văn bản của một số địa phương như: Hà Nội, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc…

[6]. Hoạt động kiểm tra VBQPPL được ghi nhận lần đầu trong hệ thống pháp luật là trong Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001). Sau đó, trước khi được quy định trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật như hiện nay, hoạt động kiểm tra VBQPPL đã được quy định trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996, Luật Tổ chức Chính phủ năm 2001, Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2004, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008; được tiếp tục ghi nhận tại Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành.

[7]. Nguyễn Như Ý (Chủ biên), Bộ Giáo dục và Đào tạo, Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam, Nxb. Văn hóa - Thông tin, Thành phố Hồ Chí Minh, 1999, tr. 582.

[8]. Nguồn: Các báo cáo của Bộ Tư pháp: (i) Báo cáo số 100/BC-BTP ngày 24/4/2018 về công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật năm 2017 và phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp năm 2018; (ii) Báo cáo số 126/BC-BTP ngày 06/5/2019 về công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hoá văn bản quy phạm pháp luật năm 2018 và phương hướng, giải pháp năm 2019; (iii) Báo cáo số 98/BC-BTP ngày 20/4/2020 về công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật năm 2019 và phương hướng, giải pháp năm 2020; (iv) Báo cáo số 78/BC-BTP ngày 10/5/2021 về công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hoá văn bản quy phạm pháp luật năm 2020 và phương hướng, giải pháp năm 2021; (v) Báo cáo số 112/BC-BTP ngày 25/5/2022 về công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hoá văn bản quy phạm pháp luật năm 2021 và phương hướng, giải pháp năm 2022.

[9]. Xem: Jacques Chevallier, L’Etat de droit, 5e éd. Nxb. Montchrestien, 2010, tr. 18, dẫn bởi Nguyễn Văn Quân, Chất lượng của pháp luật trong Nhà nước pháp quyền, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 5/2018, tr. 3.

[10]. PGS.TS. Hà Hùng Cường, “Hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 18 (139+140) tháng 01/2009.

[11]. Điều 132 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP.

[12]. Điều 126 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: