Thứ tư 17/06/2026 14:22
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Vai trò của luật sư trong hoạt động xét xử hình sự ở nước ta hiện nay

Chiến lược cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 49/ NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 có ý nghĩa vô cùng quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của cơ quan tư pháp nói chung và hệ thống Tòa án nói riêng. Để Tòa án thực hiện xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật thì hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng từ giai đoạn khởi tố vụ án, khởi tố bị can, điều, xét xử là một chuỗi mắt xích có mối liên hệ mật thiết với nhau.

Trong đó sự tham gia hoạt động của luật sư không những góp phần bảo vệ công lý mà còn góp phần xây dựng xã hội công bằng, dân chủ. Hay nói cách khác, bằng hoạt động tranh tụng của luật sư sẽ góp phần tích cực trong việc bảo vệ nền pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân được trung thực, khách quan, đúng pháp luật. Điều 222 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2003 quy định: “Khi nghị án chỉ được căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa và người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa”. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 là nền tảng cho luật sư trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ tố tụng của mình, bảo đảm quyền bào chữa của các đương sự trong vụ án. Vì vậy, việc mở rộng sự tham gia của luật sư trong tố tụng hình sự cho phép luật sư tham gia tố tụng từ khi có quyết định tạm giữ là cần thiết nhằm tăng cường trách nhiệm của cơ quan, người tiến hành tố tụng trong việc bảo đảm quyền tham gia tố tụng của luật sư.

1. Một số bất cập ảnh hưởng đến vai trò luật sư trong tố tụng hình sự hiện nay

Mặc dù pháp luật tố tụng hình sự quy định việc tranh tụng của luật sư trong xét xử vụ án hình sự là nhằm làm sáng tỏ những vấn đề trong quá trình điều tra, xét xử nhưng trên thực tế quá trình tác nghiệp của luật sư trong các vụ án hình sự còn gặp một số bất cập làm ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng hoạt động xét các vụ án hình sự ở nước ta đó là:

Thứ nhất: Mặc dù luật quy định luật sư có quyền tham gia vào hoạt động tư pháp từ khi có quyết định khởi tố vụ án nhưng thực tiễn hiện nay, luật sư rất ít khi được tham gia chứng kiến quá trình lấy lời khai của bị can dẫn đến nhiều vụ án khi xét xử bị cáo thường khai với Hội đồng xét xử là do bị ép cung, nhục hình.

Thứ hai: Về việc cấp giấy chứng nhận người bào chữa. Hiện tại luật quy định trong thời hạn 3 ngày người bào chữa sẽ được cấp giấy chứng nhận bào chữa, tuy nhiên, quy định này chỉ đúng với thực tiễn các vụ án được chỉ định theo yêu cầu của cơ quan điều tra.

Thứ ba: Thực tiễn khi luật sư được cấp giấy chứng nhận là người bào chữa thì một khó khăn lớn đó là tiếp cận bị can. Khi luật sư muốn tiếp cận điều tra viên thường nhận được những câu trả lời như: Án phức tạp nên chưa gặp được bị can hoặc điều tra viên đang đi công tác chưa gặp được bị can. Quá trình lấy lời khai của bị can ở những giai đoạn quan trọng thường không có sự chứng kiến của luật sư vì cơ quan điều tra không có nghĩa vụ thông báo cho luật sư biết thời gian lấy lời khai của bị can. Do vậy, có những vụ án sau khi gần kết thúc quá trình lấy lời khai của bị can thì luật sư mới tiếp cận được thân chủ của họ.

Thứ tư: Trong quá trình luật sư được cấp chứng nhận là người bào chữa, giấy chứng nhận chỉ có giá trị đến khi xét xử sơ thẩm kết thúc. Vậy sau khi giai đoạn xét xử sơ thẩm kết thúc, vụ án hình sự sẽ có hiệu lực sau 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo muốn kháng cáo nhưng giấy chứng nhận bào chữa của luật sư đã hết hiệu lực. Điều này đã gây ra không ít khó khăn cho bị cáo khi muốn yêu cầu luật sư tiếp tục bào chữa cho mình.

Thứ năm: Trong quá trình luật sư muốn gặp bị can trong trại tạm giam thì thủ tục hành chính tư pháp còn nhiều bất cập, phải có sự phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân thì trại tạm giam, tạm giữ mới có quyền cho luật sư gặp bị can, đây là mầm mống của cơ chế xin cho trong hành chính tư pháp hiện nay.

Thứ sáu: Pháp luật cho phép luật sư được tiếp cận tài liệu chứng cứ có trong vụ án dưới hình thức sao chụp hồ sơ vụ án, tuy nhiên, trong thực tiễn một số vụ án luật sư rất khó khăn để tiếp cận hồ sơ và thường được cơ quan tiến hành tố tụng trả lời do hồ sơ chưa được hoàn thiện, vụ án có tính phức tạp, Viện kiểm sát chưa phúc cung.

Thứ bảy: Vấn đề chứng cứ trong tranh tụng. Hiện nay, tất cả những chứng cứ mà Viện kiểm sát giữ quyền công tố đều do cơ quan điều tra cung cấp để làm cơ sở buộc tội cho bị cáo. Tòa án cũng chỉ dựa vào các bút lục do cơ quan điều tra cung cấp để xét xử - “buộc tội”. Luật sư cũng chỉ có thể dựa vào những chứng cứ do cơ quan điều tra kết luận để bảo vệ quyền lợi cho thân chủ của mình - “gỡ tội”. Do vậy, có thể thấy, chứng cứ cho quá trình “buộc tội” và “gỡ tội” cho bị cáo còn hạn chế, chủ yếu là nguồn chứng cứ của quan điều tra. Như vậy, các chứng cứ này chưa thể phản ánh hết tính khách quan của vụ án. Trong thực tiễn xét xử, nếu bị cáo khai giống với bút lục có trong hồ sơ vụ án thì Hội đồng xét xử đánh giá là bị cáo đã thành khẩn khai báo, sẽ là cơ sở để Hội đồng xét xử cân nhắc khi nghị án. Còn nếu bị cáo khai khác so với bút lục có trong vụ án thì thường sẽ bị Hội đồng xét xử nhận định không ăn năn, hối cải. Đây là điều bất lợi cho bị cáo khi định khung và định hình.

Thư tám: Cách bố trí phiên tòa hiện nay chưa thật sự khoa học. Luật sư, Hội đồng xét xử đều là những người tham gia tố tụng nhưng quá trình bố trí chỗ ngồi cho luật sư hầu hết tại các phiên tòa đều thiếu khoa học. Cụ thể là khi trình bày nội dung bào chữa của mình, luật sư phải nói rất lớn vì Tòa án thường không trang bị micro cho luật sư. Điều này làm cho nhiều luật sư trình bày quan điểm của mình rất khó khăn. Luật sư thường được sắp ở vị trí đứng sau bị cáo, cho nên khi luật sư hỏi bị cáo thì bị cáo thường quay mặt ra sau về phía luật sư để trả lời khiến cho quang cảnh phiên tòa không thật sự hợp lý.

2. Một vài kiến nghị

Những tồn tại và hạn chế nêu trên sẽ làm ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng tranh tụng trong hoạt động xét xử các vụ án hình sự hiện nay. Dưới đây, chúng tôi đề xuất một vài kiến nghị như sau:

Một là, cơ quan điều tra phải đánh giá đúng mức vai trò của luật sư cũng như sự hiện diện của luật sư trong quá trình lấy lời khai của bị can. Quá trình lấy lời khai của bị can phải có sự chứng kiến của luật sư thì bản bút lục đó mới có giá trị pháp lý, cho dù bị can có thể nhờ luật sư, hoặc không có điều kiện để nhờ luật sư thì Nhà nước cần phải có cơ chế để đoàn luật sư của tỉnh phải cử luật sư tham gia lấy lời cung của bị can. Điều này sẽ hạn chế thấp nhất sự vị phạm trong tố tụng.

Hai là, pháp luật cần đơn giản thủ tục hành chính tư pháp về việc cấp giấy chứng nhận người bào chữa. Khi luật sư được cấp giấy chứng nhận là người bào chữa thì cơ quan điều tra cũng như trại tạm giam cần phải tạo điều kiện tốt nhất cho luật sư tiếp cận bị can. Pháp luật cần quy định rõ các chế tài cụ thể đối với việc làm trở ngại, gây khó khăn cho luật sư khi cấp giấy chứng nhận bào chữa cũng như trong việc chậm trễ cấp giấy chứng nhận bào chữa; quy định cụ thể quyền của luật sư khi gặp bị can trong giai đoạn điều tra; thủ tục và điều kiện gặp bị can trong trại tạm giam.

Ba là, pháp luật cần quy định mở rộng thêm quyền thu thập chứng cứ cho luật sư; tạo cơ chế cho quá trình đào tạo, bồi dưỡng, phát triển đội ngũ luật sư trong cả nước đủ về số lượng, mạnh về chất lượng, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức nghề nghiệp trong sáng.

Bốn là, để đảm bảo hoạt động tranh tụng tại phiên tòa đạt hiệu quả cao nhất thì ngoài việc đưa ra các chứng cứ của các bên trong hoạt động tranh tụng thì pháp luật cần cụ thể hóa vị trí, vai trò của luật sự trong tố tụng hình sự, cần sắp xếp lại vị trí chỗ ngồi của luật sư, tạo điều kiện thoải mái nhất cho luật sư thực hiện tranh tụng tại phiên tòa.

Năm là, pháp luật tố tụng hình sự cần phân định rõ chức năng của Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân, có như vậy mới đảm bảo tranh tụng giữa Viện kiểm sát và luật sư. Tòa án nhân dân chỉ thực hiện vai trò là phán xét dựa trên kết quả tranh tụng công khai giữa luật sư và kiểm sát viên.

Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là mục tiêu của Đảng và Nhà nước ta. Việc hoàn thiện các văn bản pháp lý liên quan đến hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và tranh tụng là hết sức cần thiết. Đây là tiền đề quan trọng cho việc nâng cao chất lượng hoạt động xét xử án hình sự ở nước ta, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.

Lê Văn Quyến

Trường Chính trị tỉnh Bình Phước

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Quy định mới tại Nghị quyết số 254/2025/QH15 và Nghị định số 49/2026/NĐ-CP với cơ chế đồng thuận trên 75% được kỳ vọng khơi thông hàng nghìn dự án, sẽ tháo gỡ một trong những vướng mắc lớn nhất trong quá trình triển khai các dự án có sử dụng đất.
Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Ngày 10/12/2025, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, Kỳ họp thứ 10 chính thức thông qua Luật số 132/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026).
Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 thay thế Pháp lệnh Dân số số 06/2004/PL-UBTVQH11 (đã được sửa đổi, bổ sung theo Pháp lệnh số 07/2025/UBTVQH15). Một trong những thay đổi căn bản của Luật Dân số năm 2025 là chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển. Những nội dung liên quan đến dân số và phát triển đã được thể hiện trong việc hướng tới giải quyết đồng bộ các vấn đề về quy mô dân số, cơ cấu dân số, thích ứng với già hóa dân số, nâng cao chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của từng địa phương, góp phần bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước.
Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.

Theo dõi chúng tôi trên: