Thứ ba 10/02/2026 19:29
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Vai trò của luật sư trong hoạt động xét xử hình sự ở nước ta hiện nay

Chiến lược cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 49/ NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 có ý nghĩa vô cùng quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của cơ quan tư pháp nói chung và hệ thống Tòa án nói riêng. Để Tòa án thực hiện xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật thì hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng từ giai đoạn khởi tố vụ án, khởi tố bị can, điều, xét xử là một chuỗi mắt xích có mối liên hệ mật thiết với nhau.

Trong đó sự tham gia hoạt động của luật sư không những góp phần bảo vệ công lý mà còn góp phần xây dựng xã hội công bằng, dân chủ. Hay nói cách khác, bằng hoạt động tranh tụng của luật sư sẽ góp phần tích cực trong việc bảo vệ nền pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân được trung thực, khách quan, đúng pháp luật. Điều 222 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2003 quy định: “Khi nghị án chỉ được căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa và người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa”. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 là nền tảng cho luật sư trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ tố tụng của mình, bảo đảm quyền bào chữa của các đương sự trong vụ án. Vì vậy, việc mở rộng sự tham gia của luật sư trong tố tụng hình sự cho phép luật sư tham gia tố tụng từ khi có quyết định tạm giữ là cần thiết nhằm tăng cường trách nhiệm của cơ quan, người tiến hành tố tụng trong việc bảo đảm quyền tham gia tố tụng của luật sư.

1. Một số bất cập ảnh hưởng đến vai trò luật sư trong tố tụng hình sự hiện nay

Mặc dù pháp luật tố tụng hình sự quy định việc tranh tụng của luật sư trong xét xử vụ án hình sự là nhằm làm sáng tỏ những vấn đề trong quá trình điều tra, xét xử nhưng trên thực tế quá trình tác nghiệp của luật sư trong các vụ án hình sự còn gặp một số bất cập làm ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng hoạt động xét các vụ án hình sự ở nước ta đó là:

Thứ nhất: Mặc dù luật quy định luật sư có quyền tham gia vào hoạt động tư pháp từ khi có quyết định khởi tố vụ án nhưng thực tiễn hiện nay, luật sư rất ít khi được tham gia chứng kiến quá trình lấy lời khai của bị can dẫn đến nhiều vụ án khi xét xử bị cáo thường khai với Hội đồng xét xử là do bị ép cung, nhục hình.

Thứ hai: Về việc cấp giấy chứng nhận người bào chữa. Hiện tại luật quy định trong thời hạn 3 ngày người bào chữa sẽ được cấp giấy chứng nhận bào chữa, tuy nhiên, quy định này chỉ đúng với thực tiễn các vụ án được chỉ định theo yêu cầu của cơ quan điều tra.

Thứ ba: Thực tiễn khi luật sư được cấp giấy chứng nhận là người bào chữa thì một khó khăn lớn đó là tiếp cận bị can. Khi luật sư muốn tiếp cận điều tra viên thường nhận được những câu trả lời như: Án phức tạp nên chưa gặp được bị can hoặc điều tra viên đang đi công tác chưa gặp được bị can. Quá trình lấy lời khai của bị can ở những giai đoạn quan trọng thường không có sự chứng kiến của luật sư vì cơ quan điều tra không có nghĩa vụ thông báo cho luật sư biết thời gian lấy lời khai của bị can. Do vậy, có những vụ án sau khi gần kết thúc quá trình lấy lời khai của bị can thì luật sư mới tiếp cận được thân chủ của họ.

Thứ tư: Trong quá trình luật sư được cấp chứng nhận là người bào chữa, giấy chứng nhận chỉ có giá trị đến khi xét xử sơ thẩm kết thúc. Vậy sau khi giai đoạn xét xử sơ thẩm kết thúc, vụ án hình sự sẽ có hiệu lực sau 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo muốn kháng cáo nhưng giấy chứng nhận bào chữa của luật sư đã hết hiệu lực. Điều này đã gây ra không ít khó khăn cho bị cáo khi muốn yêu cầu luật sư tiếp tục bào chữa cho mình.

Thứ năm: Trong quá trình luật sư muốn gặp bị can trong trại tạm giam thì thủ tục hành chính tư pháp còn nhiều bất cập, phải có sự phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân thì trại tạm giam, tạm giữ mới có quyền cho luật sư gặp bị can, đây là mầm mống của cơ chế xin cho trong hành chính tư pháp hiện nay.

Thứ sáu: Pháp luật cho phép luật sư được tiếp cận tài liệu chứng cứ có trong vụ án dưới hình thức sao chụp hồ sơ vụ án, tuy nhiên, trong thực tiễn một số vụ án luật sư rất khó khăn để tiếp cận hồ sơ và thường được cơ quan tiến hành tố tụng trả lời do hồ sơ chưa được hoàn thiện, vụ án có tính phức tạp, Viện kiểm sát chưa phúc cung.

Thứ bảy: Vấn đề chứng cứ trong tranh tụng. Hiện nay, tất cả những chứng cứ mà Viện kiểm sát giữ quyền công tố đều do cơ quan điều tra cung cấp để làm cơ sở buộc tội cho bị cáo. Tòa án cũng chỉ dựa vào các bút lục do cơ quan điều tra cung cấp để xét xử - “buộc tội”. Luật sư cũng chỉ có thể dựa vào những chứng cứ do cơ quan điều tra kết luận để bảo vệ quyền lợi cho thân chủ của mình - “gỡ tội”. Do vậy, có thể thấy, chứng cứ cho quá trình “buộc tội” và “gỡ tội” cho bị cáo còn hạn chế, chủ yếu là nguồn chứng cứ của quan điều tra. Như vậy, các chứng cứ này chưa thể phản ánh hết tính khách quan của vụ án. Trong thực tiễn xét xử, nếu bị cáo khai giống với bút lục có trong hồ sơ vụ án thì Hội đồng xét xử đánh giá là bị cáo đã thành khẩn khai báo, sẽ là cơ sở để Hội đồng xét xử cân nhắc khi nghị án. Còn nếu bị cáo khai khác so với bút lục có trong vụ án thì thường sẽ bị Hội đồng xét xử nhận định không ăn năn, hối cải. Đây là điều bất lợi cho bị cáo khi định khung và định hình.

Thư tám: Cách bố trí phiên tòa hiện nay chưa thật sự khoa học. Luật sư, Hội đồng xét xử đều là những người tham gia tố tụng nhưng quá trình bố trí chỗ ngồi cho luật sư hầu hết tại các phiên tòa đều thiếu khoa học. Cụ thể là khi trình bày nội dung bào chữa của mình, luật sư phải nói rất lớn vì Tòa án thường không trang bị micro cho luật sư. Điều này làm cho nhiều luật sư trình bày quan điểm của mình rất khó khăn. Luật sư thường được sắp ở vị trí đứng sau bị cáo, cho nên khi luật sư hỏi bị cáo thì bị cáo thường quay mặt ra sau về phía luật sư để trả lời khiến cho quang cảnh phiên tòa không thật sự hợp lý.

2. Một vài kiến nghị

Những tồn tại và hạn chế nêu trên sẽ làm ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng tranh tụng trong hoạt động xét xử các vụ án hình sự hiện nay. Dưới đây, chúng tôi đề xuất một vài kiến nghị như sau:

Một là, cơ quan điều tra phải đánh giá đúng mức vai trò của luật sư cũng như sự hiện diện của luật sư trong quá trình lấy lời khai của bị can. Quá trình lấy lời khai của bị can phải có sự chứng kiến của luật sư thì bản bút lục đó mới có giá trị pháp lý, cho dù bị can có thể nhờ luật sư, hoặc không có điều kiện để nhờ luật sư thì Nhà nước cần phải có cơ chế để đoàn luật sư của tỉnh phải cử luật sư tham gia lấy lời cung của bị can. Điều này sẽ hạn chế thấp nhất sự vị phạm trong tố tụng.

Hai là, pháp luật cần đơn giản thủ tục hành chính tư pháp về việc cấp giấy chứng nhận người bào chữa. Khi luật sư được cấp giấy chứng nhận là người bào chữa thì cơ quan điều tra cũng như trại tạm giam cần phải tạo điều kiện tốt nhất cho luật sư tiếp cận bị can. Pháp luật cần quy định rõ các chế tài cụ thể đối với việc làm trở ngại, gây khó khăn cho luật sư khi cấp giấy chứng nhận bào chữa cũng như trong việc chậm trễ cấp giấy chứng nhận bào chữa; quy định cụ thể quyền của luật sư khi gặp bị can trong giai đoạn điều tra; thủ tục và điều kiện gặp bị can trong trại tạm giam.

Ba là, pháp luật cần quy định mở rộng thêm quyền thu thập chứng cứ cho luật sư; tạo cơ chế cho quá trình đào tạo, bồi dưỡng, phát triển đội ngũ luật sư trong cả nước đủ về số lượng, mạnh về chất lượng, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức nghề nghiệp trong sáng.

Bốn là, để đảm bảo hoạt động tranh tụng tại phiên tòa đạt hiệu quả cao nhất thì ngoài việc đưa ra các chứng cứ của các bên trong hoạt động tranh tụng thì pháp luật cần cụ thể hóa vị trí, vai trò của luật sự trong tố tụng hình sự, cần sắp xếp lại vị trí chỗ ngồi của luật sư, tạo điều kiện thoải mái nhất cho luật sư thực hiện tranh tụng tại phiên tòa.

Năm là, pháp luật tố tụng hình sự cần phân định rõ chức năng của Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân, có như vậy mới đảm bảo tranh tụng giữa Viện kiểm sát và luật sư. Tòa án nhân dân chỉ thực hiện vai trò là phán xét dựa trên kết quả tranh tụng công khai giữa luật sư và kiểm sát viên.

Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là mục tiêu của Đảng và Nhà nước ta. Việc hoàn thiện các văn bản pháp lý liên quan đến hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và tranh tụng là hết sức cần thiết. Đây là tiền đề quan trọng cho việc nâng cao chất lượng hoạt động xét xử án hình sự ở nước ta, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.

Lê Văn Quyến

Trường Chính trị tỉnh Bình Phước

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Ngày 10/12/2025, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV thông qua Luật Bảo hiểm tiền gửi số 111/2025/QH15, thay thế Luật Bảo hiểm tiền gửi số 06/2012/QH13 với các quy định nhằm tạo hành lang pháp lý đầy đủ, rõ ràng để tổ chức bảo hiểm tiền gửi nâng cao năng lực tài chính và tham gia hiệu quả vào quá trình cơ cấu lại tổ chức tín dụng, qua đó bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền, bảo đảm duy trì sự ổn định của hệ thống tổ chức tín dụng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội theo định hướng tại Chiến lược phát triển bảo hiểm tiền gửi và Chiến lược ngành ngân hàng. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2026.
Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:

Theo dõi chúng tôi trên: