Thứ bảy 02/05/2026 05:03
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Vai trò của việc thực hiện dân chủ ở cấp xã đối với xây dựng nông thôn mới ở nước ta hiện nay

Tóm tắt: Ở nước ta hiện nay, việc vận dụng các nguyên tắc, cơ chế thực hiện dân chủ ở cấp xã trong xây dựng nông thôn mới là vấn đề có ý nghĩa then chốt, có vai trò rất quan trọng. Từ góc nhìn đó, bài viết phân tích vai trò của việc thực hiện dân chủ ở cấp xã đối với xây dựng nông thôn mới trên một số phương diện cụ thể nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn nông thôn.


Abstract: The application of principles, mechanism of democracy realization at village level has an important role in our country at present. From this aspect, the paper analyzes the role of democracy realization for building new countryside on some concrete aspects with a view to promote the economic, cultural, social development and to maintain political security, order, and social safety in rural areas.

Giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông thôn, nông dân luôn là mục tiêu phấn đấu của Đảng và Nhà nước ta, trong đó, điểm nhấn là chương trình xây dựng nông thôn mới. Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước cũng đã ban hành nhiều nghị quyết, văn bản quy phạm pháp luật về xây dựng nông thôn mới. Việc vận dụng các nguyên tắc, cơ chế thực hiện dân chủ ở cấp xã trong xây dựng nông thôn mới có vai trò đặc biệt quan trọng. Thực hiện dân chủ ở cấp xã trong xây dựng nông thôn mới là hoạt động có mục đích, có kế hoạch của các chủ thể nhằm vận dụng những nguyên tắc, quy định của pháp luật về dân chủ ở cấp xã vào thực tiễn hoạt động xây dựng nông thôn mới; qua đó, tăng cường trách nhiệm của chính quyền, cán bộ, công chức cấp xã, cán bộ thôn, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan; phát huy quyền làm chủ của nhân dân nông thôn, thu hút nhân dân tham gia quản lý, kiểm tra, giám sát các hoạt động có liên quan đến xây dựng nông thôn mới; góp phần xây dựng, phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng hiện đại, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân nông thôn một cách bền vững. Vai trò của thực hiện dân chủ trong xây dựng nông thôn mới ở nước ta hiện nay thể hiện trên các phương diện cụ thể sau:

1. Đối với thúc đẩy phát triển hạ tầng kinh tế, văn hóa, xã hội trên địa bàn nông thôn, phát triển sản xuất, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân nông thôn

Thực hiện dân chủ ở cấp xã là nhân tố không thể thiếu trong việc đảm bảo sự ổn định chính trị, thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, giữ vững trật tự, kỷ cương xã hội. Bên cạnh đó, Nhà nước cũng luôn quan tâm, chăm lo xây dựng, phát triển nông thôn, đưa nông thôn từng bước xích lại gần đô thị, cải thiện và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân nông thôn mà biểu hiện cụ thể, thiết thực nhất hiện nay là việc Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020. Đó cũng đồng thời là nhân tố bảo đảm cho xã hội nông thôn phát triển theo hướng dân chủ, hài hòa và bền vững.

Trong những năm qua, việc thực hiện dân chủ ở cấp xã trong xây dựng nông thôn mới đã và đang thực sự trở thành động lực thúc đẩy mạnh mẽ quá trình xây dựng, phát triển hạ tầng kinh tế, văn hóa, xã hội trên địa bàn nông thôn nước ta. Với mục đích khai thác, phát huy trí tuệ, kinh nghiệm, nguồn nhân lực và vật lực của các tầng lớp nhân dân nông thôn phục vụ công cuộc xây dựng nông thôn mới. Tại nhiều địa phương, chính quyền cấp xã, Ban Quản lý thôn đã chủ động công khai cho nhân dân biết các nội dung chương trình xây dựng nông thôn mới; tổ chức cho nhân dân tham gia đóng góp ý kiến về dự thảo quy hoạch xây dựng nông thôn mới, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của xã; phương án chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất; phương án phát triển ngành nghề của xã...; tham gia giám sát quá trình thi công các hạng mục công trình xây dựng nông thôn mới tại xã, thôn. Nhân dân tại hầu khắp các xã, thôn đã thảo luận, trao đổi về đề án xây dựng nông thôn mới của xã, của thôn, bàn bạc sôi nổi để chủ động tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong hoạt động sản xuất, phát triển kinh tế, chuyển đổi cơ cấu ngành nghề phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh lịch sử, địa lý của từng địa phương; áp dụng các thành tựu, tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào sản xuất nhằm giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện mức sống cho nhân dân nông thôn. Việc thực hiện các quyền dân chủ của người dân đã được khơi dậy và phát huy mạnh mẽ trong quá trình xây dựng nông thôn mới.

Những kết quả của việc thực hiện dân chủ ở cấp xã trong xây dựng nông thôn mới đã tạo ra những tác động tích cực trong việc xây dựng đời sống văn hóa - xã hội ở khu vực nông thôn. Nhờ được phổ biến, tuyên truyền pháp luật về thực hiện dân chủ ở cấp xã, về nội dung chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới với những tiêu chí cụ thể, người dân nông thôn đã có được kiến thức, hiểu biết pháp luật cao hơn, hiểu rõ hơn ý nghĩa, vai trò của chương trình xây dựng nông thôn mới nên đã chủ động, tích cực phát huy quyền làm chủ của mình trong xây dựng đời sống văn hóa, xã hội ngay tại xã, thôn nơi họ sinh sống. “Ý thức về quyền và nghĩa vụ công dân, năng lực làm chủ, tham gia quản lý xã hội của nhân dân, ý thức về dân chủ trong xã hội được nâng lên. Việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở và Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn có tiến bộ”[1]. Chính các tầng lớp nhân dân nông thôn đã và đang là chủ thể tham gia xây dựng các hương ước, quy ước với những nội dung mới theo hướng văn minh, tiến bộ. Chính điều đó đã có tác động rất hiệu quả tới việc loại bỏ những hủ tục lạc hậu, lỗi thời; gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, các thuần phong, mỹ tục, các tập quán, lễ hội tốt đẹp tại cộng đồng dân cư; xây dựng môi trường văn hóa, xã hội lành mạnh; góp phần quan trọng vào việc xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiến tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

2. Đối với việc mở rộng dân chủ, bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân trong quá trình xây dựng nông thôn mới

Mở rộng dân chủ, bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân trong quá trình xây dựng nông thôn mới vừa là nhiệm vụ; đồng thời cũng là mục tiêu mà Đảng, Nhà nước ta hướng tới nhằm xây dựng xã hội nông thôn Việt Nam giàu đẹp, dân chủ, văn minh, hiện đại. Việc chăm lo cho con người, bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân nông thôn, mở rộng dân chủ trực tiếp ở xã, thôn, tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân tham gia quản lý xã hội nông thôn, bàn bạc, thảo luận và quyết định những nội dung quan trọng của chương trình xây dựng nông thôn mới ở từng địa phương, khắc phục mọi biểu hiện dân chủ hình thức... là những nội dung hết sức quan trọng của việc thực hiện dân chủ ở cấp xã trong xây dựng nông thôn mới. Vai trò của thực hiện dân chủ ở cấp xã trong xây dựng nông thôn mới đối với việc mở rộng dân chủ, đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân trong xây dựng nông thôn mới thể hiện trên các khía cạnh như:

Thứ nhất, thực hiện dân chủ ở cấp xã trong xây dựng nông thôn mới giúp cho nhân dân nông thôn nhận thức đúng đắn, đầy đủ hơn các quyền tự do dân chủ của mình trong quá trình tham gia xây dựng nông thôn mới. Về nguyên tắc, muốn thực hiện quyền làm chủ trong lĩnh vực xây dựng nông thôn mới thì trước tiên người dân nông thôn phải nhận thức đúng đắn, hiểu biết đầy đủ về các quyền dân chủ của mình. Các quyền đó được quy định trong Hiến pháp và pháp luật, trong đó đã xác nhận các quyền của công dân trong việc tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung, trọng đại của đất nước cũng như của từng địa phương, nêu các đề xuất, kiến nghị với các cơ quan nhà nước... Công dân được đảm bảo các quyền tự do dân chủ cơ bản, như quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, quyền khiếu nại, tố cáo; biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân... Các quyền tự do dân chủ đó là cơ sở, nền tảng để nhân dân kiểm tra, giám sát các mặt hoạt động của các cơ quan nhà nước và là một trong những phương thức quan trọng để thực hiện dân chủ nói chung, thực hiện dân chủ ở cấp xã trong xây dựng nông thôn mới nói riêng.

Các nguyên tắc, quy định pháp luật về thực hiện dân chủ ở cấp xã và các quy định pháp luật về xây dựng nông thôn mới chính là sự cụ thể hóa các quyền tự do dân chủ của người dân nông thôn trong quá trình tham gia xây dựng nông thôn mới. Thông qua việc thực hiện dân chủ ở cấp xã trong xây dựng nông thôn mới, người dân nông thôn có điều kiện thuận lợi để biết được các quyền dân chủ của mình trong quá trình tham gia xây dựng nông thôn mới, nắm vững các nguyên tắc, hình thức thực hiện các quyền đó cũng như các hành vi bị nghiêm cấm. Nhìn trên phương diện này, để nội dung thực hiện dân chủ ở cấp xã trong xây dựng nông thôn mới đến được với đông đảo các tầng lớp nhân dân nông thôn thì việc tăng cường phổ biến, tuyên truyền pháp luật về dân chủ ở cấp xã và về xây dựng nông thôn mới; lồng ghép việc thực hiện dân chủ ở cấp xã trong xây dựng nông thôn mới là nhân tố giữ vai trò quyết định.

Thứ hai, thực hiện dân chủ ở cấp xã trong xây dựng nông thôn mới giúp nhân dân nông thôn hiểu rõ bản chất, tầm quan trọng của việc thực hiện và phát huy dân chủ ở cấp xã trong xây dựng nông thôn mới. Nhận thức đúng đắn, hiểu biết tương đối đầy đủ về các quyền dân chủ theo quy định của pháp luật rồi, song chưa hẳn người dân nông thôn đã có thể chủ động, tích cực thực hiện các quyền dân chủ đó nếu họ chưa hiểu rõ bản chất, tầm quan trọng của việc thực hành và phát huy dân chủ ở cấp xã trong xây dựng nông thôn mới. Trong giai đoạn hiện nay, Đảng ta nhấn mạnh: “Tiếp tục phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước phải xuất phát từ nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, được nhân dân tham gia ý kiến. Dân chủ phải được thực hiện đầy đủ, nghiêm túc trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Bảo đảm để nhân dân tham gia ở tất cả các khâu của quá trình đưa ra những quyết định liên quan đến lợi ích, cuộc sống của nhân dân, từ nêu sáng kiến, tham gia thảo luận, tranh luận đến giám sát quá trình thực hiện”[2]. Các cơ quan hữu quan cần đẩy mạnh phổ biến, tuyên truyền, giải thích cho nhân dân nông thôn hiểu rằng, thực hiện dân chủ ở cấp xã là sự hiện thực hóa nguyên tắc “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”. Trong xây dựng nông thôn mới, chính quyền các cấp nói chung, cấp xã nói riêng cần tôn trọng và lắng nghe ý kiến của nhân dân; giúp người dân nông thôn thực sự phát huy quyền làm chủ của mình, tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội trên địa bàn xã; góp phần xây dựng chính quyền cấp xã trong sạch, vững mạnh, giữ gìn trật tự, kỷ cương, an toàn xã hội trên địa bàn xã, xây dựng làng, xã nông thôn theo hướng văn minh, hiện đại... Đó cũng chính là những mục tiêu cụ thể mà Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020 đã và đang đặt ra.

Thứ ba, từ sự nhận thức, hiểu biết đó, nhân dân nông thôn sẽ chủ động, tích cực phát huy quyền làm chủ của mình trong thực hiện dân chủ ở cấp xã trong xây dựng nông thôn mới, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của cộng đồng và các quyền, lợi ích hợp pháp của mỗi người dân. Thực hiện dân chủ ở cấp xã trong xây dựng nông thôn mới nhất thiết phải dựa trên nền tảng các quy định pháp luật, mà trọng tâm là Pháp lệnh Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn và Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020. Bên cạnh các hình thức thực hiện pháp luật khác, sử dụng pháp luật là hình thức chủ yếu trong thực hiện pháp luật về dân chủ ở cấp xã phục vụ xây dựng nông thôn mới, thể hiện sự chủ động, tự giác và tích cực của nhân dân nông thôn. Người dân nông thôn có tích cực sử dụng quyền được biết các nội dung xây dựng nông thôn mới trên địa bàn xã, thôn thì Ủy ban nhân dân xã, Ban quản lý xây dựng nông thôn mới xã và Ban Phát triển thôn mới không thể “bưng bít” thông tin, mà phải công khai thông tin theo quy định của pháp luật. Người dân nông thôn có chủ động sử dụng quyền được bàn và quyết định trực tiếp về chủ trương và mức đóng góp xây dựng nông thôn mới, gồm cơ sở hạ tầng, các công trình phúc lợi công cộng trong phạm vi xã, thôn do nhân dân đóng góp toàn bộ hoặc một phần kinh phí thì các công trình đó mới nhanh chóng được triển khai thi công có chất lượng và đưa vào phục vụ dân sinh. Người dân có tự giác sử dụng quyền được tham gia ý kiến đối với các nội dung quy hoạch xây dựng nông thôn mới, xây dựng đời sống văn hóa, thông tin và truyền thông nông thôn, cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn... trước khi cơ quan có thẩm quyền quyết định thì mới tránh được tình trạng thắc mắc, khiếu nại khi các quyết định đó được triển khai vào đời sống xã hội ở xã, thôn. Chỉ khi nào người dân nông thôn biết sử dụng và phát huy các quyền dân chủ trong thực hiện dân chủ ở cấp xã trong xây dựng nông thôn mới thì các lợi ích của Nhà nước, cộng đồng dân cư nông thôn, các quyền và lợi ích hợp pháp của mỗi người dân ở xã, thôn mới có thể được đảm bảo. Đây cũng là một trong những tiêu chí quan trọng để đảnh giá tính hiệu quả của việc thực hiện dân chủ ở cấp xã trong xây dựng nông thôn mới.

3. Đối với hoạt động của các cấp ủy Đảng, chính quyền cấp xã trong quá trình xây dựng đề án và tổ chức thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới

Các cấp ủy Đảng, Ủy ban nhân dân xã, Ban Quản lý xây dựng nông thôn mới xã, Ban Phát triển thôn cùng với đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã là những chủ thể tổ chức thực hiện dân chủ ở cấp xã và tổ chức các hoạt động thuộc chương trình xây dựng nông thôn mới. Các chủ thể này có trách nhiệm tổ chức và động viên các tầng lớp nhân dân nông thôn phát huy quyền dân chủ, tham gia đóng góp ý kiến trong quá trình xây dựng đề án và tổ chức thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn xã, thôn. Do đó, thực hiện dân chủ ở cấp xã trong xây dựng nông thôn mới có tác động trở lại và có vai trò rất quan trọng đối với hoạt động của các cấp ủy Đảng, chính quyền cấp xã trong quá trình xây dựng đề án và tổ chức thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới, thể hiện trên các phương diện sau đây:

Một là, thực hiện dân chủ ở cấp xã trong xây dựng nông thôn mới đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức hoạt động của các cấp ủy Đảng ở khu vực nông thôn theo hướng dân chủ hóa, không ngừng nâng cao năng lực và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng, dựa vào dân, chịu sự giám sát của dân để vừa xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh, vừa lãnh đạo công cuộc xây dựng nông thôn mới đạt mục tiêu đề ra. Trong quá trình lãnh đạo việc thực hiện dân chủ ở cấp xã trong xây dựng nông thôn mới, các cấp ủy, tổ chức cơ sở đảng, từng cán bộ, đảng viên cũng phải tự khắc phục những hạn chế, yếu kém trong hoạt động của mình, phải đổi mới phương thức hoạt động theo hướng “thật sự tin dân, trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân, dựa vào dân, có trách nhiệm với dân”[3].

Hai là, thực hiện dân chủ ở cấp xã trong xây dựng nông thôn mới đòi hỏi phải đổi mới hoạt động của bộ máy chính quyền cấp xã theo hướng công khai, minh bạch, dân chủ, chú trọng đến chất lượng và hiệu quả giải quyết các công việc hành chính ở cấp xã nói chung, giải quyết các công việc liên quan đến nội dung chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn xã, thôn nói riêng. Đối với thực hiện dân chủ ở cấp xã trong xây dựng nông thôn mới, trước hết, Ủy ban nhân dân xã, Ban Quản lý xây dựng nông thôn mới xã, Ban Phát triển thôn phải công khai, minh bạch nội dung, hình thức thực hiện các công việc thuộc chương trình xây dựng nông thôn mới của xã, thôn tới các tầng lớp nhân dân địa phương nhằm đáp ứng “quyền được biết” của người dân; bởi vì, “công khai là điều kiện để thực hiện quyền làm chủ của người dân”[4]. Thực tế cho thấy, việc thực hiện dân chủ ở cấp xã trong xây dựng nông thôn mới có tác động mạnh mẽ đến hoạt động của bộ máy chính quyền cấp xã, sự chỉ đạo, điều hành của Ban Quản lý xây dựng nông thôn mới, đưa đến đòi hỏi tất yếu là phải đổi mới hoạt động của các chủ thể nói trên theo hướng công khai, minh bạch, dân chủ, chú trọng nhiều hơn đến chất lượng và hiệu quả thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới.

Ba là, thực hiện dân chủ ở cấp xã trong xây dựng nông thôn mới là nền tảng để sửa đổi lề lối làm việc của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã theo hướng chuyên nghiệp và hiện đại. Đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã là những người thay mặt Nhà nước trực tiếp thi hành quyền lực nhà nước ở địa phương, giải quyết các công việc có liên quan tới lợi ích của Nhà nước và nhân dân; đồng thời, họ cũng là chủ thể tham gia thực hiện dân chủ ở cấp xã và xây dựng nông thôn mới. Chất lượng, hiệu quả thực hiện dân chủ ở cấp xã trong xây dựng nông thôn mới phụ thuộc rất lớn vào ý thức, thái độ phục vụ nhân dân và phụ thuộc vào năng lực chuyên môn, hiểu biết pháp luật của đội ngũ cán bộ này. Trước hết, đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã phải thay đổi triệt để ý thức, thái độ phục vụ nhân dân theo hướng niềm nở, lịch sự, hòa nhã trong giao tiếp với người dân; tôn trọng, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng, ý kiến của người dân trong quy hoạch và thực hiện các nội dung xây dựng nông thôn mới để tìm ra cách giải quyết công việc sao cho “thấu tình, đạt lý”; kiên quyết khắc phục mọi biểu hiện quan liêu, tắc trách, hách dịch, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để mưu cầu lợi ích cá nhân. Bên cạnh đó, thực tiễn thực hiện dân chủ ở cấp xã cũng đặt ra yêu cầu phải nâng cao năng lực chuyên môn và trình độ kiến thức, hiểu biết pháp luật để giúp cán bộ, công chức cấp xã giải quyết nhanh chóng, hiệu quả các công việc chuyên môn thuộc phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao, trong đó có hoạt động xây dựng nông thôn mới.

Bốn là, thực hiện dân chủ ở cấp xã trong xây dựng nông thôn mới góp phần xây dựng bộ máy chính quyền cấp xã trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu xây dựng nông thôn mới. Việc đổi mới hoạt động của bộ máy chính quyền cấp xã theo hướng công khai, minh bạch, dân chủ, chú trọng đến chất lượng và hiệu quả giải quyết công việc, sửa đổi lề lối làm việc của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã theo hướng chuyên nghiệp và hiện đại là kết quả của việc thực hiện dân chủ ở cấp xã trong xây dựng nông thôn mới; hướng tới mục tiêu xây dựng bộ máy chính quyền cấp xã trong sạch, vững mạnh, đủ năng lực xây dựng các đề án, quy hoạch xây dựng nông thôn mới, lấy ý kiến của cộng đồng dân cư nông thôn và tổ chức thực hiện các nội dung chương trình xây dựng nông thôn mới.

4. Đối với việc giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn nông thôn

Thực hiện dân chủ ở cấp xã trong xây dựng nông thôn mới cũng có vai trò hết sức quan trọng đối với việc giữ vững an ninh chính trị, bảo vệ trật tự, kỷ cương, an toàn xã hội trên địa bàn nông thôn. Cũng như thực hành dân chủ nói chung, thực hiện dân chủ ở cấp xã trong xây dựng nông thôn mới có chức năng duy trì trật tự xã hội ở xã, thôn; bảo vệ các quyền tự do, dân chủ của người dân nông thôn. Tiêu chí số 19 của Bộ Tiêu chí quốc gia nông thôn mới đặt ra mục tiêu giữ vững an ninh, trật tự xã hội nông thôn với những nội dung cụ thể là ban hành nội quy, quy ước làng xóm về trật tự, an ninh; phòng, chống các tệ nạn xã hội và các hủ tục lạc hậu; điều chỉnh, bổ sung chức năng, nhiệm vụ, tạo điều kiện cho lực lượng an ninh xã, thôn, xóm hoàn thành nhiệm vụ đảm bảo an ninh, trật tự xã hội trên địa bàn theo yêu cầu xây dựng nông thôn mới.

Trong quá trình thực hiện dân chủ ở cấp xã phục vụ xây dựng nông thôn mới, nhân dân được bàn bạc, tham gia ý kiến về các nội dung liên quan đến công tác giữ gìn an ninh, trật tự xã hội nông thôn, tổ chức các hoạt động tự quản trong xã, thôn, xóm. Thực tiễn tiến hành xây dựng nông thôn mới gắn liền với phát huy dân chủ ở cấp xã ở nước ta trong những năm qua chứng minh rằng, những địa phương nào triển khai thực hiện tốt dân chủ ở cấp xã trong xây dựng nông thôn mới thì ở đó tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội luôn được củng cố và giữ vững.

Có thể thấy rằng, khi dân chủ ở cấp xã được mở rộng và phát huy, các quyền dân chủ và lợi ích hợp pháp của nhân dân nông thôn được đảm bảo, những nội dung chương trình xây dựng nông thôn mới được công khai cho dân biết, dân bàn, dân làm và dân kiểm tra thì việc thực hiện dân chủ ở cấp xã trong xây dựng nông thôn mới góp phần quan trọng tạo sự đồng thuận xã hội, thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn nông thôn. Đây chính là kết quả, hiệu quả thiết thực, cụ thể của việc thực hiện dân chủ ở cấp xã trong xây dựng nông thôn mới ở nước ta.

TS. Ngọ Văn Nhân

Đại học Luật Hà Nội



Tài liệu tham khảo:

* Bài viết được thực hiện trong khuôn khổ Đề tài nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn cấp tỉnh “Giải pháp thực hiện dân chủ ở cấp xã phục vụ công cuộc xây dựng nông thôn mới tại tỉnh Bạc Liêu” do TS. Ngọ Văn Nhân và TS. Dương Thành Trung làm Chủ nhiệm đề tài.

[1]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2016, tr. 167.

[2]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2016, tr. 169.

[3]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2016, tr. 210.

[4]. Mai Quỳnh Nam, Công khai để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, Tạp chí Cộng sản, số 20 (683)/2003, tr. 48.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tóm tắt: Chương VII dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) quy định về tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo gần như giữ nguyên nội dung Chương VII Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016. Tuy nhiên, phân tích từ góc độ liên thông giữa Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 với Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Đất đai năm 2024, cho thấy có một số bất cập, nếu được hoàn thiện trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) sẽ giúp hệ thống pháp luật liên quan đến chế định này được hoàn thiện, đồng bộ hơn.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.

Theo dõi chúng tôi trên: