Thứ hai 30/03/2026 20:57
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Vấn đề áp dụng pháp luật nước ngoài trong tư pháp quốc tế của Việt Nam và một số quốc gia

Cùng với quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng rất nhiều quan hệ có yếu tố nước ngoài phát sinh như quan hệ dân sự, lao động, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại có yếu tố nước ngoài.

Cùng với quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng rất nhiều quan hệ có yếu tố nước ngoài phát sinh như quan hệ dân sự, lao động, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại có yếu tố nước ngoài. Khi các bên chủ thể hoặc cơ quan nhà nước áp dụng pháp luật nước ngoài sẽ phải tuân thủ những nội dung nhất định. Bài viết trình bày khái quát và thực tiễn áp dụng pháp luật nước ngoài trong tư pháp quốc tế của Việt Nam và một số quốc gia, từ đó đề xuất một số khuyến nghị trong việc quy định và áp dụng pháp luật nước ngoài ở Việt Nam.

1. Khái quát về quy định áp dụng pháp luật nước ngoài trong tư pháp quốc tế

Xuất phát từ nguyên tắc chủ quyền quốc gia, các quan hệ pháp luật sẽ chịu sự điều chỉnh của các quy phạm pháp luật quốc gia. Nhưng cùng với sự phát triển của hội nhập quốc tế, nhiều quan hệ có yếu tố nước ngoài xoay quanh các cá nhân, tổ chức được thiết lập như quan hệ hôn nhân và gia đình, quan hệ lao động, quan hệ kinh doanh thương mại và quan hệ dân sự... Lúc này, các cơ quan có thẩm quyền của một quốc gia sẽ xem xét áp dụng pháp luật để giải quyết cho các quan hệ đó. Thông thường, cơ quan có thẩm quyền của quốc gia sẽ xem xét các quy phạm xung đột trong pháp luật nước mình hoặc sự lựa chọn của các bên để từ đó áp dụng pháp luật nước ngoài giải quyết vụ việc. Khi áp dụng pháp luật nước ngoài, cơ quan có thẩm quyền phải tuân thủ các điều kiện, cơ sở và thể thức pháp lý nhất định. Mỗi quốc gia sẽ có các điều kiện, cơ sở và thể thức pháp lý về áp dụng luật nước ngoài khác nhau. Tuy nhiên, phạm vi cho phép áp dụng pháp luật nước ngoài phải được xác định trên cơ sở chủ quyền quốc gia và bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia; đồng thời, bảo đảm hiệu quả của việc áp dụng pháp luật nước ngoài không trái với những nguyên tắc cơ bản của chế độ xã hội và pháp luật của nước mình[1].

Áp dụng pháp luật nước ngoài là việc cơ quan có thẩm quyền của một quốc gia sẽ xem xét áp dụng quy định của pháp luật nước ngoài giải quyết cho quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, quan hệ tố tụng dân sự quốc tế.

Ở Việt Nam, các quy định của tư pháp quốc tế được thể hiện ở nhiều văn bản như: Bộ luật Dân sự năm 2015, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Bộ luật Hàng hải năm 2015, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Luật Thương mại năm 2005, Bộ luật Lao động năm 2019… Quy định áp dụng pháp luật nước ngoài nằm trong văn bản chung nhất là Bộ luật Dân sự năm 2015 tại các điều 664, 667, 669 và 670. Cụ thể, pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được xác định theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc luật Việt Nam. Trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc luật Việt Nam có quy định các bên có quyền lựa chọn thì pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được xác định theo lựa chọn của các bên. Trường hợp không xác định được pháp luật áp dụng theo quy định trên thì pháp luật áp dụng là pháp luật của nước có mối liên hệ gắn bó nhất với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài đó.

Trường hợp pháp luật nước ngoài được áp dụng nhưng có cách hiểu khác nhau thì việc áp dụng phải theo sự giải thích của cơ quan có thẩm quyền tại nước đó. Trường hợp pháp luật của nước có nhiều hệ thống pháp luật được dẫn chiếu đến thì pháp luật áp dụng được xác định theo nguyên tắc do pháp luật nước đó quy định. Pháp luật nước ngoài được dẫn chiếu đến không được áp dụng trong trường hợp: Hậu quả của việc áp dụng pháp luật nước ngoài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam; nội dung của pháp luật nước ngoài không xác định được mặc dù đã áp dụng các biện pháp cần thiết theo quy định của pháp luật tố tụng. Trường hợp pháp luật nước ngoài không được áp dụng theo quy định thì pháp luật Việt Nam được áp dụng.

Như vậy, việc áp dụng pháp luật nước ngoài ở Việt Nam được chia thành 03 trường hợp: (i) Khi có các quy phạm xung đột trong điều ước quốc tế quy định; (ii) Khi quy phạm xung đột trong pháp luật quốc gia quy định áp dụng pháp luật nước ngoài; (iii) Khi các bên trong quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài thỏa thuận lựa chọn áp dụng pháp luật nước ngoài và đáp ứng điều kiện.

Tham khảo pháp luật của các quốc gia khác thấy rằng, Trung Quốc là quốc gia đã ban hành đạo luật chuyên biệt về tư pháp quốc tế, đó là Luật Áp dụng cho quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được thông qua vào ngày 28/10/2010, có hiệu lực kể từ ngày 01/4/2011. Theo đó, Luật này quy định: Các bên có thể chọn luật áp dụng cho quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài theo quy định của luật này (Điều 3). Trường hợp việc áp dụng pháp luật nước ngoài gây phương hại đến xã hội và lợi ích công cộng của pháp luật Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, pháp luật Cộng hòa nhân dân Trung Hoa sẽ được áp dụng (Điều 5). Trong trường hợp pháp luật nước ngoài được áp dụng cho mối quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài và luật khác được thực hiện ở các khu vực khác nhau của quốc gia đó thì luật của nước có mối liên hệ chặt chẽ nhất với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài sẽ được áp dụng (Điều 6). Bên cạnh đó, việc áp dụng pháp luật nước ngoài cho quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài không bao gồm các quy tắc xung đột của quốc gia đó (Điều 9) và pháp luật nước ngoài áp dụng cho quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài sẽ được xác định bởi tòa án nhân dân có liên quan, trọng tài hoặc cơ quan hành chính. Trường hợp các bên đã chọn một pháp luật nước ngoài để áp dụng thì các bên sẽ cung cấp pháp luật của nước đó. Trường hợp pháp luật nước ngoài không thể được xác định hoặc pháp luật của quốc gia đó không có điều khoản liên quan thì pháp luật Cộng hòa nhân dân Trung Hoa sẽ được áp dụng (Điều 10).

2. Thực tiễn áp dụng pháp luật nước ngoài trong tư pháp quốc tế ở một số quốc gia

Trong thực tiễn, có rất ít trường hợp Tòa án Trung Quốc áp dụng pháp luật nước ngoài vì đa số đều bị dựa vào đoạn 2 Điều 10 Luật Áp dụng cho quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. Đơn cử như những trường hợp sau đây[2]:

Trường hợp 1: Tranh chấp giữa Haicheng Bangda International Logistics Co., Ltd. và Appellee Yantai Zhonglian Industrial Co., Ltd trong hợp đồng vận tải hàng hóa hàng hải. Các bên đã thể hiện trong vận đơn đồng ý áp dụng pháp luật Hoa Kỳ. Về vấn đề này, tòa sơ thẩm tuyên bố rằng, mặc dù bị đơn ủng hộ việc áp dụng luật của Hoa Kỳ, nhưng bị đơn đã không tuân thủ luật pháp Hoa Kỳ và không nêu rõ luật nào của Hoa Kỳ nên được áp dụng. Tòa án phúc thẩm cũng cho rằng, mặc dù bị đơn trong phiên sơ thẩm ủng hộ việc áp dụng luật của Hoa Kỳ, nhưng không cung cấp các quy định của luật pháp Hoa Kỳ cho đến khi kết thúc phiên tòa sơ thẩm, do đó các quy định của luật pháp Hoa Kỳ không thể được xác định.

Trường hợp 2: Trong trường hợp tranh chấp hợp đồng lao động giữa Long Zhongyong, Yongya Enterprise và Banghu Shipping Co., Ltd. Tòa sơ thẩm xác định rằng, mặc dù hợp đồng quy định rằng luật Singapore được áp dụng, bị đơn không xuất hiện tại tòa để tham gia vụ kiện. Nguyên đơn yêu cầu áp dụng luật pháp Trung Quốc, vì vậy luật pháp Trung Quốc nên được áp dụng để giải quyết các tranh chấp thực chất.

Trường hợp 3: Trong trường hợp vụ việc Zhejiang Shao Shangwai Chuzi số 76 năm 2010. Tòa án tuyên bố: Các bên đồng ý áp dụng luật của Bang New York, Hoa Kỳ và các bên nên cung cấp luật có liên quan. Hiện tại, nguyên đơn và bị đơn chưa cung cấp cho Tòa án này các luật nước ngoài đã thỏa thuận, luật Trung Quốc nên áp dụng cho trường hợp này.

Như vậy, đây là các trường hợp điển hình của việc pháp luật nước ngoài không thể xác định được để từ đó tòa án sẽ áp dụng pháp luật của Trung Quốc. Tháng 5/2015, Trung Quốc đã thành lập các trung tâm nghiên cứu về pháp luật nước ngoài như Trung tâm nghiên cứu chứng nhận luật nước ngoài do Tòa án nhân dân tối cao cùng với Đại học Khoa học chính trị và luật thành lập. Các trung tâm này sẽ đóng vai trò hỗ trợ trong việc cung cấp pháp luật nước ngoài, chứng nhận nội dung pháp luật nước ngoài.

Tương tự như Trung Quốc, ở Philippines, nếu luật pháp nước ngoài không được chứng minh thì các Tòa án Philippines sẽ áp dụng pháp luật của Philippines và cho rằng luật pháp nước ngoài tương tự như luật pháp của Philippines theo học thuyết giả định. Các quy tắc lựa chọn luật luôn bao gồm một mối quan hệ thực tế (chẳng hạn như quyền tài sản, yêu cầu hợp đồng) và một sự kiện hoặc địa điểm, chẳng hạn như nơi cử hành, nơi biểu diễn hoặc nơi xảy ra sai phạm.

Ở Hoa Kỳ, Tòa án không bắt buộc phải áp dụng pháp luật nước ngoài khi đương sự không khởi xướng (nêu ra). Thông báo việc khởi xướng áp dụng pháp luật nước ngoài cho bên đối tụng là nghĩa vụ bắt buộc. Nếu đương sự khởi xướng vi phạm nghĩa vụ này, vụ việc sẽ được giải quyết bởi luật quốc nội. Trong trường hợp không bên đương sự nào khởi xướng áp dụng pháp luật nước ngoài, Tòa án suy đoán rằng các bên từ bỏ quyền yêu cầu áp dụng pháp luật nước ngoài. Như vậy, đương nhiên luật nơi xét xử được áp dụng. Trong vụ Clarkson Co. v. Shaheen, 660 F.2d 506, 512 n.4 (2d Cir. 1981), Tòa án áp dụng luật của bang New York vì không đương sự nào đặt vấn đề luật của Canada được áp dụng để giải quyết vụ việc. Nếu nội dung của pháp luật nước ngoài không được chứng minh, cũng giống như các Tòa án ở Anh, Tòa án ở Hoa Kỳ áp dụng nguyên tắc suy đoán các hệ thống pháp luật tương tự. Trong vụ Loebig v. Larucci 572 F.2d 81 (2d Cir. 1978), cả nguyên đơn và bị đơn đều là công dân Hoa Kỳ, nguyên đơn gặp tai nạn tại Đức khi đang là hành khách trên xe mô tô được sở hữu và vận hành bởi bị đơn. Mặc dù, trong trường hợp này Tòa án xác định luật áp dụng là luật Đức. Tuy nhiên, do cả hai bên không thể chứng minh được nội dung của pháp luật Đức nên thẩm phán đã hướng dẫn bồi thẩm đoàn áp dụng pháp luật của bang New York[3].

Trong thực tiễn xét xử ở Việt Nam, việc áp dụng pháp luật nước ngoài rất ít được Tòa án áp dụng. Tòa án ở Việt Nam sẽ tiến hành áp dụng pháp luật Việt Nam để giải quyết hầu hết các tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài. Bên cạnh đó, các văn bản pháp luật quy định mới chỉ dừng lại ở quy định chung, khung khuôn mẫu khi xác định các trường hợp không áp dụng pháp luật nước ngoài.

3. Một số khuyến nghị về việc áp dụng pháp luật nước ngoài trong tư pháp quốc tế ở Việt Nam

Để bảo đảm cho việc giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài một cách hợp lý, Việt Nam cần phải ban hành văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật điều chỉnh về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, trong đó có hướng dẫn quy định về việc áp dụng pháp luật nước ngoài, cụ thể:

Thứ nhất, bổ sung quy định về cách thức xác định, tìm kiếm pháp luật nước ngoài dựa vào các nguồn như: Do các bên cung cấp; được cung cấp bởi các tổ chức dịch vụ pháp lý; được cung cấp bởi cơ quan trung ương của bên ký kết khác đã tham gia điều ước quốc tế với Việt Nam; được cung cấp bởi Đại sứ quán hoặc Lãnh sự quán của Việt Nam tại các quốc gia liên quan; được cung cấp bởi Đại sứ quán của nước liên quan ở Việt Nam.

Thứ hai, bổ sung quy định hướng dẫn cụ thể về các trường hợp “trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam” và “nội dung của pháp luật nước ngoài không xác định được mặc dù đã áp dụng các biện pháp cần thiết theo quy định của pháp luật tố tụng” tại Điều 670 Bộ luật Dân sự năm 2015. Ngoài ra, trong quá trình giải quyết vụ án tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài, Tòa án nên có sự giải thích về nội dung về việc không áp dụng pháp luật nước ngoài để đảm bảo tính hợp lý, công bằng, rõ ràng hơn nữa của bản án.

Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài có đặc trưng khác biệt với các quan hệ thông thường trong nước. Cho nên, pháp luật nước ngoài sẽ có thể được áp dụng đề điều chỉnh quan hệ đặc biệt này. Vì thế, việc quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật nước ngoài cần được xem xét, bổ sung, đánh giá để việc áp dụng được hợp lý, đảm bảo quyền lợi của các bên chủ thể. Để làm được điều này, trong thời gian tới, cần ban hành văn bản hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 về pháp luật áp dụng điều chỉnh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài.

ThS. Phạm Thị Hồng Mỵ
Khoa Luật - Đại học Sài Gòn


[1] Bộ Tư pháp (2016), Áp dụng pháp luật nuớc ngoài tại Việt Nam - Những lợi ích và bất lợi của Việt Nam khi tham gia Công ước Viên năm 1980

[2] Đinh Xiaowei, Wang Jiwen (2016), Về vấn đề không cung cấp luật nước ngoài trong việc điều tra luật nước ngoài

[3] Đỗ Minh Tuấn (2014), Xác định nội dung pháp luật nước ngoài để giải quyết tranh chấp dân sự quốc tế bởi Tòa án, Tạp chí Kinh tế đối ngoại, số 70.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.
Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ tại Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.

Theo dõi chúng tôi trên: