Thứ ba 10/03/2026 06:11
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Vấn đề lấy ý kiến đóng góp của nhân dân theo quy định của Luật Đất đai năm 2013

Ở nước ta, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Mỗi thay đổi trong chính sách quản lý về đất đai ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của nhân dân. Vì vậy, Luật Đất đai năm 2013 đã quy định về trách nhiệm tổ chức lấy ý kiến đóng góp của nhân dân về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cơ quan nhà nước. Quy định này giúp cho người dân được bày tỏ nguyện vọng của mình và đóng góp ý kiến đối với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Qua bài viết, thực trạng quy định của Luật Đất đai năm 2013 về lấy ý kiến đóng góp của nhân dân được tác giả đề cập rõ nét, đồng thời đưa ra những giải pháp, kiến nghị hoàn thiện Luật Đất đai năm 2013 về vấn đề này.

1. Thực trạng quy định của Luật Đất đai năm 2013 về lấy ý kiến đóng góp của nhân dân

1.1. Trong lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

1.1.1. Nội dung quy định

Việc lấy ý kiến đóng góp của nhân dân trong lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được đề cập tại Điều 43 Luật Đất đai năm 2013, theo đó, việc lấy ý kiến này được thực hiện như sau:

Thứ nhất, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một trong những phương thức quản lý đất đai của Nhà nước (một trong những căn cứ giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất và thu hồi đất là kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt[1]), ảnh hưởng trực tiếp đến việc sử dụng đất của nhân dân nói chung và người sử dụng đất nói riêng. Do vậy, việc lấy ý kiến đóng góp của nhân dân được thực hiện trong quá trình tổ chức lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất ở tất cả hệ thống quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, bao gồm: Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp tỉnh; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp huyện và quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất quốc phòng - an ninh.

Thứ hai, việc tổ chức lấy ý kiến đóng góp của nhân dân về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thuộc trách nhiệm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền tổ chức lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất[2]. Điều này có nghĩa là, trong quá trình tổ chức lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, cơ quan nhà nước có thẩm quyền bắt buộc phải lấy ý kiến đóng góp của nhân dân, nếu không thực hiện thì sẽ vi phạm pháp luật đất đai.

Thứ ba, hình thức, nội dung và thời gian lấy ý kiến đóng góp của nhân dân về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được thực hiện cụ thể như sau:

- Việc lấy ý kiến đóng góp của nhân dân về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia, cấp tỉnh được thực hiện thông qua hình thức công khai thông tin về nội dung của quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trên trang thông tin điện tử của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Ủy ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh.

Trong khi đó, việc lấy ý kiến đóng góp của nhân dân về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp huyện được thực hiện thông qua hình thức tổ chức hội nghị, lấy ý kiến trực tiếp và công khai thông tin về nội dung của quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trên trang thông tin điện tử của UBND cấp tỉnh và UBND cấp huyện. Sở dĩ có sự khác nhau này là do có sự sửa đổi trong Luật Đất đai năm 2013, đó là đơn vị hành chính cấp xã không lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của địa phương mà nội dung sử dụng đất của cấp xã được thể hiện trong kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện. Điều này có nghĩa là, việc lập kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện có ảnh hưởng trực tiếp đến việc quản lý đất đai của cấp xã và việc sử dụng đất của nhân dân, nên nó nhận được sự quan tâm đặc biệt của nhân dân. Vì vậy, bên cạnh việc lấy ý kiến góp ý qua trang thông tin điện tử, thì UBND cấp huyện phải tổ chức hội nghị lấy ý kiến trực tiếp. Thông qua hội nghị này, cơ quan có thẩm quyền lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cấp huyện trực tiếp tiếp xúc, lắng nghe ý kiến góp ý của cán bộ cấp xã, người dân và trao đổi, giải trình, trả lời những băn khoăn, thắc mắc; đồng thời tiếp thu những ý kiến đóng góp hợp lý, tâm huyết, có cơ sở khoa học, nhằm không chỉ hoàn chỉnh, nâng cao chất lượng dự thảo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất mà còn tạo sự đồng thuận từ phía người dân, có như vậy thì quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cấp huyện được cấp có thẩm quyền xét duyệt mới nhanh chóng đi vào cuộc sống và phát huy tác dụng tích cực.

- Nội dung lấy ý kiến nhân dân về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất gồm các chỉ tiêu quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, các dự án công trình thực hiện trong kỳ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.

- Thời gian lấy ý kiến góp ý của nhân dân về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là 30 ngày kể từ ngày cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định tổ chức lấy ý kiến.

- Cơ quan có trách nhiệm lấy ý kiến về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất có trách nhiệm xây dựng báo cáo tổng hợp, tiếp thu, giải trình ý kiến của nhân dân và hoàn thiện phương án quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trước khi trình Hội đồng thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Điều này cho thấy, việc lấy ý kiến đóng góp của nhân dân về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất không phải mang tính hình thức, làm “qua loa, chiếu lệ” mà là việc làm thực chất. Ở đây, trách nhiệm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc tổng hợp, tiếp thu, giải trình ý kiến đóng góp của nhân dân được đề cao sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản trị đất đai dựa trên tiêu chí dân chủ, công khai và minh bạch.

- Đối với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất quốc phòng, an ninh, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an có trách nhiệm lấy ý kiến UBND cấp tỉnh trong quá trình tổ chức lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, như vậy sẽ vừa bảo đảm bí mật về quốc phòng, an ninh, vừa đảm bảo tính dân chủ trong quá trình xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất quốc phòng, an ninh.

1.1.2. Một số bình luận

Tìm hiểu nội dung lấy ý kiến đóng góp của nhân dân về lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong Luật Đất đai năm 2013 cho thấy vẫn còn một số vấn đề mà Luật này chưa quy định một cách cụ thể:

Một là, trong trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền tổ chức lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất không thực hiện việc lấy ý kiến đóng góp của nhân dân vào quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất hoặc việc tổ chức lấy ý kiến đóng góp của nhân dân vào quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thực hiện không đúng quy định về thời gian lấy ý kiến là 30 ngày kể từ ngày cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định tổ chức lấy ý kiến thì sẽ xử lý như thế nào? Các cơ quan này phải chịu trách nhiệm pháp lý gì? Điều này không tìm được câu trả lời trong Luật Đất đai năm 2013.

Hai là, trong trường hợp lấy ý kiến đóng góp của nhân dân vào dự thảo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất mà đa số ý kiến nhân dân phản đối thì cơ quan tổ chức lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất có điều chỉnh, sửa đổi quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất không? Với tỷ lệ bao nhiêu % ý kiến đóng góp của nhân dân phản đối thì nội dung quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được sửa đổi toàn bộ, với tỷ lệ bao nhiêu % ý kiến đóng góp của nhân dân phản đối thì quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được sửa đổi và ít nhất bao nhiêu % ý kiến đóng góp của nhân dân đồng tình thì được xác định là đồng thuận với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất... Những vấn đề này chưa được quy định rõ trong Luật Đất đai năm 2013.

Ba là, Luật Đất đai năm 2013 chưa quy định rõ việc giải trình của cơ quan lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong trường hợp ý kiến đóng góp của nhân dân chưa đồng tình với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thì được thực hiện theo hình thức nào (giải trình trực tiếp với người dân hay giải trình bằng văn bản gửi cho người dân…) và trình tự, thủ tục giải trình được thực hiện như thế nào?

Bốn là, Luật Đất đai năm 2013 mới chỉ quy định, đối với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất quốc phòng, an ninh, thì Bộ Quốc phòng, Bộ Công an có trách nhiệm lấy ý kiến UBND cấp tỉnh trong quá trình tổ chức lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, tuy nhiên, việc tổ chức lấy ý kiến này thực hiện theo hình thức nào (trực tiếp hay lấy bằng văn bản) và thực hiện theo trình tự, thủ tục cụ thể ra sao thì cũng chưa được quy định rõ ràng.

1.2. Thực trạng quy định của Luật Đất đai năm 2013 về lấy ý kiến đóng góp của nhân dân trong lập phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

1.2.1. Nội dung quy định

Tổng kết 10 năm thi hành Luật Đất đai năm 2003 cho thấy, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất (sau đây gọi chung là bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất) là một trong những vấn đề khó khăn, phức tạp và luôn gặp phải trở ngại trong quá trình thực thi do người bị thu hồi đất không đồng thuận với phương án bồi thường. Để khắc phục tình trạng này thì các nguyên tắc dân chủ, công khai, minh bạch, công bằng và tuân thủ pháp luật được tôn trọng, thực thi. Thực tế cho thấy, địa phương nào chú trọng tuân thủ các nguyên tắc này, thì việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất được thực hiện nhanh chóng, ít gặp phải sự phản đối, khiếu kiện của người dân. Do đó, việc lấy ý kiến đóng góp của người dân ngay từ quá trình lập phương án bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Vấn đề này được đề cập tại khoản 2 Điều 69 Luật Đất đai năm 2013, theo đó, việc lấy ý kiến đóng góp của người dân trong lập, thẩm định phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được thực hiện như sau:

Thứ nhất, tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng có trách nhiệm lập phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và phối hợp với UBND cấp xã nơi có đất thu hồi tổ chức lấy ý kiến về phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo hình thức tổ chức họp trực tiếp với người dân trong khu vực có đất thu hồi, đồng thời niêm yết công khai phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại trụ sở UBND cấp xã, địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi.

Việc tổ chức lấy ý kiến phải được lập thành biên bản có xác nhận của đại diện UBND cấp xã, đại diện Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã, đại diện những người có đất thu hồi.

Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng có trách nhiệm tổng hợp ý kiến đóng góp bằng văn bản, ghi rõ số lượng ý kiến đồng ý, số lượng ý kiến không đồng ý, số lượng ý kiến khác đối với phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; phối hợp với UBND cấp xã nơi có đất thu hồi tổ chức đối thoại đối với trường hợp còn có ý kiến không đồng ý về phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; hoàn chỉnh phương án trình cơ quan có thẩm quyền.

Thứ hai, cơ quan có thẩm quyền thẩm định phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trước khi trình UBND cấp có thẩm quyền quyết định thu hồi đất.

1.2.2. Một số bình luận

Với quy định trên đây, tác giả cho rằng, có một số vấn đề quan trọng mà Luật Đất đai năm 2013 chưa đề cập rõ ràng, cụ thể trong việc lấy ý kiến đóng góp của người dân về phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư:

Một là, về nguyên tắc đồng thuận đối với phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, Luật Đất đai năm 2013 không thể hiện rõ quan điểm lựa chọn nguyên tắc đồng thuận nào trong lấy ý kiến đóng góp của người dân về phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư: “Phương án đồng thuận tuyệt đối”[3] hay “phương án đồng thuận tương đối”[4].

Điều này có nghĩa là, Luật Đất đai năm 2013 mới chỉ dừng lại ở quy định, tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng có trách nhiệm lập phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và phối hợp với UBND cấp xã nơi có đất thu hồi tổ chức lấy ý kiến về phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo hình thức tổ chức họp trực tiếp với người dân trong khu vực có đất thu hồi, đồng thời niêm yết công khai phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại trụ sở UBND cấp xã, địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi; tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng có trách nhiệm tổng hợp ý kiến đóng góp bằng văn bản, ghi rõ số lượng ý kiến đồng ý, số lượng ý kiến không đồng ý, số lượng ý kiến khác đối với phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; phối hợp với UBND cấp xã nơi có đất thu hồi tổ chức đối thoại đối với trường hợp còn có ý kiến không đồng ý về phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; hoàn chỉnh phương án trình cơ quan có thẩm quyền. Luật Đất đai năm 2013 không quy định rõ tỷ lệ bao nhiêu % ý kiến người bị thu hồi đất đồng ý với phương án bồi thường thì được coi là đồng tình (75% hay 100%), bao nhiêu % ý kiến người bị thu hồi đất không đồng ý với phương án bồi thường thì được coi là không đồng tình và trong trường hợp đa số ý kiến người bị thu hồi đất không đồng tình với phương án bồi thường thì phương án này có được điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung không? Trường hợp nào thì điều chỉnh toàn bộ, trường hợp nào điều chỉnh một phần phương án bồi thường...?

Hai là, Luật Đất đai năm 2013 không quy định rõ trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong trường hợp không thay đổi phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi đại đa số ý kiến đóng góp của người bị thu hồi đất không đồng tình với phương án này.

Chính sự không rõ ràng và thiếu cụ thể trong việc quy định lấy ý kiến đóng góp của người dân về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất dễ làm cho chúng ta có cảm nhận vấn đề này mang nặng tính hình thức mà không thực chất.

2. Giải pháp góp phần hoàn thiện quy định của Luật Đất đai năm 2013 về lấy ý kiến đóng góp của nhân dân

2.1. Giải pháp hoàn thiện quy định lấy ý kiến đóng góp của nhân dân về lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

Để góp phần hoàn thiện Luật Đất đai năm 2013 nói chung và quy định lấy ý kiến đóng góp của nhân dân về lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nói riêng, Nhà nước cần ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể, theo đó:

- Bổ sung quy định về chế tài xử lý đối với trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền tổ chức lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất không thực hiện việc lấy ý kiến đóng góp của nhân dân vào quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất hoặc việc tổ chức lấy ý kiến đóng góp của nhân dân vào quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thực hiện không đúng quy định về thời gian lấy ý kiến là 30 ngày kể từ ngày cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định tổ chức lấy ý kiến.

- Bổ sung quy định về tỷ lệ % tối thiểu ý kiến đóng góp của nhân dân đồng ý đối với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; quy định cụ thể tỷ lệ % ý kiến đóng góp của nhân dân phản đối thì quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được sửa đổi toàn bộ, với tỷ lệ bao nhiêu % ý kiến đóng góp của nhân dân phản đối thì quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được sửa đổi, điều chỉnh.

- Bổ sung quy định về hình thức, trình tự, thủ tục giải trình của cơ quan lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đối với trường hợp ý kiến đóng góp của nhân dân không đồng tình với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.

- Bổ sung quy định về hình thức và trình tự, thủ tục cụ thể về việc lấy ý kiến UBND cấp tỉnh đối với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất quốc phòng, an ninh.

2.2. Giải pháp hoàn thiện quy định lấy ý kiến đóng góp của người dân về lập phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

Để góp phần hoàn thiện quy định lấy ý kiến đóng góp của người dân về lập phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất của Luật đất đai năm 2013, Nhà nước cần thực hiện một số việc sau đây:

- Ban hành quy định cụ thể hóa về việc lấy ý kiến đóng góp của người bị thu hồi đất về phương án bồi thường, trong đó đề cập rõ tỷ lệ % ý kiến người bị thu hồi đất đồng ý với phương án bồi thường thì được coi là đồng tình, tỷ lệ % ý kiến người bị thu hồi đất không đồng ý với phương án bồi thường thì được coi là không đồng tình và tỷ lệ % ý kiến người bị thu hồi đất không đồng tình với phương án bồi thường thì phương án này được điều chỉnh; tỷ lệ % ý kiến không đồng tình thì phương án bồi thường được điều chỉnh toàn bộ, tỷ lệ % ý kiến không đồng tình thì phương án bồi thường được điều chỉnh một phần.

- Ban hành quy định trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong trường hợp không điều chỉnh phương án bồi thường khi đại đa số người bị thu hồi đất không đồng ý với phương án bồi thường và chế tài xử lý khi không thực hiện trách nhiệm này.

PGS.TS. Nguyễn Quang Tuyến
Đại học Luật Hà Nội

Tài liệu tham khảo:

[1]. Khoản 1 Điều 52 và khoản 2 Điều 63 Luật Đất đai năm 2013.

[2]. Điều 42 Luật Đất đai năm 2013.

[3]. Đồng thuận tuyệt đối khi có 100% ý kiến người dân được hỏi đồng tình với phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.

[4]. Đồng thuận tương đối khi có ít nhất từ 75% trở lên ý kiến người dân được hỏi đồng tình với phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.

Theo dõi chúng tôi trên: