Thứ hai 21/09/2026 06:48
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Vấn đề xử lý nợ xấu của các ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh Lào Cai

Xử lý nợ xấu là quá trình giải quyết các khoản nợ đã phát sinh và ngăn chặn các khoản nợ xấu mới phát sinh. Nói cách khác, xử lý nợ xấu là những biện pháp, phương pháp, cách thức được đưa ra để giải quyết các khoản nợ khó có khả năng thu hồi hoặc không thu hồi được đúng hạn và các biện pháp ngăn chặn khoản nợ xấu phát sinh trong tương lai.

Xử lý nợ xấu là quá trình giải quyết các khoản nợ đã phát sinh và ngăn chặn các khoản nợ xấu mới phát sinh. Nói cách khác, xử lý nợ xấu là những biện pháp, phương pháp, cách thức được đưa ra để giải quyết các khoản nợ khó có khả năng thu hồi hoặc không thu hồi được đúng hạn và các biện pháp ngăn chặn khoản nợ xấu phát sinh trong tương lai. Xử lý nợ xấu đóng vai trò quan trọng trong quá trình tái cơ cấu nền kinh tế. Việc xử lý nợ xấu cần phải tiến hành ngay, càng để lâu thì nợ xấu càng gây ra những hậu quả to lớn cho nền kinh tế. Giải quyết tốt vấn đề nợ xấu sẽ tạo điều kiện cho việc tái quay vòng đầu tư cho nền kinh tế, góp phần tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế; đồng thời cải thiện và nâng cao sự an toàn, lành mạnh hoạt động của các tổ chức tín dụng, thị trường tiền tệ.

Trong những năm qua, nợ xấu không chỉ là “căn bệnh” của hệ thống ngân hàng Việt Nam nói riêng, mà đã trở thành vấn đề đáng quan ngại của cả hệ thống ngân hàng - tài chính toàn cầu, đặc biệt sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu cuối năm 2008. Thuật ngữ “nợ xấu” đã trở thành chủ đề được đề cập đến tại nhiều nghiên cứu ở các nước phát triển và các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế toàn cầu, Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể trong phát triển kinh tế, tuy nhiên, hệ thống ngân hàng thương mại lại đang phải đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức trong vấn đề xử lý nợ xấu. Nợ xấu ngân hàng trong những năm gần đây tăng nhanh, sự tồn đọng và phát triển của nợ xấu đến từ nhiều nguyên nhân khác nhau, nợ xấu gia tăng sẽ tác động tiêu cực đến hệ thống ngân hàng thương mại nhà nước và cho toàn bộ hệ thống tài chính của Việt Nam. Hơn nữa, nợ xấu là một trong những nguyên nhân làm tắc nghẽn tín dụng trong nền kinh tế.

1. Thực trạng nợ xấu của các ngân hàng thương mại

Tại Việt Nam, khái niệm nợ xấu được quy định trong Thông tư số 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Theo Thông tư này, nợ xấu là các khoản nợ thuộc các nhóm 3, 4, 5 bao gồm nợ dưới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ, nợ có khả năng mất vốn.

Đánh giá thực trạng nợ xấu tại các ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh Lào Cai trên cơ sở số liệu giai đoạn 2015 - 2019 cho thấy, các hạn chế chủ yếu là tỷ lệ chiết khấu chưa rõ ràng trong khi một số quy chế để bán nợ cho Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) lại khá ngặt nghèo; các con số nợ xấu hiện nay chưa phản ánh đúng thực tế; một trong những điểm nghẽn khác là chúng ta chưa thực sự có cơ chế thị trường để đấu giá các khoản nợ; việc giải quyết nợ xấu hiện đang gặp một điểm nghẽn nữa đó là việc xét xử và thi hành án chậm.

Theo số liệu công bố của 13 ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh Lào Cai, tỷ lệ nợ xấu trung bình trong giai đoạn 2015 - 2019 của các ngân hàng này là 2,16% và tỷ lệ này cũng có xu hướng tăng dần theo từng năm, tăng cao nhất là năm 2018 (3,69%). Tính đến hết năm 2019, tình hình nợ xấu của đa số ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh Lào Cai đều kiểm soát được dưới 3% tổng dư nợ, chỉ có ba ngân hàng trong bảng thống kê ở trên là có tỷ lệ nợ xấu trên 3% là NVB (8,78%), SHB (7,75%), ACB (3,34%). Có thể thấy rằng, tỷ lệ nợ xấu cao trên dưới 8% tập trung ở các ngân hàng thuộc diện tái cơ cấu. Ngân hàng Nhà nước tỉnh Lào Cai cho biết, nếu không thực hiện Quyết định số 780/QĐ-NHNN ngày 23/4/2012 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về việc phân loại nợ đối với nợ được điều chỉnh kỳ hạn trả nợ, gia hạn nợ cho phép cơ cấu lại nợ và không xử lý bằng dự phòng rủi ro trong năm 2018 và 2019, thì nợ xấu toàn hệ thống các tổ chức tín dụng đến cuối năm 2019 lên tới 12,7%, chứ không phải con số 4,62% nữa. Điều này cho thấy, nợ xấu của nhiều ngân hàng hết sức phức tạp, nhất là tình trạng nợ xấu đang có xu hướng tăng ở nhiều ngân hàng.

Việc xác định đúng, đủ nợ xấu là điều quan trọng giúp bảng cân đối tài sản của các ngân hàng dần tốt lên. Còn nếu ngân hàng nào tiếp tục “cơ cấu” nợ xấu, hay dùng thủ thuật kế toán để đưa ra con số nợ xấu không chính xác, thì về lâu dài sẽ khiến tình hình tài chính ở những ngân hàng không minh bạch sẽ tệ hại hơn. Trên thực tế, các ngân hàng vẫn chưa quyết liệt trong xử lý nợ xấu. Điều này thể hiện ở chỗ vẫn còn rất ít ngân hàng chấp nhận bán khoản nợ xấu, tài sản bảo đảm với giá thấp. Nhiều doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Lào Cai vẫn gặp khó khăn, không bán được hàng nên khó trả nợ vay đúng hạn. Hiện nay, để giải quyết triệt để, tăng hiệu quả thu hồi vốn từ các khoản nợ xấu không chỉ chờ vào mệnh lệnh của cơ quan chức năng, hay vai trò của VAMC hoặc sự nỗ lực của chính các ngân hàng thương mại, mà cần giải quyết những vấn đề chính dẫn đến nợ xấu xuất phát từ một số nguyên nhân sau:

(i) Nguyên nhân từ phía ngân hàng: Ngân hàng không có đủ thông tin chính xác để phân tích và đánh giá khách hàng, dẫn đến việc xác định sai hiệu quả của phương án vay vốn hoặc xác định thời hạn cho vay và trả nợ không phù hợp với phương án kinh doanh của khách hàng; đạo đức nghề nghiệp chưa tốt cùng năng lực chuyên môn của một số cán bộ ngân hàng chưa theo kịp yêu cầu; còn tiêu cực trong khâu lập phương án, thẩm định, xét duyệt và theo dõi khoản vay; sự lơi lỏng trong công tác thanh tra, kiểm tra trước, trong và sau khi cho vay làm cho ngân hàng không phát hiện kịp thời vốn vay đã sử dụng sai mục đích, phương án vay vốn không còn khả thi như ban đầu. Sự cạnh tranh giữa các ngân hàng gay gắt dẫn đến hiện tượng các ngân hàng thương mại chạy theo quy mô tăng trưởng dư nợ để đạt được các chỉ tiêu kinh doanh, bỏ qua các tiêu chuẩn, điều kiện cho vay, thiếu quan tâm đến chất lượng khoản vay.

(ii) Nguyên nhân từ phía khách hàng: Khách hàng vì không đủ điều kiện vay vốn nên cố tình chỉnh sửa, phóng đại số liệu báo cáo tài chính, lập hóa đơn, chứng từ khống và hợp đồng kinh tế giả mạo để qua mặt ngân hàng, làm sai lệch thông tin thẩm định, dẫn đến tình trạng ngân hàng vô tình cung ứng vốn cho những doanh nghiệp yếu kém về mặt tài chính, không có năng lực sản xuất, kinh doanh, cố tình chiếm đoạt nguồn vốn của ngân hàng… Lúc này, khả năng thu hồi được nguồn vốn cho vay sẽ rất thấp và rủi ro của ngân hàng khi gặp những khách hàng này là rất lớn, xác suất nợ xấu xảy ra cao. Khả năng quản lý điều hành yếu kém của những người lãnh đạo khiến cho các doanh nghiệp vay vốn hoạt động kinh doanh kém hiệu quả, tình hình tài chính khó khăn dẫn đến tình trạng mất khả năng toán nợ vay cho ngân hàng khi đến hạn. Một số doanh nghiệp có quy mô vốn chủ sở hữu nhỏ, cơ cấu tài chính thiếu cân đối, công tác quản lý tài chính kế toán tùy tiện, mang tính đối phó dẫn đến thông tin ngân hàng có được khi lập các bảng phân tích tài chính, đánh giá khả năng trả nợ của doanh nghiệp không chính xác, sai lệch nhiều và rủi ro xảy ra là rất lớn.

(iii) Nguyên nhân khách quan khác: Do những diễn biến bất lợi của thị trường, đối thủ cạnh tranh, sự bất ổn của giá nguyên vật liệu đầu vào và nhu cầu thị trường đầu ra, sự trì trệ của nền kinh tế đã gây ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh và tình hình tài chính của các doanh nghiệp vay vốn.

2. Giải pháp xử lý vấn đề nợ xấu của các ngân hàng thương mại

Từ thực trạng nêu trên, tác giả đề xuất một số giải pháp cụ thể góp phần xử lý nợ xấu của các ngân hàng thương mại như sau:

Thứ nhất, xây dựng và ban hành văn bản nội bộ: Các ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh Lào Cai cần ban hành kịp thời các văn bản nội bộ nói chung và văn bản quy định, hướng dẫn hoạt động cho vay (có bảo đảm và không bảo đảm) như: Chính sách tín dụng, quy định về bảo đảm tiền vay nhất là các khoản vay dùng tài sản bảo đảm hình thành trong tương lai hay các hoạt động cho vay tín chấp đang triển khai… Nghiên cứu sửa đổi quy trình chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng cho phù hợp với tình hình thực tiễn từng giai đoạn.

Thứ hai, hoàn thiện quy trình thẩm định khoản vay và nâng cao chất lượng thẩm định: Khi nhận bảo đảm tiền vay bằng tài sản hình thành từ vốn vay, cần phân loại khách hàng và vận dụng linh hoạt điều kiện về mức vốn tự có của khách hàng tham gia vào dự án cho phù hợp với tình hình thực tế. Đối với thông tin bất cân xứng trong điều kiện hiện tại, các ngân hàng không thể chờ đợi mà phải chủ động khắc phục. Cán bộ tín dụng và những người quyết định cho vay cần mẫn cán và nâng cao trách nhiệm đối với công việc và sự phát triển của ngân hàng.

Thứ ba, nâng cao năng lực định giá, thẩm định tài sản bảo đảm: Hoàn thiện quy định của pháp luật phải đồng thời với kiện toàn nhân lực, xây dựng quy chế quy định về trình độ và đặc điểm của cán bộ ngân hàng. Nghiên cứu xây dựng đề án phát triển nguồn nhân lực thẩm định giá theo hướng chuyên nghiệp, hiệu quả, thường xuyên tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ và thúc đẩy khả năng nghiên cứu, sáng tạo của nhân viên thẩm định giá. Cần có chính sách trả lương, thù lao tương xứng vì công việc thẩm định giá là việc làm cơ động, đòi hỏi chuyên môn nghiệp vụ sâu và trách nhiệm cao. Tuyệt đối tuân thủ các nguyên tắc quản lý rủi ro, không buông lỏng công tác thẩm định giá nhằm thu hút khách hàng. Phối hợp với các tổ chức môi giới, các công ty nghiên cứu thị trường xây dựng bộ dữ liệu thông tin thị trường phục vụ cho toàn hệ thống ngân hàng. Ðây là cơ sở dữ liệu thiết yếu phục vụ cho công tác thẩm định giá, góp phần nâng cao mức độ tin cậy các kết quả thẩm định giá và hạn chế rủi ro.

Thứ tư, củng cố tổ chức bộ máy, xây dựng Phòng Quản lý rủi ro, xử lý nợ và Phòng Pháp chế vững mạnh: Cần tách biệt chức năng quyết định cho vay với thẩm định tín dụng, tách biệt chức năng thẩm định tín dụng và định giá tài sản bảo đảm. Không để lãnh đạo các phòng, ban trực tiếp thẩm định tín dụng nằm trong thành phần biểu quyết cho vay tại các hội đồng tín dụng. Bộ máy của các tổ chức tín dụng cần xây dựng theo hướng linh hoạt, hiệu quả. Các quy trình xây dựng phải hạn chế đến mức thấp nhất ảnh hưởng mang tính chất chủ quan của cá nhân vào quá trình quyết định cho vay. Khẩn trương triển khai quyết liệt các giải pháp được nêu tại Nghị quyết số 42/2017/QH14 ngày 21/06/2017 của Quốc hội về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng và Quyết định số 1058/QĐ-TTg 19/07/2017 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Đề án “Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2016 - 2020”; tổ chức thực hiện nghiêm túc Kế hoạch hành động của Ngành Ngân hàng triển khai Nghị quyết số 88/NQ-CP ngày 13/9/2017 của Chính phủ về ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Chỉ thị số 12-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo đảm an ninh kinh tế trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế.

Thứ năm, tham gia bảo hiểm rủi ro: Bảo hiểm tín dụng là một hình thức bảo hiểm giúp người vay trả nợ ngân hàng khi họ không may gặp rủi ro không lường trước, giảm được gánh nặng nợ nần cho người thân hoặc không bị thanh lý tài sản trong trường hợp rủi ro xảy ra. Khi người dân mua bảo hiểm khoản vay, số tiền khách hàng chi trả cho bảo hiểm sẽ dựa trên gói vay của mình tại ngân hàng. Đối với các hình thức vay tín chấp, ngân hàng rất cần bảo hiểm tín dụng để làm cơ sở đảm bảo an toàn cho khoản tiền cho vay này. Với các khoản vay thế chấp dài hạn như vay mua nhà, vay mua xe... khách hàng có thể giảm được áp lực trả nợ. Kỳ hạn vay vốn dài càng bao hàm yếu tố rủi ro ngay cả khi đã có tài sản đảm bảo. Hiện nay, thị trường cho vay tín dụng ngày càng sôi động, cùng với việc vay vốn khách hàng cũng quan tâm đến việc tham gia bảo hiểm cho khoản vay phòng những bất trắc xảy ra trong quá trình vay vốn.

Thứ sáu, Tòa án cần nâng cao trách nhiệm phối hợp để ban hành bản án, quyết định đúng pháp luật cũng như kịp thời giải thích bản án, giải quyết kiến nghị của cơ quan thi hành án. Đồng thời, phải nâng cao hơn nữa vị thế, vai trò của Ban chỉ đạo Thi hành án dân sự, cũng như kịp thời tranh thủ sự ủng hộ, vào cuộc của toàn hệ thống chính trị, của các cấp chính quyền địa phương, các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể liên quan. Đối với các ngân hàng, tổ chức tín dụng, người được thi hành án cũng cần nhìn nhận lại một cách khách quan về công tác phối hợp và hiệu quả phối hợp trong thi hành án dân sự đối với việc xử lý nợ xấu của ngân hàng.

Ngô Minh Thăng
Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.

Theo dõi chúng tôi trên: