Thứ bảy 27/06/2026 05:02
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Vận dụng nguyên lý 80/20 của Pareto trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật ở Việt Nam hiện nay

Nguyên lý Pareto (hay Nguyên lý 80/20) được khám phá vào năm 1897 bởi nhà kinh tế học người Ý Vilfredo Pareto. Bài viết này giới thiệu về những nội dung cơ bản của nguyên lý 80/20 của Pareto và quá trình quá trình vận dụng nguyên lý này vào công tác phổ biến, giáo dục ở Việt Nam, để cải thiện chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật ở Việt Nam hiện nay, xuất phát điểm tốt nhất là vận dụng nguyên lý 80/20 của Pareto vào lĩnh vực này. Theo đó, trước hết, chúng ta cần nhận diện thực trạng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật ở Việt Nam hiện nay, trong đó xác định những yếu tố quyết định hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật và chỉ ra những nguyên nhân cốt lõi ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả, từ đó tìm ra những giải pháp hiệu quả nhất cho công tác này trong thời gian tới.


1. Những nội dung cơ bản của nguyên lý 80/20 của Pareto

Nguyên lý 80/20 được khám phá vào năm 1897 bởi nhà kinh tế học xã hội học, triết học người Ý Vilfredo Federico Damaso Pareto. Đến nay, khám phá của ông đã có nhiều tên gọi khác nhau như: Nguyên lý Pareto, định luật Pareto, quy tắc 80/20, nguyên lý thiểu công, nguyên lý bất cân bằng (trong bài viết này, tác giả gọi là nguyên lý 80/20).

Nguyên lý 80/20 của Pareto khẳng định rằng, tự trong nội tại quan hệ giữa nguyên nhân và kết quả, nguyên liệu đầu vào và sản phẩm đầu ra, giữa công sức và thành quả thu được đã có một tình trạng mất cân đối, tức là, 80% sản phẩm đầu ra kết tựu từ 20% nguyên liệu đầu vào; 80% kết quả xuất phát từ 20% các nguyên nhân hoặc 80% thành quả có được từ 20% công sức đã đầu tư.

Cũng có thể nói, thành quả hay thu hoạch xuất phát từ một tỷ lệ nhỏ những nguyên nhân, tác động hay nỗ lực nhắm vào những kết quả hay thu hoạch ấy. Mối quan hệ giữa nguyên nhân, tác động và nỗ lực ở một vế và kết quả thu hoạch hay thành quả ở vế kia được xem là không cân bằng. Khi sự chênh lệch này có thể đo lường bằng số học thì một tỷ lệ phổ quát cho tình trạng mất quân bình là tỷ lệ 80/20. 80% kết quả thu hoạch hay thành quả xuất phát chỉ từ 20% nguyên nhân tác động, hay nỗ lực.

Để vận dụng có hiệu quả nguyên lý 80/20 của Pareto, cần đến cách phân tích 80/20, đó là phương pháp định lượng để thiết lập mối quan hệ chính xác giữa một bên là nguyên nhân/tác động/nỗ lực và một bên là hệ quả/thu hoạch/thành quả. Phương pháp này chấp nhận mối quan hệ 80/20 như là giả thiết và thu thập dữ liệu để chứng minh mối quan hệ thực. Đây là một phương pháp duy nghiệm có thể dẫn đến bất kỳ kết quả nào từ 50/50 cho đến 99,9/0,1. Nếu kết quả thể hiện một sự chênh lệch thấy rõ giữa tác nhân và thu hoạch (chẳng hạn 65/35 hay một con số còn chênh lệch hơn nữa) thì thông thường sau đó phải có hành động can thiệp.

Một phương thức mới bổ sung để sử dụng nguyên lý 80/20 của Pareto là cách thức được gọi là lối tư duy 80/20. Điều này đòi hỏi suy nghĩ kỹ về bất kỳ vấn đề nào quan trọng đối với chúng ta và đưa ra nhận định xem là nguyên lý 80/20 của Pareto có áp dụng được trong lĩnh vực ấy hay không. Sau đó, chúng ta có thể hành động theo nhận thức ấy. Cách suy nghĩ 80/20 không đòi hỏi chúng ta phải thu thập dữ liệu hay kiểm định giả thiết.

Tư duy 80/20 là cụm từ được gọi là phương cách áp dụng phi định lượng của nguyên lý 80/20 của Pareto trong đời sống hàng ngày. Cũng như với cách phân tích 80/20, chúng ta bắt đầu với một giả thiết về tình trạng chênh lệch có thể xảy ra giữa tác nhân và thành quả, nhưng thay vì thu thập dữ liệu và phân tích, chúng ta chỉ ước lượng mà thôi. Tư duy 80/20 đòi hỏi và tạo điều kiện cho chúng ta thông qua thực hành, xác định được những điều thực sự quan trọng đang xảy ra và bỏ qua đa số những điều không quan trọng còn lại. Nó định hướng cho ta nhận ra điều cốt lõi.

Để tham gia vào hoạt động tư duy 80/20, chúng ta phải thường xuyên tự vấn: Đâu là tác nhân 20% dẫn đến thành quả 80%? Chúng ta không bao giờ được cho rằng, mình có thể tự động biết câu trả lời mà phải bỏ thời gian để tư duy một cách sáng tạo về điều này.

2. Vận dụng nguyên lý 80/20 của Pareto vào công tác phổ biến, giáo dục pháp luật ở Việt Nam hiện nay

Để cải thiện chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật ở Việt Nam hiện nay, xuất phát điểm tốt nhất là vận dụng nguyên lý 80/20 của Pareto vào lĩnh vực này. Theo đó, trước hết, chúng ta cần nhận diện thực trạng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật ở Việt Nam hiện nay, trong đó xác định những yếu tố quyết định hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật và chỉ ra những nguyên nhân cốt lõi ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả, từ đó tìm ra những giải pháp hiệu quả nhất cho công tác này trong thời gian tới.

2.1. Thực trạng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật ở Việt Nam hiện nay

Báo cáo tổng kết 15 năm thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 09/12/2003 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân[1] đánh giá về công tác phổ biến, giáo dục pháp luật ở nước ta hiện nay như sau:

2.1.1. Những kết quả tích cực

- Nhận thức của các cấp ủy, tổ chức đảng về vai trò, tầm quan trọng của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đã được nâng lên trên tinh thần xác định rõ hơn công tác phổ biến, giáo dục pháp luật là một bộ phận quan trọng của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng trong toàn hệ thống chính trị từ trung ương đến cơ sở.

- Thể chế, chính sách của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật được hoàn thiện, bảo đảm tính hệ thống, đồng bộ, toàn diện, chặt chẽ với văn bản có giá trị pháp lý cao nhất là Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và các văn bản có liên quan từ nghị định đến thông tư.

- Số lượng, chất lượng nguồn nhân lực thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật từng bước được cải thiện, nâng cao, bảo đảm ngày càng tốt hơn nhiệm vụ được giao trong quản lý cũng như các hoạt động chuyên môn.

- Nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật có trọng tâm, trọng điểm, bám sát nhu cầu xã hội, nhiệm vụ chính trị của bộ, ngành, địa phương, phù hợp hơn với từng đối tượng, địa bàn; hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật đã được thực hiện đa dạng, phong phú, sáng tạo, thể hiện màu sắc, văn hóa của từng vùng miền đem lại hiệu quả thiết thực.

- Nguồn lực tài chính cũng như các chính sách hỗ trợ cho đội ngũ những người làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật từng bước được bảo đảm. Việc huy động các nguồn lực tham gia công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đã được chú trọng và ngày càng có hiệu quả thiết thực với nhiều phương thức và mô hình phong phú, linh hoạt.

- Việc hưởng ứng Ngày Pháp luật đã được triển khai sâu rộng, thực chất, hiệu quả, tạo được hiệu ứng tích cực, lan tỏa của Ngày Pháp luật, nâng cao ý thức thượng tôn Hiến pháp và pháp luật trong toàn xã hội.

- Hiểu biết pháp luật, ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân đã được tăng cường, góp phần tích cực vào việc phát triển kinh tế - xã hội, ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và tăng cường quản lý nhà nước bằng pháp luật.

Qua việc tổng kết cho thấy, thời gian qua, tình hình vi phạm pháp luật do không hiểu biết pháp luật có chiều hướng ngày càng giảm. Nhờ việc triển khai tốt công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nhiều xã trên toàn quốc đã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật theo Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020.

2.1.2. Tồn tại, hạn chế và nguyên nhân

a) Tồn tại, hạn chế

- Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật chưa được sự quan tâm đúng mức ở một số cơ quan, tổ chức; chưa xác định công tác này là một bộ phận của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, là nhiệm vụ của toàn bộ hệ thống chính trị, thậm chí còn bị cho là nhiệm vụ của chính quyền các cấp hoặc của riêng Ngành Tư pháp.

- Việc đôn đốc, hướng dẫn, kiểm tra, sơ kết, tổng kết… để đúc rút kinh nghiệm, tìm giải pháp phù hợp nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật chưa được chú trọng.

- Nguồn nhân lực thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật ở các cấp, các ngành mặc dù đã được củng cố, kiện toàn và bồi dưỡng kiến thức nâng cao năng lực nhưng vẫn chưa đáp ứng nhu cầu nhiệm vụ và đòi hỏi của đất nước trong tình hình mới.

- Việc định hướng nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật đôi lúc chưa sát với nhu cầu thực tiễn, còn dàn trải, có lúc chưa trọng tâm, trọng điểm. Công tác hướng dẫn phổ biến những lĩnh vực pháp luật mà dư luận xã hội quan tâm hoặc cần định hướng dư luận chưa được thực hiện thường xuyên. Một số hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật đôi lúc chưa thực sự hiệu quả. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật bắt đầu chậm, một số hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật chưa phù hợp với tính chất, đặc điểm của đối tượng đặc thù.

- Cơ sở vật chất, kinh phí dành cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật chưa đáp ứng được yêu cầu, nhất là ở vùng sâu, vùng xa hoặc những địa bàn khó khăn. Các chương trình và đề án về phổ biến, giáo dục pháp luật có mục tiêu lớn, nhiều nhiệm vụ, hoạt động nhưng thiếu nguồn lực bảo đảm, nhất là đối với địa phương chưa tự cân đối được ngân sách thuộc diện ngân sách trung ương phải hỗ trợ. Việc điều tiết kinh phí thực hiện nhiệm vụ phổ biến, giáo dục pháp luật từ ngân sách của trung ương cho địa phương chưa được thực hiện phù hợp. Đặc biệt, một số địa phương cấp huyện, xã chưa bố trí ngân sách phục vụ cho hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật. Chính sách huy động các nguồn lực xã hội vẫn chưa thực sự khuyến khích các tổ chức, cá nhân tham gia hỗ trợ, tài trợ cho hoạt động này.

- Ý thức chấp hành pháp luật của một bộ phận cán bộ, nhân dân chưa chuyển biến rõ nét.

b) Nguyên nhân

- Một số cấp ủy Đảng, chính quyền và đặc biệt là người đứng đầu chưa nhận thức được một cách đầy đủ, sâu sắc về tính chất, vai trò, tầm quan trọng của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật nên chưa quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên, sâu sát, quyết liệt đối với công tác này cũng như bố trí nguồn lực khả thi để đáp ứng yêu cầu triển khai nhiệm vụ.

- Cơ chế phối hợp giữa bộ, ngành, đoàn thể ở trung ương với địa phương chưa tốt. Thiết chế Hội đồng Phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật ở một số nơi chưa thật hiệu quả. Thành viên Hội đồng hoạt động kiêm nhiệm, hay thay đổi, chưa dành thời gian cho công tác của Hội đồng; sự phối hợp giữa các thành viên của Hội đồng còn hạn chế, dồn hết công việc cho cơ quan thường trực của Hội đồng; chưa có nhiều giải pháp khả thi trong việc nâng cao hiệu quả công tác của Hội đồng.

- Đội ngũ nhân lực tham gia thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật còn ít, phải kiêm nhiệm nhiều việc, chất lượng không đồng đều. Biên chế của Ngành Tư pháp ở địa phương bị hạn chế (Phòng Phổ biến, giáo dục pháp luật của Sở Tư pháp trung bình chỉ có 03 công chức) trong khi khối lượng công việc lớn. Chế độ, chính sách cho đội ngũ báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật còn thấp nên chưa huy động được những người có trình độ tham gia công tác này.

- Kinh phí mặc dù đã được quan tâm bố trí nhưng tại nhiều nơi vẫn rất khó khăn. Nhiều địa phương chưa tự cân đối được ngân sách, phải phụ thuộc ngân sách trung ương nên không chủ động được nguồn lực thực hiện. Thực tế là, hầu hết các tỉnh càng nghèo thì đối tượng đặc thù có nhu cầu cần được phổ biến, giáo dục pháp luật càng nhiều (người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số…) nhưng nguồn lực của tỉnh lại hạn hẹp, khó có thể đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Bên cạnh đó, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật là hoạt động mang tính xã hội, phi lợi nhuận nên việc huy động nguồn lực vật chất từ xã hội, cộng đồng doanh nghiệp rất khó khăn; chưa có chính sách ưu đãi cụ thể cho các cá nhân, doanh nghiệp tham gia hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật nên hạn chế trong triển khai thực hiện.

- Một bộ phận người dân và cán bộ, công chức, viên chức, người lao động chưa tích cực, chủ động, tự giác học tập, tìm hiểu pháp luật và chấp hành pháp luật.

- Trình độ dân trí, văn hóa vùng miền khác nhau, thậm chí một số dân tộc thiểu số còn tồn tại nhiều hủ tục, nhận thức hạn chế, không hiểu ngôn ngữ phổ thông… đòi hỏi công tác phổ biến, giáo dục pháp luật phải thực sự dày công, tốn kém, theo phương thức “mưa dầm, thấm lâu” nên chưa mang lại hiệu quả kịp thời trên thực tế.

2.2. Vận dụng nguyên lý 80/20 của Pareto trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật ở Việt Nam

Nguyên lý 80/20 của Pareto gợi ra cho chúng ta những điều cần làm sau đây để nâng cao hiệu quả các lĩnh vực của đời sống:

- Chọn lọc những nhiệm vụ quan trọng, chủ yếu để làm, không phải làm toàn bộ; tìm kiếm cái tuyệt hảo ở số ít hơn là cái thường thường bậc chung ở số nhiều.

- Tôn vinh hiệu suất đặc biệt hơn là gia tăng nỗ lực trung bình.

- Tìm con đường tắt thay vì đi cả một quãng đường dài; cố gắng kiểm soát đời sống của chúng ta với nỗ lực tối thiểu có thể được.

- Giao quyền và chia sẻ công việc càng nhiều càng tốt, hãy để các cơ chế linh hoạt khuyến khích chúng ta thực hiện thay vì cản trở chúng ta làm việc này; rà soát, lựa chọn nguồn nhân lực hết sức cẩn thận phục vụ cho mục tiêu đề ra.

- Ở mọi lĩnh vực của đời sống nói chung, hãy tìm xem nơi nào 20% nỗ lực có thể dẫn đến 80% thành quả; xác định một số mục tiêu giới hạn nhưng rất giá trị, hiệu quả, thiết thực hơn là theo đuổi mọi vận hội có thể có.

Từ thực trạng của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật ở Việt Nam nêu trên, chúng ta vận dụng nguyên lý 80/20 của Pareto trong công tác này theo hướng chọn lọc những nhiệm vụ quan trọng, chủ yếu để thực hiện trong thời gian tới như sau:

Thứ nhất, đổi mới cơ chế quản lý, sử dụng kinh phí theo hướng linh hoạt, hiệu quả, trong đó ưu tiên bố trí khoảng 80% nguồn lực kinh phí để tập trung xóa đói, giảm nghèo về pháp luật cho đối tượng đặc thù, chiếm khoảng 20% dân số Việt Nam (học sinh, sinh viên và một số đối tượng đặc thù, yếu thế như: (i) Người dân sinh sống ở vùng dân tộc thiểu số, miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, ven biển, hải đảo, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; (ii) Người lao động trong các doanh nghiệp; (iii) Nạn nhân bạo lực gia đình; (iv) Người khuyết tật; (v) Người đang chấp hành hình phạt tù, người đang bị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc…).

Thứ hai, đầu tư khoảng 20% nguồn lực kinh phí triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật toàn diện, rộng khắp đến các đối tượng, địa bàn trong phạm vi cả nước để tạo ra khoảng 80% hiệu quả cho xã hội. Trong tập trung kinh phí cho ứng dụng công nghệ thông tin, kỹ thuật số, mạng xã hội trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nhất là xây dựng, vận hành Cổng thông tin điện tử phổ biến, giáo dục pháp luật dùng chung trên phạm vi cả nước và ứng dụng phổ biến, giáo dục pháp luật trên thiết bị di động.

Thứ ba, rà soát kỹ đội ngũ báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật bảo đảm chất lượng theo hướng chuyên sâu, chuyên nghiệp (có thể sử dụng khoảng 20% đội ngũ báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật hiện có bảo đảm chất lượng thực sự để tạo ra khoảng 80% hiệu quả cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật). Bên cạnh đó, thu hút đội ngũ chuyên gia pháp luật (như: Thẩm phán, kiểm sát viên, cán bộ, công chức tư pháp - hộ tịch đã nghỉ hưu…) và phát huy mạnh mẽ vai trò, trách nhiệm của lực lượng Công an nhân dân, Bộ đội, Biên phòng tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật cho nhân dân, hướng tới coi đây là lực lượng nòng cốt để thực hiện công tác này.

Thứ tư, đổi mới tổ chức, hoạt động của cơ quan, đơn vị tham mưu, thực hiện quản lý nhà nước về phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng tinh, gọn, nâng cao hiệu lực, hiệu quả. Kiện toàn tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội đồng Phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật các cấp; chú trọng củng cố, nâng cao năng lực đội ngũ người làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.

Thứ năm, lựa chọn một số ít mô hình hay, cách làm hiệu quả về phổ biến, giáo dục pháp luật gắn với từng chủ đề nội dung, đối tượng để nhân rộng bảo đảm phù hợp với từng vùng, miền trên phạm vi cả nước.

TS. Lê Vệ Quốc

ThS. Trần Văn Tùy

Vụ Phổ biến, giáo dục pháp luật, Bộ Tư pháp





[1]. Báo cáo số 213-BC/BCĐCT32 ngày 10/4/2020 của Ban Chỉ đạo tổng kết 15 năm thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Để bảo đảm Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng được triển khai kịp thời, thống nhất và hiệu quả trên phạm vi cả nước, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu đã ký Quyết định số 925/QĐ-TTg ngày 25/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng.
Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 được ban hành đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Bài viết nêu sự cần thiết, ý nghĩa ban hành và những điểm mới nổi bật của Luật, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm quyền con người và đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà vừa ký Quyết định số 1111/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch tổ chức "Ngày Văn hóa Việt Nam" giai đoạn 2026 - 2030 (Kế hoạch), đánh dấu bước triển khai quan trọng Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Luật Hàng không dân dụng Việt Nam số 130/2025/QH15 (Luật năm 2025) được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 10 (ngày 10/12/2025), có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 gồm 11 Chương và 107 Điều quy định về hoạt động hàng không dân dụng, bao gồm các quy định về tàu bay, cảng hàng không, nhân viên hàng không, hoạt động bay, vận tải hàng không thương mại, hàng không chuyên dùng, hàng không chung, an toàn hàng không, an ninh hàng không, trách nhiệm dân sự và các hoạt động khác có liên quan đến hàng không dân dụng.
Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Quy định mới tại Nghị quyết số 254/2025/QH15 và Nghị định số 49/2026/NĐ-CP với cơ chế đồng thuận trên 75% được kỳ vọng khơi thông hàng nghìn dự án, sẽ tháo gỡ một trong những vướng mắc lớn nhất trong quá trình triển khai các dự án có sử dụng đất.
Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Ngày 10/12/2025, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, Kỳ họp thứ 10 chính thức thông qua Luật số 132/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026).
Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 thay thế Pháp lệnh Dân số số 06/2004/PL-UBTVQH11 (đã được sửa đổi, bổ sung theo Pháp lệnh số 07/2025/UBTVQH15). Một trong những thay đổi căn bản của Luật Dân số năm 2025 là chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển. Những nội dung liên quan đến dân số và phát triển đã được thể hiện trong việc hướng tới giải quyết đồng bộ các vấn đề về quy mô dân số, cơ cấu dân số, thích ứng với già hóa dân số, nâng cao chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của từng địa phương, góp phần bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước.
Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.

Theo dõi chúng tôi trên: