Thứ năm 12/03/2026 13:53
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Việc làm cho người khuyết tật ở Việt Nam hiện nay

Ở nước ta, vấn đề việc làm đối với người khuyết tật luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm, chú trọng. Những năm qua, pháp luật về việc làm đối với người khuyết tật đã được ban hành, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện nhằm giúp cho những người khuyết tật có thu nhập ổn định, tự tin vào bản thân và hoà nhập với cộng đồng xã hội.

Người khuyết tật (NKT) là những người có sự khiếm khuyết suốt đời về thể chất, tinh thần, trí tuệ mà những khiếm khuyết này tạo ra những rào cản làm hạn chế khả năng tham gia đầy đủ và có hiệu quả vào các hoạt động xã hội trên cơ sở bình đẳng với những người khác[1]. Khoản 1 Điều 2 Luật Người khuyết tật quy định: “Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm sức lao động được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn”. NKT là thành viên của cộng đồng xã hội nên họ cũng cần có việc làm và đảm bảo việc làm như những người bình thường khác, trong đó, giải quyết việc làm và đảm bảo việc làm bền vững cho NKT là mục tiêu hướng đến và là nguyện vọng của cả cộng đồng. Hiện cả nước có trên 7 triệu NKT, 62% số đó trong độ tuổi lao động (15-60 tuổi); trong đó 32% còn khả năng lao động, 5% NKT đã qua đào tạo nghề. Từ năm 2011 đến nay, bình quân mỗi năm đào tạo được từ 8-10 ngàn NKT, trên 50% số NKT sau đào tạo tìm được việc làm phù hợp và có thu nhập[2].

1. Việc làm cho người khuyết tật - Từ quy định đến thực tiễn

Việc làm là hoạt động tạo ra thu nhập và không bị pháp luật cấm. Việc làm đặt ra đối với NKT không chỉ giúp cho NKT có thu nhập ổn định mà còn giúp họ hòa nhập cộng đồng, tự tin và được bình đẳng như những người lao động khác. Do vậy, đảm bảo việc làm cho NKT được ghi nhận trong Công ước quốc tế và trong pháp luật quốc gia.

Theo Liên Hợp Quốc, các quốc gia phải công nhận quyền được làm việc của NKT trên cơ sở bình đẳng với những người khác; trong đó các quốc gia thành viên phải bảo vệ và thừa nhận việc làm và đảm bảo việc làm cho NKT bằng cách ban hành pháp luật phù hợp, bảo đảm NKT không bị bắt lao động cực nhọc như nô lệ hay khổ sai, được bảo vệ trên cơ sở bình đẳng với những người khác, trước những công việc lao động cưỡng bức hoặc bắt buộc[3]. Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), cần thiết phải ban hành chính sách việc làm nhằm đảm bảo cho NKT được tiếp cận với cơ hội việc làm và nghiêm cấm phân biệt đối xử vì lí do khuyết tật. Ngoài ra, cũng theo tổ chức này thì người sử dụng lao động (NSDLĐ) phải có trách nhiệm nhận NKT vào làm việc.

Ở Việt Nam, vấn đề việc làm và đảm bảo việc làm cho NKT được Nhà nước và xã hội coi trọng, quan tâm thích đáng. Các quy định của Luật Người khuyết tật năm 2010 đã nhấn mạnh, Nhà nước cần tạo điều kiện để NKT có việc làm và làm việc phù hợp với sức khoẻ, đặc điểm khuyết tật của NKT (Điều 33), khuyến khích các cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp nhận NKT vào làm việc. Nếu doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động là NKT được hưởng chính sách ưu tiên hơn. Mặt khác, Nhà nước còn tạo điều kiện cho các doanh nghiệp sử dụng từ 30% tổng số lao động trở lên là NKT được hỗ trợ cải tạo điều kiện, môi trường làm việc, được miễn thuế thu nhập cá nhân, được vay vốn với lãi suất ưu đãi, được ưu tiên cho thuê đất, mặt bằng, mặt nước… Ngoài ra, để đảm bảo cho NKT có cuộc sống và việc làm phù hợp, Luật còn quy định thành lập quỹ hỗ trợ việc làm cho NKT. Đây là quỹ xã hội từ thiện với mục tiêu huy động nguồn lực trợ giúp NKT. Quỹ được hỗ trợ từ nguồn ngân sách nhà nước hoặc từ các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước đóng góp hoặc từ các khoản thu khác. Năm 2012, Bộ luật Lao động một lần nữa khẳng định việc làm và đảm bảo việc làm cho NKT là nhiệm vụ quan trọng, trong đó: “Nhà nước bảo trợ quyền lao động, tự tạo việc việc làm của lao động là NKT, có chính sách khuyến khích và ưu đãi NSDLĐ tạo việc làm và nhận lao động là NKT vào làm việc, theo quy định của Luật Người khuyết tật” (khoản 1 Điều 176).

Thứ nhất, trách nhiệm của Nhà nước trong việc đảm bảo việc làm cho người khuyết tật

Nhà nước có vai trò hết sức quan trọng trong việc định hướng nghề nghiệp và tạo việc làm cho NKT, bởi họ cũng là công dân, là lực lượng lao động của xã hội. Bộ luật Lao động còn quy định Nhà nước thực hiện bảo trợ quyền lao động, tự tạo việc làm của người lao động khuyết tật. Tuy nhiên, Luật Người khuyết tật cũng như Bộ luật Lao động chưa quy định cụ thể trách nhiệm của Nhà nước được thể hiện ở giai đoạn nào trong quá trình từ khâu tuyển dụng, toàn bộ quá trình lao động đến khi kết thúc quá trình lao động đó. Mặt khác, việc tạo điều kiện cho NKT vay vốn với lãi suất thấp nhưng lại không quy định cụ thể tỉ lệ đó là bao nhiêu dẫn đến khi thực hiện thủ tục vay vốn gặp rất nhiều khó khăn. Số lượng NKT được giải quyết vay vốn để tự tạo việc làm là rất thấp.

Thứ hai, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân

NKT là đối tượng lao động đặc thù nên các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân (gọi tắt là NSDLĐ) càng cần phải có sự quan tâm đặc biệt đến các đối tượng này, nhất là về việc làm và đảm bảo việc làm nhằm đảm bảo cho họ được bình đẳng như những người lao động bình thường khác, tránh sự phân biệt đối xử và kì thị. Biểu hiện rõ nhất của trách nhiệm đó là trong quá trình tuyển dụng NKT vào làm việc, Luật Người khuyết tật có quy định NSDLĐ không được từ chối tuyển dụng NKT có đủ tiêu chuẩn vào làm việc hoặc đặt ra tiêu chuẩn tuyển dụng trái quy định của pháp luật để hạn chế cơ hội làm việc của NKT. Trách nhiệm đó còn được thể hiện thông qua việc sắp xếp, bố trí công việc, môi trường làm việc, điều kiện làm việc cho NKT. Tuy nhiên, trên thực tế, doanh nghiệp tùy theo điều kiện, khả năng, nhu cầu của mình mà quyết định nhận hay không nhận NKT vào làm việc. Một thực tế khác là nếu doanh nghiệp sử dụng lao động khuyết tật thì được hưởng các chính sách ưu tiên về vay vốn và được vay với lãi suất thấp. Trong khi nếu doanh nghiệp không sử dụng lao động khuyết tật hoặc có sử dụng nhưng không đủ tỉ lệ thì không được hưởng chính sách này. Doanh nghiệp không sử dụng hoặc sử dụng không đủ số lượng lao động khuyết tật thì doanh nghiệp cũng không bị cơ quan có thẩm quyền nào xử lý. Vì vậy, cần sửa đổi theo hướng quy định rõ trách nhiệm phải nhận NKT vào làm việc để các doanh nghiệp có trách nhiệm hơn trong quá trình tuyển dụng người lao động khuyết tật. Mặt khác sẽ là cơ sở pháp lý để yêu cầu doanh nghiệp đóng tiền vào quỹ việc làm cho NKT, đảm bảo nguồn tài chính cho quỹ. Thực tế cho thấy, hiện nay, rất ít NSDLĐ thực hiện đúng chính sách của Nhà nước về tuyển dụng, sử dụng NKT. NKT có nhu cầu lao động nhưng chưa có việc làm trên phạm vi cả nước vẫn chiếm khoảng 30%[4].

Thứ ba, về chính sách ưu đãi cho người sử dụng lao động khi tuyển dụng người khuyết tật làm việc

Để khuyến khích các doanh nghiệp nhận NKT vào làm việc, Nhà nước có chính sách ưu đãi đối với các doanh nghiệp này. Mục đích của các chế độ, chính sách này nhằm hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong phát triển sản xuất kinh doanh, là động lực để các doanh nghiệp tiếp nhận NKT vào làm việc và đảm bảo việc làm thường xuyên cho NKT. Thực tế, số doanh nghiệp sử dụng lao động là NKT đạt tỉ lệ từ 30% tổng số lao động trở lên là không nhiều. Các doanh nghiệp sử dụng lao động khuyết tật nhưng tỉ lệ lại dưới 30% lao động khuyết tật thì lại không được hưởng chính sách ưu đãi của Nhà nước. Thực tế, có khoảng 65% doanh nghiệp sử dụng lao động NKT được hưởng các chế độ chính sách hỗ trợ về vay vốn, giảm thuế, hỗ trợ tín dụng[5]. Một số NKT tự tạo việc làm thì cũng chưa được vay vốn hoặc có được vay thì phải thông qua các tổ chức như Hội phụ nữ, Hội nông dân hay phải nhờ các tổ chức khác bảo lãnh. Vì vậy, cần có các văn bản hướng dẫn cụ thể hơn nhằm hỗ trợ doanh nghiệp sử dụng lao động khuyết tật và NKT. Mặt khác, để khuyến khích các doanh nghiệp nhận NKT vào làm việc, Nhà nước cần có thêm những quy định để hỗ trợ thêm kinh phí cho doanh nghiệp khi họ lắp đặt, thay thế phương tiện, công cụ, trang thiết bị phục vụ cho NKT làm việc[6].

2. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về đảm bảo việc làm cho người khuyết tật ở Việt Nam hiện nay

Thứ nhất, cần ban hành quy định pháp luật theo hướng “đảm bảo sự công bằng” cho NKT để không bị phân biệt đối xử và kì thị, đáp ứng yêu cầu mọi NKT được đảm bảo việc làm mà không có bất kì sự phân biệt đối xử nào trên cơ sở khuyết tật[7] và đảm bảo nguyên tắc mọi người đều được bình đẳng trước pháp luật và không ai bị phân biệt đối xử. Việc hoàn thiện quy định pháp luật về chống phân biệt đối xử với NKT nhằm khắc phục những lỗ hổng pháp lý của pháp luật Việt Nam. Theo đó cần: (i) Sớm ban hành Luật Phòng, chống phân biệt đối xử nhằm đáp ứng yêu cầu của ILO và phù hợp với Hiến pháp năm 2013; (ii) Sớm sửa đổi, bổ sung vào Bộ luật Lao động đối với hành vi cấm phân biệt đối xử và kì thị đối với NKT ở tất cả các khâu của quá trình lao động, giúp NKT tự tin hơn trong cuộc sống và tự khẳng định được vị trí của mình trong xã hội.

Thứ hai, cần quy định rõ trách nhiệm của các chủ thể trong đảm bảo việc làm cho NKT. Cụ thể: (i) Nhà nước cần sớm ban hành các chính sách việc làm và đảm bảo việc làm cho NKT phù hợp với thực tiễn và đặc điểm khuyết tật của NKT; xây dựng hệ thống cơ chế chính sách về thị trường tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ do NKT tạo ra để giúp NKT tiêu thụ được sản phẩm của mình và duy trì việc làm thường xuyên; ban hành các chính sách ưu tiên nhất định cho NKT về môi trường lao động để NKT có điều kiện làm việc và đảm bảo việc làm phù hợp; (ii) Đối với người sử dụng lao động, Nhà nước cần cụ thể hoá trách nhiệm của NSDLĐ khi phải nhận NKT vào làm việc, như khôi phục lại quy định NSDLĐ có trách nhiệm phải nhận NKT vào làm việc theo tỉ lệ tương ứng căn cứ vào loại hình doanh nghiệp, ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp; tăng mức phạt tiền cao lên gấp nhiều lần hoặc áp dụng chế tài xử phạt hình sự cho đối tượng này nhằm buộc họ phải nhận thức được trách nhiệm của mình đối với NKT và từ đó sẵn sàng nhận NKT vào làm việc. Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền pháp luật về việc làm, đảm bảo việc làm cho NKT để thay đổi nhận thức, tư duy của cộng đồng xã hội, xoá bỏ tư tưởng coi NKT là người phụ thuộc, là người dư thừa trong gia đình và xã hội[8]. Làm được điều này giúp người khuyết tật được bình đẳng, tự tin khi làm việc và tạo việc làm.

Thứ ba, cần cụ thể hóa, chi tiết hóa chính sách ưu đãi đối với NSDLĐ khi tuyển dụng lao động khuyết tật. Cụ thể: (i) Với doanh nghiệp sử dụng dưới 30% lao động là NKT thì không được hỗ trợ vay vốn. Tuy nhiên, đối với doanh nghiệp này thì Nhà nước có thể hỗ trợ bằng cách miễn cho doanh nghiệp trích nộp bảo hiểm xã hội của những người lao động khuyết tật và số tiền thâm hụt đó sẽ được lấy từ nguồn ngân sách nhà nước; (ii) Những doanh nghiệp sử dụng lao động khuyết tật nếu không được hưởng chính sách ưu đãi thì được hỗ trợ tiền trang bị cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ lao động cho NKT; (iii) Cần có sự tách biệt giữa biện pháp khuyến khích và biện pháp bắt buộc đối với các doanh nghiệp sử dụng NKT nhằm giảm bớt gánh nặng cho NSDLĐ, đảm bảo sự hợp lý giữa các doanh nghiệp khác nhau trên thị trường; (iv) Xây dựng mạng lưới các trung tâm giới thiệu việc làm cho NKT dưới nhiều hình thức khác nhau như trung tâm giới thiệu việc làm, trung tâm người tìm việc - việc tìm người dành cho NKT hoặc các câu lạc bộ giới thiệu việc làm… Từ những chính sách ưu đãi đó NSDLĐ sẽ sẵn sàng chấp nhận NKT vào làm việc tạo cơ hội việc làm và giải quyết được công ăn việc làm cho NKT.

Có thể nói, những năm qua, việc làm và đảm bảo việc làm cho NKT ở Việt Nam đã được Đảng, Nhà nước quan tâm và chú trọng. Các quy định của pháp luật về vấn đề này được chỉnh sửa, bổ sung phù hợp với thực tế của đời sống xã hội và đặc điểm khuyết tật của NKT. Tuy nhiên, nhu cầu bổ sung và hoàn thiện pháp luật về việc làm cho NKT vẫn giữ vai trò quan trọng góp phần đảm bảo việc làm, đảm bảo thu nhập hợp pháp, thay đổi nhận thức của cộng đồng, xoá bỏ phân biệt đối xử và kì thị với NKT, từ đó, tạo động lực để NKT phát huy năng lực, vươn lên hòa nhập cộng đồng và đóng góp một phần cho xã hội.

ThS. Nguyễn Ngọc Lan

Đại học Thủ đô Hà Nội

Tài liệu tham khảo:

[1]. Xem thêm: Điều 2 Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật của Liên Hợp Quốc năm 2007.

[2]. Xem thêm: Báo cáo tổng kết công tác năm 2015 của Ban Điều phối các hoạt động hỗ trợ người khuyết tật.

[3]. Xem thêm: Điều 27 Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật.

[4]. Xem thêm: Dạy nghề, tạo việc làm cho NKT: cần chính sách bền vững và gắn kết hơn, http://sggp.org.vn/xahoi/2012/12/307836/, truy cập ngày 20/01/2018.

[5]. Báo cáo tổng kết của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội năm 2015.

[6]. Xem thêm: Đinh Thị Cẩm Hà (2014), Bảo đảm việc làm và thu nhập cho người khuyết tật, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 21 (277), T11/2014, tr. 51.

[7]. Xem thêm: Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật năm 2007.

[8]. Hoàng Kim Khuyên (2017), “Thực trạng các quy định về việc làm đối với NKT ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 02/2017, tr. 49.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.

Theo dõi chúng tôi trên: