Thứ ba 21/04/2026 22:58
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Việc làm cho người khuyết tật ở Việt Nam hiện nay

Ở nước ta, vấn đề việc làm đối với người khuyết tật luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm, chú trọng. Những năm qua, pháp luật về việc làm đối với người khuyết tật đã được ban hành, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện nhằm giúp cho những người khuyết tật có thu nhập ổn định, tự tin vào bản thân và hoà nhập với cộng đồng xã hội.

Người khuyết tật (NKT) là những người có sự khiếm khuyết suốt đời về thể chất, tinh thần, trí tuệ mà những khiếm khuyết này tạo ra những rào cản làm hạn chế khả năng tham gia đầy đủ và có hiệu quả vào các hoạt động xã hội trên cơ sở bình đẳng với những người khác[1]. Khoản 1 Điều 2 Luật Người khuyết tật quy định: “Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm sức lao động được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn”. NKT là thành viên của cộng đồng xã hội nên họ cũng cần có việc làm và đảm bảo việc làm như những người bình thường khác, trong đó, giải quyết việc làm và đảm bảo việc làm bền vững cho NKT là mục tiêu hướng đến và là nguyện vọng của cả cộng đồng. Hiện cả nước có trên 7 triệu NKT, 62% số đó trong độ tuổi lao động (15-60 tuổi); trong đó 32% còn khả năng lao động, 5% NKT đã qua đào tạo nghề. Từ năm 2011 đến nay, bình quân mỗi năm đào tạo được từ 8-10 ngàn NKT, trên 50% số NKT sau đào tạo tìm được việc làm phù hợp và có thu nhập[2].

1. Việc làm cho người khuyết tật - Từ quy định đến thực tiễn

Việc làm là hoạt động tạo ra thu nhập và không bị pháp luật cấm. Việc làm đặt ra đối với NKT không chỉ giúp cho NKT có thu nhập ổn định mà còn giúp họ hòa nhập cộng đồng, tự tin và được bình đẳng như những người lao động khác. Do vậy, đảm bảo việc làm cho NKT được ghi nhận trong Công ước quốc tế và trong pháp luật quốc gia.

Theo Liên Hợp Quốc, các quốc gia phải công nhận quyền được làm việc của NKT trên cơ sở bình đẳng với những người khác; trong đó các quốc gia thành viên phải bảo vệ và thừa nhận việc làm và đảm bảo việc làm cho NKT bằng cách ban hành pháp luật phù hợp, bảo đảm NKT không bị bắt lao động cực nhọc như nô lệ hay khổ sai, được bảo vệ trên cơ sở bình đẳng với những người khác, trước những công việc lao động cưỡng bức hoặc bắt buộc[3]. Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), cần thiết phải ban hành chính sách việc làm nhằm đảm bảo cho NKT được tiếp cận với cơ hội việc làm và nghiêm cấm phân biệt đối xử vì lí do khuyết tật. Ngoài ra, cũng theo tổ chức này thì người sử dụng lao động (NSDLĐ) phải có trách nhiệm nhận NKT vào làm việc.

Ở Việt Nam, vấn đề việc làm và đảm bảo việc làm cho NKT được Nhà nước và xã hội coi trọng, quan tâm thích đáng. Các quy định của Luật Người khuyết tật năm 2010 đã nhấn mạnh, Nhà nước cần tạo điều kiện để NKT có việc làm và làm việc phù hợp với sức khoẻ, đặc điểm khuyết tật của NKT (Điều 33), khuyến khích các cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp nhận NKT vào làm việc. Nếu doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động là NKT được hưởng chính sách ưu tiên hơn. Mặt khác, Nhà nước còn tạo điều kiện cho các doanh nghiệp sử dụng từ 30% tổng số lao động trở lên là NKT được hỗ trợ cải tạo điều kiện, môi trường làm việc, được miễn thuế thu nhập cá nhân, được vay vốn với lãi suất ưu đãi, được ưu tiên cho thuê đất, mặt bằng, mặt nước… Ngoài ra, để đảm bảo cho NKT có cuộc sống và việc làm phù hợp, Luật còn quy định thành lập quỹ hỗ trợ việc làm cho NKT. Đây là quỹ xã hội từ thiện với mục tiêu huy động nguồn lực trợ giúp NKT. Quỹ được hỗ trợ từ nguồn ngân sách nhà nước hoặc từ các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước đóng góp hoặc từ các khoản thu khác. Năm 2012, Bộ luật Lao động một lần nữa khẳng định việc làm và đảm bảo việc làm cho NKT là nhiệm vụ quan trọng, trong đó: “Nhà nước bảo trợ quyền lao động, tự tạo việc việc làm của lao động là NKT, có chính sách khuyến khích và ưu đãi NSDLĐ tạo việc làm và nhận lao động là NKT vào làm việc, theo quy định của Luật Người khuyết tật” (khoản 1 Điều 176).

Thứ nhất, trách nhiệm của Nhà nước trong việc đảm bảo việc làm cho người khuyết tật

Nhà nước có vai trò hết sức quan trọng trong việc định hướng nghề nghiệp và tạo việc làm cho NKT, bởi họ cũng là công dân, là lực lượng lao động của xã hội. Bộ luật Lao động còn quy định Nhà nước thực hiện bảo trợ quyền lao động, tự tạo việc làm của người lao động khuyết tật. Tuy nhiên, Luật Người khuyết tật cũng như Bộ luật Lao động chưa quy định cụ thể trách nhiệm của Nhà nước được thể hiện ở giai đoạn nào trong quá trình từ khâu tuyển dụng, toàn bộ quá trình lao động đến khi kết thúc quá trình lao động đó. Mặt khác, việc tạo điều kiện cho NKT vay vốn với lãi suất thấp nhưng lại không quy định cụ thể tỉ lệ đó là bao nhiêu dẫn đến khi thực hiện thủ tục vay vốn gặp rất nhiều khó khăn. Số lượng NKT được giải quyết vay vốn để tự tạo việc làm là rất thấp.

Thứ hai, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân

NKT là đối tượng lao động đặc thù nên các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân (gọi tắt là NSDLĐ) càng cần phải có sự quan tâm đặc biệt đến các đối tượng này, nhất là về việc làm và đảm bảo việc làm nhằm đảm bảo cho họ được bình đẳng như những người lao động bình thường khác, tránh sự phân biệt đối xử và kì thị. Biểu hiện rõ nhất của trách nhiệm đó là trong quá trình tuyển dụng NKT vào làm việc, Luật Người khuyết tật có quy định NSDLĐ không được từ chối tuyển dụng NKT có đủ tiêu chuẩn vào làm việc hoặc đặt ra tiêu chuẩn tuyển dụng trái quy định của pháp luật để hạn chế cơ hội làm việc của NKT. Trách nhiệm đó còn được thể hiện thông qua việc sắp xếp, bố trí công việc, môi trường làm việc, điều kiện làm việc cho NKT. Tuy nhiên, trên thực tế, doanh nghiệp tùy theo điều kiện, khả năng, nhu cầu của mình mà quyết định nhận hay không nhận NKT vào làm việc. Một thực tế khác là nếu doanh nghiệp sử dụng lao động khuyết tật thì được hưởng các chính sách ưu tiên về vay vốn và được vay với lãi suất thấp. Trong khi nếu doanh nghiệp không sử dụng lao động khuyết tật hoặc có sử dụng nhưng không đủ tỉ lệ thì không được hưởng chính sách này. Doanh nghiệp không sử dụng hoặc sử dụng không đủ số lượng lao động khuyết tật thì doanh nghiệp cũng không bị cơ quan có thẩm quyền nào xử lý. Vì vậy, cần sửa đổi theo hướng quy định rõ trách nhiệm phải nhận NKT vào làm việc để các doanh nghiệp có trách nhiệm hơn trong quá trình tuyển dụng người lao động khuyết tật. Mặt khác sẽ là cơ sở pháp lý để yêu cầu doanh nghiệp đóng tiền vào quỹ việc làm cho NKT, đảm bảo nguồn tài chính cho quỹ. Thực tế cho thấy, hiện nay, rất ít NSDLĐ thực hiện đúng chính sách của Nhà nước về tuyển dụng, sử dụng NKT. NKT có nhu cầu lao động nhưng chưa có việc làm trên phạm vi cả nước vẫn chiếm khoảng 30%[4].

Thứ ba, về chính sách ưu đãi cho người sử dụng lao động khi tuyển dụng người khuyết tật làm việc

Để khuyến khích các doanh nghiệp nhận NKT vào làm việc, Nhà nước có chính sách ưu đãi đối với các doanh nghiệp này. Mục đích của các chế độ, chính sách này nhằm hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong phát triển sản xuất kinh doanh, là động lực để các doanh nghiệp tiếp nhận NKT vào làm việc và đảm bảo việc làm thường xuyên cho NKT. Thực tế, số doanh nghiệp sử dụng lao động là NKT đạt tỉ lệ từ 30% tổng số lao động trở lên là không nhiều. Các doanh nghiệp sử dụng lao động khuyết tật nhưng tỉ lệ lại dưới 30% lao động khuyết tật thì lại không được hưởng chính sách ưu đãi của Nhà nước. Thực tế, có khoảng 65% doanh nghiệp sử dụng lao động NKT được hưởng các chế độ chính sách hỗ trợ về vay vốn, giảm thuế, hỗ trợ tín dụng[5]. Một số NKT tự tạo việc làm thì cũng chưa được vay vốn hoặc có được vay thì phải thông qua các tổ chức như Hội phụ nữ, Hội nông dân hay phải nhờ các tổ chức khác bảo lãnh. Vì vậy, cần có các văn bản hướng dẫn cụ thể hơn nhằm hỗ trợ doanh nghiệp sử dụng lao động khuyết tật và NKT. Mặt khác, để khuyến khích các doanh nghiệp nhận NKT vào làm việc, Nhà nước cần có thêm những quy định để hỗ trợ thêm kinh phí cho doanh nghiệp khi họ lắp đặt, thay thế phương tiện, công cụ, trang thiết bị phục vụ cho NKT làm việc[6].

2. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về đảm bảo việc làm cho người khuyết tật ở Việt Nam hiện nay

Thứ nhất, cần ban hành quy định pháp luật theo hướng “đảm bảo sự công bằng” cho NKT để không bị phân biệt đối xử và kì thị, đáp ứng yêu cầu mọi NKT được đảm bảo việc làm mà không có bất kì sự phân biệt đối xử nào trên cơ sở khuyết tật[7] và đảm bảo nguyên tắc mọi người đều được bình đẳng trước pháp luật và không ai bị phân biệt đối xử. Việc hoàn thiện quy định pháp luật về chống phân biệt đối xử với NKT nhằm khắc phục những lỗ hổng pháp lý của pháp luật Việt Nam. Theo đó cần: (i) Sớm ban hành Luật Phòng, chống phân biệt đối xử nhằm đáp ứng yêu cầu của ILO và phù hợp với Hiến pháp năm 2013; (ii) Sớm sửa đổi, bổ sung vào Bộ luật Lao động đối với hành vi cấm phân biệt đối xử và kì thị đối với NKT ở tất cả các khâu của quá trình lao động, giúp NKT tự tin hơn trong cuộc sống và tự khẳng định được vị trí của mình trong xã hội.

Thứ hai, cần quy định rõ trách nhiệm của các chủ thể trong đảm bảo việc làm cho NKT. Cụ thể: (i) Nhà nước cần sớm ban hành các chính sách việc làm và đảm bảo việc làm cho NKT phù hợp với thực tiễn và đặc điểm khuyết tật của NKT; xây dựng hệ thống cơ chế chính sách về thị trường tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ do NKT tạo ra để giúp NKT tiêu thụ được sản phẩm của mình và duy trì việc làm thường xuyên; ban hành các chính sách ưu tiên nhất định cho NKT về môi trường lao động để NKT có điều kiện làm việc và đảm bảo việc làm phù hợp; (ii) Đối với người sử dụng lao động, Nhà nước cần cụ thể hoá trách nhiệm của NSDLĐ khi phải nhận NKT vào làm việc, như khôi phục lại quy định NSDLĐ có trách nhiệm phải nhận NKT vào làm việc theo tỉ lệ tương ứng căn cứ vào loại hình doanh nghiệp, ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp; tăng mức phạt tiền cao lên gấp nhiều lần hoặc áp dụng chế tài xử phạt hình sự cho đối tượng này nhằm buộc họ phải nhận thức được trách nhiệm của mình đối với NKT và từ đó sẵn sàng nhận NKT vào làm việc. Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền pháp luật về việc làm, đảm bảo việc làm cho NKT để thay đổi nhận thức, tư duy của cộng đồng xã hội, xoá bỏ tư tưởng coi NKT là người phụ thuộc, là người dư thừa trong gia đình và xã hội[8]. Làm được điều này giúp người khuyết tật được bình đẳng, tự tin khi làm việc và tạo việc làm.

Thứ ba, cần cụ thể hóa, chi tiết hóa chính sách ưu đãi đối với NSDLĐ khi tuyển dụng lao động khuyết tật. Cụ thể: (i) Với doanh nghiệp sử dụng dưới 30% lao động là NKT thì không được hỗ trợ vay vốn. Tuy nhiên, đối với doanh nghiệp này thì Nhà nước có thể hỗ trợ bằng cách miễn cho doanh nghiệp trích nộp bảo hiểm xã hội của những người lao động khuyết tật và số tiền thâm hụt đó sẽ được lấy từ nguồn ngân sách nhà nước; (ii) Những doanh nghiệp sử dụng lao động khuyết tật nếu không được hưởng chính sách ưu đãi thì được hỗ trợ tiền trang bị cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ lao động cho NKT; (iii) Cần có sự tách biệt giữa biện pháp khuyến khích và biện pháp bắt buộc đối với các doanh nghiệp sử dụng NKT nhằm giảm bớt gánh nặng cho NSDLĐ, đảm bảo sự hợp lý giữa các doanh nghiệp khác nhau trên thị trường; (iv) Xây dựng mạng lưới các trung tâm giới thiệu việc làm cho NKT dưới nhiều hình thức khác nhau như trung tâm giới thiệu việc làm, trung tâm người tìm việc - việc tìm người dành cho NKT hoặc các câu lạc bộ giới thiệu việc làm… Từ những chính sách ưu đãi đó NSDLĐ sẽ sẵn sàng chấp nhận NKT vào làm việc tạo cơ hội việc làm và giải quyết được công ăn việc làm cho NKT.

Có thể nói, những năm qua, việc làm và đảm bảo việc làm cho NKT ở Việt Nam đã được Đảng, Nhà nước quan tâm và chú trọng. Các quy định của pháp luật về vấn đề này được chỉnh sửa, bổ sung phù hợp với thực tế của đời sống xã hội và đặc điểm khuyết tật của NKT. Tuy nhiên, nhu cầu bổ sung và hoàn thiện pháp luật về việc làm cho NKT vẫn giữ vai trò quan trọng góp phần đảm bảo việc làm, đảm bảo thu nhập hợp pháp, thay đổi nhận thức của cộng đồng, xoá bỏ phân biệt đối xử và kì thị với NKT, từ đó, tạo động lực để NKT phát huy năng lực, vươn lên hòa nhập cộng đồng và đóng góp một phần cho xã hội.

ThS. Nguyễn Ngọc Lan

Đại học Thủ đô Hà Nội

Tài liệu tham khảo:

[1]. Xem thêm: Điều 2 Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật của Liên Hợp Quốc năm 2007.

[2]. Xem thêm: Báo cáo tổng kết công tác năm 2015 của Ban Điều phối các hoạt động hỗ trợ người khuyết tật.

[3]. Xem thêm: Điều 27 Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật.

[4]. Xem thêm: Dạy nghề, tạo việc làm cho NKT: cần chính sách bền vững và gắn kết hơn, http://sggp.org.vn/xahoi/2012/12/307836/, truy cập ngày 20/01/2018.

[5]. Báo cáo tổng kết của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội năm 2015.

[6]. Xem thêm: Đinh Thị Cẩm Hà (2014), Bảo đảm việc làm và thu nhập cho người khuyết tật, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 21 (277), T11/2014, tr. 51.

[7]. Xem thêm: Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật năm 2007.

[8]. Hoàng Kim Khuyên (2017), “Thực trạng các quy định về việc làm đối với NKT ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 02/2017, tr. 49.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.
Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Bài viết phân tích các vấn đề cốt lõi về hợp đồng tiếp thị liên kết, đánh giá thực tiễn áp dụng và chỉ ra những bất cập trong quy định pháp luật, đặc biệt liên quan đến khái niệm pháp lý, cơ chế giao kết và hiệu lực phụ lục hợp đồng. Trên cơ sở đó, bài viết đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hợp đồng tiếp thị liên kết, nhằm bảo đảm tính minh bạch, công bằng trong quan hệ hợp đồng và góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của hoạt động tiếp thị liên kết trong môi trường thương mại điện tử tại Việt Nam.
Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự gia tăng của quan hệ hôn nhân xuyên biên giới, vấn đề giải quyết xung đột pháp luật về điều kiện kết hôn ngày càng trở nên cấp thiết. Bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá quy định hiện hành về xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch (lex patriae). Qua đó, nhận diện một số bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thực thi nguyên tắc này tại Việt Nam hiện nay.
Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Tóm tắt: Ở Việt Nam, chế định Hội thẩm nhân dân là phương thức thể chế hóa quyền làm chủ của Nhân dân trong hoạt động xét xử. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy, chế định này tồn tại một số hạn chế, dẫn đến sự tham gia của Nhân dân trong nhiều trường hợp còn hình thức. Bài viết phân tích vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử, nhận diện những hạn chế trong quy định pháp luật hiện hành về cơ chế lựa chọn, phân công, tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm pháp lý; từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của Hội thẩm nhân dân, đáp ứng yêu cầu công cuộc cải cách tư pháp trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.

Theo dõi chúng tôi trên: