Chủ nhật 07/12/2025 13:00
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Việc làm cho người khuyết tật ở Việt Nam hiện nay

Ở nước ta, vấn đề việc làm đối với người khuyết tật luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm, chú trọng. Những năm qua, pháp luật về việc làm đối với người khuyết tật đã được ban hành, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện nhằm giúp cho những người khuyết tật có thu nhập ổn định, tự tin vào bản thân và hoà nhập với cộng đồng xã hội.

Người khuyết tật (NKT) là những người có sự khiếm khuyết suốt đời về thể chất, tinh thần, trí tuệ mà những khiếm khuyết này tạo ra những rào cản làm hạn chế khả năng tham gia đầy đủ và có hiệu quả vào các hoạt động xã hội trên cơ sở bình đẳng với những người khác[1]. Khoản 1 Điều 2 Luật Người khuyết tật quy định: “Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm sức lao động được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn”. NKT là thành viên của cộng đồng xã hội nên họ cũng cần có việc làm và đảm bảo việc làm như những người bình thường khác, trong đó, giải quyết việc làm và đảm bảo việc làm bền vững cho NKT là mục tiêu hướng đến và là nguyện vọng của cả cộng đồng. Hiện cả nước có trên 7 triệu NKT, 62% số đó trong độ tuổi lao động (15-60 tuổi); trong đó 32% còn khả năng lao động, 5% NKT đã qua đào tạo nghề. Từ năm 2011 đến nay, bình quân mỗi năm đào tạo được từ 8-10 ngàn NKT, trên 50% số NKT sau đào tạo tìm được việc làm phù hợp và có thu nhập[2].

1. Việc làm cho người khuyết tật - Từ quy định đến thực tiễn

Việc làm là hoạt động tạo ra thu nhập và không bị pháp luật cấm. Việc làm đặt ra đối với NKT không chỉ giúp cho NKT có thu nhập ổn định mà còn giúp họ hòa nhập cộng đồng, tự tin và được bình đẳng như những người lao động khác. Do vậy, đảm bảo việc làm cho NKT được ghi nhận trong Công ước quốc tế và trong pháp luật quốc gia.

Theo Liên Hợp Quốc, các quốc gia phải công nhận quyền được làm việc của NKT trên cơ sở bình đẳng với những người khác; trong đó các quốc gia thành viên phải bảo vệ và thừa nhận việc làm và đảm bảo việc làm cho NKT bằng cách ban hành pháp luật phù hợp, bảo đảm NKT không bị bắt lao động cực nhọc như nô lệ hay khổ sai, được bảo vệ trên cơ sở bình đẳng với những người khác, trước những công việc lao động cưỡng bức hoặc bắt buộc[3]. Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), cần thiết phải ban hành chính sách việc làm nhằm đảm bảo cho NKT được tiếp cận với cơ hội việc làm và nghiêm cấm phân biệt đối xử vì lí do khuyết tật. Ngoài ra, cũng theo tổ chức này thì người sử dụng lao động (NSDLĐ) phải có trách nhiệm nhận NKT vào làm việc.

Ở Việt Nam, vấn đề việc làm và đảm bảo việc làm cho NKT được Nhà nước và xã hội coi trọng, quan tâm thích đáng. Các quy định của Luật Người khuyết tật năm 2010 đã nhấn mạnh, Nhà nước cần tạo điều kiện để NKT có việc làm và làm việc phù hợp với sức khoẻ, đặc điểm khuyết tật của NKT (Điều 33), khuyến khích các cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp nhận NKT vào làm việc. Nếu doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động là NKT được hưởng chính sách ưu tiên hơn. Mặt khác, Nhà nước còn tạo điều kiện cho các doanh nghiệp sử dụng từ 30% tổng số lao động trở lên là NKT được hỗ trợ cải tạo điều kiện, môi trường làm việc, được miễn thuế thu nhập cá nhân, được vay vốn với lãi suất ưu đãi, được ưu tiên cho thuê đất, mặt bằng, mặt nước… Ngoài ra, để đảm bảo cho NKT có cuộc sống và việc làm phù hợp, Luật còn quy định thành lập quỹ hỗ trợ việc làm cho NKT. Đây là quỹ xã hội từ thiện với mục tiêu huy động nguồn lực trợ giúp NKT. Quỹ được hỗ trợ từ nguồn ngân sách nhà nước hoặc từ các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước đóng góp hoặc từ các khoản thu khác. Năm 2012, Bộ luật Lao động một lần nữa khẳng định việc làm và đảm bảo việc làm cho NKT là nhiệm vụ quan trọng, trong đó: “Nhà nước bảo trợ quyền lao động, tự tạo việc việc làm của lao động là NKT, có chính sách khuyến khích và ưu đãi NSDLĐ tạo việc làm và nhận lao động là NKT vào làm việc, theo quy định của Luật Người khuyết tật” (khoản 1 Điều 176).

Thứ nhất, trách nhiệm của Nhà nước trong việc đảm bảo việc làm cho người khuyết tật

Nhà nước có vai trò hết sức quan trọng trong việc định hướng nghề nghiệp và tạo việc làm cho NKT, bởi họ cũng là công dân, là lực lượng lao động của xã hội. Bộ luật Lao động còn quy định Nhà nước thực hiện bảo trợ quyền lao động, tự tạo việc làm của người lao động khuyết tật. Tuy nhiên, Luật Người khuyết tật cũng như Bộ luật Lao động chưa quy định cụ thể trách nhiệm của Nhà nước được thể hiện ở giai đoạn nào trong quá trình từ khâu tuyển dụng, toàn bộ quá trình lao động đến khi kết thúc quá trình lao động đó. Mặt khác, việc tạo điều kiện cho NKT vay vốn với lãi suất thấp nhưng lại không quy định cụ thể tỉ lệ đó là bao nhiêu dẫn đến khi thực hiện thủ tục vay vốn gặp rất nhiều khó khăn. Số lượng NKT được giải quyết vay vốn để tự tạo việc làm là rất thấp.

Thứ hai, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân

NKT là đối tượng lao động đặc thù nên các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân (gọi tắt là NSDLĐ) càng cần phải có sự quan tâm đặc biệt đến các đối tượng này, nhất là về việc làm và đảm bảo việc làm nhằm đảm bảo cho họ được bình đẳng như những người lao động bình thường khác, tránh sự phân biệt đối xử và kì thị. Biểu hiện rõ nhất của trách nhiệm đó là trong quá trình tuyển dụng NKT vào làm việc, Luật Người khuyết tật có quy định NSDLĐ không được từ chối tuyển dụng NKT có đủ tiêu chuẩn vào làm việc hoặc đặt ra tiêu chuẩn tuyển dụng trái quy định của pháp luật để hạn chế cơ hội làm việc của NKT. Trách nhiệm đó còn được thể hiện thông qua việc sắp xếp, bố trí công việc, môi trường làm việc, điều kiện làm việc cho NKT. Tuy nhiên, trên thực tế, doanh nghiệp tùy theo điều kiện, khả năng, nhu cầu của mình mà quyết định nhận hay không nhận NKT vào làm việc. Một thực tế khác là nếu doanh nghiệp sử dụng lao động khuyết tật thì được hưởng các chính sách ưu tiên về vay vốn và được vay với lãi suất thấp. Trong khi nếu doanh nghiệp không sử dụng lao động khuyết tật hoặc có sử dụng nhưng không đủ tỉ lệ thì không được hưởng chính sách này. Doanh nghiệp không sử dụng hoặc sử dụng không đủ số lượng lao động khuyết tật thì doanh nghiệp cũng không bị cơ quan có thẩm quyền nào xử lý. Vì vậy, cần sửa đổi theo hướng quy định rõ trách nhiệm phải nhận NKT vào làm việc để các doanh nghiệp có trách nhiệm hơn trong quá trình tuyển dụng người lao động khuyết tật. Mặt khác sẽ là cơ sở pháp lý để yêu cầu doanh nghiệp đóng tiền vào quỹ việc làm cho NKT, đảm bảo nguồn tài chính cho quỹ. Thực tế cho thấy, hiện nay, rất ít NSDLĐ thực hiện đúng chính sách của Nhà nước về tuyển dụng, sử dụng NKT. NKT có nhu cầu lao động nhưng chưa có việc làm trên phạm vi cả nước vẫn chiếm khoảng 30%[4].

Thứ ba, về chính sách ưu đãi cho người sử dụng lao động khi tuyển dụng người khuyết tật làm việc

Để khuyến khích các doanh nghiệp nhận NKT vào làm việc, Nhà nước có chính sách ưu đãi đối với các doanh nghiệp này. Mục đích của các chế độ, chính sách này nhằm hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong phát triển sản xuất kinh doanh, là động lực để các doanh nghiệp tiếp nhận NKT vào làm việc và đảm bảo việc làm thường xuyên cho NKT. Thực tế, số doanh nghiệp sử dụng lao động là NKT đạt tỉ lệ từ 30% tổng số lao động trở lên là không nhiều. Các doanh nghiệp sử dụng lao động khuyết tật nhưng tỉ lệ lại dưới 30% lao động khuyết tật thì lại không được hưởng chính sách ưu đãi của Nhà nước. Thực tế, có khoảng 65% doanh nghiệp sử dụng lao động NKT được hưởng các chế độ chính sách hỗ trợ về vay vốn, giảm thuế, hỗ trợ tín dụng[5]. Một số NKT tự tạo việc làm thì cũng chưa được vay vốn hoặc có được vay thì phải thông qua các tổ chức như Hội phụ nữ, Hội nông dân hay phải nhờ các tổ chức khác bảo lãnh. Vì vậy, cần có các văn bản hướng dẫn cụ thể hơn nhằm hỗ trợ doanh nghiệp sử dụng lao động khuyết tật và NKT. Mặt khác, để khuyến khích các doanh nghiệp nhận NKT vào làm việc, Nhà nước cần có thêm những quy định để hỗ trợ thêm kinh phí cho doanh nghiệp khi họ lắp đặt, thay thế phương tiện, công cụ, trang thiết bị phục vụ cho NKT làm việc[6].

2. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về đảm bảo việc làm cho người khuyết tật ở Việt Nam hiện nay

Thứ nhất, cần ban hành quy định pháp luật theo hướng “đảm bảo sự công bằng” cho NKT để không bị phân biệt đối xử và kì thị, đáp ứng yêu cầu mọi NKT được đảm bảo việc làm mà không có bất kì sự phân biệt đối xử nào trên cơ sở khuyết tật[7] và đảm bảo nguyên tắc mọi người đều được bình đẳng trước pháp luật và không ai bị phân biệt đối xử. Việc hoàn thiện quy định pháp luật về chống phân biệt đối xử với NKT nhằm khắc phục những lỗ hổng pháp lý của pháp luật Việt Nam. Theo đó cần: (i) Sớm ban hành Luật Phòng, chống phân biệt đối xử nhằm đáp ứng yêu cầu của ILO và phù hợp với Hiến pháp năm 2013; (ii) Sớm sửa đổi, bổ sung vào Bộ luật Lao động đối với hành vi cấm phân biệt đối xử và kì thị đối với NKT ở tất cả các khâu của quá trình lao động, giúp NKT tự tin hơn trong cuộc sống và tự khẳng định được vị trí của mình trong xã hội.

Thứ hai, cần quy định rõ trách nhiệm của các chủ thể trong đảm bảo việc làm cho NKT. Cụ thể: (i) Nhà nước cần sớm ban hành các chính sách việc làm và đảm bảo việc làm cho NKT phù hợp với thực tiễn và đặc điểm khuyết tật của NKT; xây dựng hệ thống cơ chế chính sách về thị trường tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ do NKT tạo ra để giúp NKT tiêu thụ được sản phẩm của mình và duy trì việc làm thường xuyên; ban hành các chính sách ưu tiên nhất định cho NKT về môi trường lao động để NKT có điều kiện làm việc và đảm bảo việc làm phù hợp; (ii) Đối với người sử dụng lao động, Nhà nước cần cụ thể hoá trách nhiệm của NSDLĐ khi phải nhận NKT vào làm việc, như khôi phục lại quy định NSDLĐ có trách nhiệm phải nhận NKT vào làm việc theo tỉ lệ tương ứng căn cứ vào loại hình doanh nghiệp, ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp; tăng mức phạt tiền cao lên gấp nhiều lần hoặc áp dụng chế tài xử phạt hình sự cho đối tượng này nhằm buộc họ phải nhận thức được trách nhiệm của mình đối với NKT và từ đó sẵn sàng nhận NKT vào làm việc. Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền pháp luật về việc làm, đảm bảo việc làm cho NKT để thay đổi nhận thức, tư duy của cộng đồng xã hội, xoá bỏ tư tưởng coi NKT là người phụ thuộc, là người dư thừa trong gia đình và xã hội[8]. Làm được điều này giúp người khuyết tật được bình đẳng, tự tin khi làm việc và tạo việc làm.

Thứ ba, cần cụ thể hóa, chi tiết hóa chính sách ưu đãi đối với NSDLĐ khi tuyển dụng lao động khuyết tật. Cụ thể: (i) Với doanh nghiệp sử dụng dưới 30% lao động là NKT thì không được hỗ trợ vay vốn. Tuy nhiên, đối với doanh nghiệp này thì Nhà nước có thể hỗ trợ bằng cách miễn cho doanh nghiệp trích nộp bảo hiểm xã hội của những người lao động khuyết tật và số tiền thâm hụt đó sẽ được lấy từ nguồn ngân sách nhà nước; (ii) Những doanh nghiệp sử dụng lao động khuyết tật nếu không được hưởng chính sách ưu đãi thì được hỗ trợ tiền trang bị cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ lao động cho NKT; (iii) Cần có sự tách biệt giữa biện pháp khuyến khích và biện pháp bắt buộc đối với các doanh nghiệp sử dụng NKT nhằm giảm bớt gánh nặng cho NSDLĐ, đảm bảo sự hợp lý giữa các doanh nghiệp khác nhau trên thị trường; (iv) Xây dựng mạng lưới các trung tâm giới thiệu việc làm cho NKT dưới nhiều hình thức khác nhau như trung tâm giới thiệu việc làm, trung tâm người tìm việc - việc tìm người dành cho NKT hoặc các câu lạc bộ giới thiệu việc làm… Từ những chính sách ưu đãi đó NSDLĐ sẽ sẵn sàng chấp nhận NKT vào làm việc tạo cơ hội việc làm và giải quyết được công ăn việc làm cho NKT.

Có thể nói, những năm qua, việc làm và đảm bảo việc làm cho NKT ở Việt Nam đã được Đảng, Nhà nước quan tâm và chú trọng. Các quy định của pháp luật về vấn đề này được chỉnh sửa, bổ sung phù hợp với thực tế của đời sống xã hội và đặc điểm khuyết tật của NKT. Tuy nhiên, nhu cầu bổ sung và hoàn thiện pháp luật về việc làm cho NKT vẫn giữ vai trò quan trọng góp phần đảm bảo việc làm, đảm bảo thu nhập hợp pháp, thay đổi nhận thức của cộng đồng, xoá bỏ phân biệt đối xử và kì thị với NKT, từ đó, tạo động lực để NKT phát huy năng lực, vươn lên hòa nhập cộng đồng và đóng góp một phần cho xã hội.

ThS. Nguyễn Ngọc Lan

Đại học Thủ đô Hà Nội

Tài liệu tham khảo:

[1]. Xem thêm: Điều 2 Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật của Liên Hợp Quốc năm 2007.

[2]. Xem thêm: Báo cáo tổng kết công tác năm 2015 của Ban Điều phối các hoạt động hỗ trợ người khuyết tật.

[3]. Xem thêm: Điều 27 Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật.

[4]. Xem thêm: Dạy nghề, tạo việc làm cho NKT: cần chính sách bền vững và gắn kết hơn, http://sggp.org.vn/xahoi/2012/12/307836/, truy cập ngày 20/01/2018.

[5]. Báo cáo tổng kết của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội năm 2015.

[6]. Xem thêm: Đinh Thị Cẩm Hà (2014), Bảo đảm việc làm và thu nhập cho người khuyết tật, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 21 (277), T11/2014, tr. 51.

[7]. Xem thêm: Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật năm 2007.

[8]. Hoàng Kim Khuyên (2017), “Thực trạng các quy định về việc làm đối với NKT ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 02/2017, tr. 49.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.
Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Tóm tắt: Thông báo thi hành án là thủ tục không thể thiếu trong từng giai đoạn của quá trình tổ chức thi hành án dân sự. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về thông báo thi hành án còn tồn tại một số bất cập, hạn chế như chưa tương xứng giữa quyền với nghĩa vụ của đương sự, giữa trách nhiệm với quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và chủ yếu được thực hiện theo hình thức thông báo trực tiếp… Bài viết phân tích pháp luật thực định và thực tiễn thi hành, từ đó, đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến thông báo thi hành án để phù hợp thực tiễn, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích những bất cập trong quy định của pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con, từ đó, đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy quyền được giáo dục của con trong gia đình được thực hiện hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển của trẻ em và xã hội trong bối cảnh hiện nay.
Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết tập trung nghiên cứu một số học thuyết và phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật, chỉ ra những bất cập tồn tại trong quy định pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam chưa phù hợp với các học thuyết này. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng trong thời gian tới.
Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Tóm tắt: Cải cách thủ tục hành chính là yếu tố quan trọng, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính, thúc đẩy cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, đặc biệt là tạo động lực cho đổi mới sáng tạo. Nghiên cứu này phân tích sự cần thiết của cải cách thủ tục hành chính và thực trạng cải cách thủ tục hành chính ở Việt Nam trong việc khơi thông động lực đổi mới sáng tạo, từ đó, đề xuất giải pháp cải cách.
Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích quá trình phát triển tư tưởng về mối quan hệ giữa luật pháp và kinh tế học, tập trung vào trường phái kinh tế học pháp luật với phương pháp phân tích chi phí - lợi ích làm nổi bật vai trò quan trọng của việc cân nhắc các tác động hành vi cùng hiệu quả phân bổ nguồn lực trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật. Trên cơ sở đó, đề xuất áp dụng phương pháp kinh tế học pháp luật vào quy trình lập pháp tại Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả, tính minh bạch, sự công bằng xã hội và góp phần thúc đẩy cải cách pháp luật bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế, chuyển đổi số.
Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Tranh chấp lao động cá nhân là tranh chấp phổ biến nhất trong quan hệ lao động và ngày càng diễn biến phức tạp, cùng với đó, nhu cầu về cơ chế giải quyết tranh chấp hiệu quả, linh hoạt và bảo đảm quyền lợi cho các bên cũng ngày càng tăng trong lĩnh vực lao động. Trọng tài lao động với tính chất độc lập và được thiết kế theo cơ chế ba bên, có tiềm năng trở thành phương thức giải quyết tranh chấp lao động cá nhân hiệu quả. Bài viết phân tích thực trạng pháp luật hiện hành về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.
Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích các dấu hiệu nhận diện đặc trưng của tài sản số, những khó khăn, bất cập khi thiếu khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số, kinh nghiệm của Hoa Kỳ và giá trị tham khảo cho Việt Nam. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm xây dựng khung pháp lý vững chắc giúp Việt Nam có cơ hội phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực công nghệ, bảo vệ quyền lợi của người sở hữu tài sản số, tận dụng tối đa tiềm năng từ tài sản số và tiếp tục vững bước trên con đường phát triển kinh tế số.
Trách nhiệm pháp lý của người có ảnh hưởng trong hoạt động quảng cáo nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Trách nhiệm pháp lý của người có ảnh hưởng trong hoạt động quảng cáo nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Tóm tắt: Bài viết phân tích, làm rõ khái niệm người có ảnh hưởng, tình hình thực tiễn về mô hình quảng cáo thông qua người có ảnh hưởng và các hành vi quảng cáo gây ảnh hưởng đến quyền lợi của người tiêu dùng. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm của người có ảnh hưởng trong hoạt động quảng cáo nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Phát huy vai trò và trách nhiệm của thanh niên trong việc hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự trong kỷ nguyên mới

Phát huy vai trò và trách nhiệm của thanh niên trong việc hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên mới với những yêu cầu đặt ra về xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng như yêu cầu tháo gỡ những “điểm nghẽn”, “nút thắt” có nguyên nhân từ quy định của pháp luật hiện nay, việc hoàn thiện pháp luật nói chung và pháp luật về thi hành án dân sự nói riêng là cấp thiết, đặc biệt, dự án Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi) dự kiến được Quốc hội khóa XV thông qua tại kỳ họp thứ 10 vào tháng 10/2025. Trước bối cảnh đó, với vai trò là trụ cột, là nguồn lực chủ yếu để xây dựng và phát triển lực lượng sản xuất mới, đồng thời là đội ngũ tiên phong tham gia các lĩnh vực mới, thanh niên ngành thi hành án dân sự cần tiếp tục phát huy vai trò và trách nhiệm trong việc tham gia vào công tác hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự.
Hoạt động giám sát của Quốc hội trong thực hiện điều ước quốc tế - Một số tồn tại, hạn chế và kiến nghị, đề xuất hoàn thiện

Hoạt động giám sát của Quốc hội trong thực hiện điều ước quốc tế - Một số tồn tại, hạn chế và kiến nghị, đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá một số tồn tại, hạn chế trong hoạt động giám sát của Quốc hội Việt Nam đối với việc thực hiện điều ước quốc tế, từ đó, đưa ra một số kiến nghị, đề xuất nhằm hoàn thiện khuôn khổ pháp luật, bảo đảm công tác giám sát thực hiện điều ước quốc tế ngày càng đi vào thực chất, hiệu quả.

Theo dõi chúng tôi trên: