Thứ bảy 31/10/2026 08:26
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Xác minh điều kiện đương nhiên được xóa án tích - Thực tiễn và giải pháp thực hiện

Xóa án tích là “xóa bỏ việc mang án tích của người hoặc của pháp nhân thương mại đã bị kết án”. Đây là chế định nhân đạo của luật hình sự, thể hiện sự thừa nhận của Nhà nước về mặt pháp lý việc người từng bị kết án đã có đủ điều kiện theo luật định để được coi là chưa bị kết án và do vậy, họ không phải tiếp tục gánh chịu bất cứ hậu quả nào do việc đã từng bị kết án mang lại.

Sự thừa nhận này nhằm khuyến khích những người bị kết án chấp hành nghiêm chỉnh bản án và cải tạo tốt để hòa nhập cộng đồng. So với quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999, Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự năm 2015) tiếp tục duy trì 03 hình thức xóa án tích là đương nhiên được xóa án tích, xóa án tích theo quyết định của Tòa án và xóa án tích trong trường hợp đặc biệt. Trong đó, xóa án tích theo quyết định của Tòa án và xóa án tích trong trường hợp đặc biệt đều do Tòa án quyết định. Tuy nhiên, khác với Bộ luật Hình sự năm 1999, Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung cơ bản chế định đương nhiên được xóa án tích cho người bị kết án theo hướng tạo điều kiện thuận lợi hơn để người bị kết án tái hòa nhập cộng đồng, sớm ổn định làm ăn, sinh sống. Qua thực tế triển khai quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 về xác minh điều kiện đương nhiên được xóa án tích để cấp Phiếu lý lịch tư pháp cho thấy đã có nhiều kết quả tích cực. Bên cạnh đó, cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp vẫn gặp một số khó khăn, vướng mắc. Trên cơ sở nghiên cứu thực tế xác minh điều kiện đương nhiên được xóa án tích để cấp Phiếu lý lịch tư pháp của các Sở Tư pháp từ ngày Bộ luật Hình sự năm 2015 có hiệu lực đến nay, bài viết này đề cập quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 về đương nhiên được xóa án tích, thực tiễn triển khai thực hiện và kiến nghị những giải pháp để góp phần bảo đảm việc cấp Phiếu lý lịch tư pháp cho công dân được thuận lợi, chính xác và đúng thời hạn quy định.

1. Xác minh điều kiện đương nhiên được xóa án tích theo quy định của pháp luật

Luật Lý lịch tư pháp và các văn bản hướng dẫn thi hành đã có những quy định về việc xác minh điều kiện đương nhiên được xóa án tích. Theo đó, khoản 3 Điều 44 Luật Lý lịch tư pháp quy định: “Trong trường hợp cần thiết, Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia, Sở Tư pháp có trách nhiệm xác minh về điều kiện đương nhiên được xóa án tích khi cấp Phiếu lý lịch tư pháp”. Như vậy, theo quy định của Luật Lý lịch tư pháp, trong quá trình cập nhật thông tin của người bị kết án, khi xác định được người bị kết án đã có đủ điều kiện đương nhiên được xóa án tích, Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia, Sở Tư pháp có nhiệm vụ cập nhật thông tin, ghi rõ việc “đã được xóa án tích” vào Phiếu lý lịch tư pháp của người bị kết án; trường hợp cấp Phiếu lý lịch tư pháp số 1 sẽ ghi là “không có án tích”. Trách nhiệm của Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia, Sở Tư pháp trong việc xác minh về điều kiện đương nhiên được xóa án tích của người bị kết án cũng được quy định cụ thể tại Điều 17 Nghị định số 111/2010/NĐ-CP ngày 23/11/2010 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Lý lịch tư pháp (Nghị định số 111/2010/NĐ-CP). Việc xác minh được tiến hành trong trường hợp người bị kết án đã có đủ thời gian để đương nhiên được xóa án tích theo quy định của Bộ luật Hình sự, nhưng cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp chưa nhận được giấy chứng nhận đương nhiên được xóa án tích đối với người đó do Tòa án gửi đến. Cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp có nhiệm vụ xác minh về việc người đó có bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử trong thời hạn đang có án tích hay không. Việc xác minh được thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã, cơ quan, tổ chức nơi người bị kết án cư trú, làm việc sau khi chấp hành xong bản án. Cán bộ tư pháp - hộ tịch cấp xã có nhiệm vụ giúp Ủy ban nhân dân cùng cấp thực hiện phối hợp xác minh. Trong quá trình xác minh tại Ủy ban nhân dân cấp xã, cơ quan, tổ chức, nếu thấy cần thiết thì xác minh tại cơ quan tiến hành tố tụng có liên quan. Trình tự, thủ tục xác minh điều kiện đương nhiên được xóa án tích cũng được hướng dẫn chi tiết tại Thông tư liên tịch số 04/2012/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQP ngày 10/5/2012 của Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng hướng dẫn trình tự, thủ tục tra cứu, xác minh, trao đổi, cung cấp thông tin lý lịch tư pháp (Thông tư liên tịch số 04/2012/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQP).

So với Bộ luật Hình sự năm 1999, Bộ luật Hình sự năm 2015 đã quy định theo hướng mở rộng những trường hợp người bị kết án không bị coi là có án tích; rút ngắn thời hạn để được xóa án tích; thay đổi cách xác định thời điểm để tính thời hạn xóa án tích theo hướng sớm hơn so với quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 nhằm rút ngắn hơn thời gian xóa án tích. Việc xác định điều kiện đương nhiên được xóa án tích được quy định cụ thể tại Điều 70 Bộ luật Hình sự năm 2015 như sau:

“1. Đương nhiên được xóa án tích được áp dụng đối với người bị kết án không phải về các tội quy định tại Chương XIII và Chương XXVI của Bộ luật này khi họ đã chấp hành xong hình phạt chính, thời gian thử thách án treo hoặc hết thời hiệu thi hành bản án và đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này.

2. Người bị kết án đương nhiên được xóa án tích, nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn sau đây:

a) 01 năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, phạt tù nhưng được hưởng án treo;

b) 02 năm trong trường hợp bị phạt tù đến 05 năm;

c) 03 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm;

d) 05 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 15 năm, tù chung thân hoặc tử hình nhưng đã được giảm án.

Trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt bổ sung là quản chế, cấm cư trú, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, tước một số quyền công dân mà thời hạn phải chấp hành dài hơn thời hạn quy định tại các điểm a, b và c khoản này thì thời hạn đương nhiên được xóa án tích sẽ hết vào thời điểm người đó chấp hành xong hình phạt bổ sung.

3. Người bị kết án đương nhiên được xóa án tích, nếu từ khi hết thời hiệu thi hành bản án, người đó không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này.

4. Cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp có trách nhiệm cập nhật thông tin về tình hình án tích của người bị kết án và khi có yêu cầu thì cấp Phiếu lý lịch tư pháp xác nhận không có án tích, nếu có đủ điều kiện quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều này”.

- Về phạm vi các trường hợp đương nhiên được xóa án tích: Theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015, đương nhiên được xóa án tích được áp dụng với người bị kết án không phải về các tội quy định tại Chương XIII (Các tội xâm phạm an ninh quốc gia) và Chương XXVI (Các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh) khi họ đã chấp hành xong hình phạt chính, thời gian thử thách án treo hoặc hết thời hiệu thi hành bản án và đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 70 Bộ luật Hình sự năm 2015.

- Các thời hạn mà khi hết thời hạn này người bị kết án đã chấp hành xong bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới thì đương nhiên được xóa án tích: So với Bộ luật Hình sự năm 1999, khoản 2 Điều 70 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã rút ngắn thời hạn đương nhiên được xóa án tích từ các mức 03 năm, 05 năm, 07 năm đối với từng trường hợp xuống các mức thời hạn tương ứng là 02 năm, 03 năm và 05 năm. Cũng theo khoản 2 Điều 70 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì kể từ thời điểm chấp hành xong hình phạt chính, hết thời gian thử thách án treo mà người bị kết án chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới hoặc khi hết thời hiệu thi hành bản án người đó không thực hiện hành vi phạm tội mới thì đương nhiên được xóa án tích. Khi áp dụng thời hạn trên, cần lưu ý trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt bổ sung là quản chế, cấm cư trú, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, tước một số quyền công dân mà thời hạn phải chấp hành dài hơn thời hạn nêu trên thì thời hạn đương nhiên được xóa án tích sẽ hết vào thời điểm người đó chấp hành xong hình phạt bổ sung.

- Về thời hạn đương nhiên được xóa án tích đối với trường hợp hết thời hiệu thi hành bản án: Thời hạn này được tính kể từ khi hết thời hiệu thi hành bản án, cá nhân không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều 70 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Như vậy, so với Điều 64 Bộ luật Hình sự năm 1999, Điều 70 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định thời điểm để bắt đầu tính thời hạn xóa án tích sớm hơn khi người bị kết án chấp hành xong hình phạt chính. Theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999, người đã chấp hành xong hình phạt chính trở lại cộng đồng nhiều năm vẫn chưa được xóa án tích do chưa chấp hành xong hình phạt bổ sung và các quyết định khác của bản án. Điều này ảnh hưởng đến lợi ích của cá nhân người từng bị kết án khi tái hòa nhập cộng đồng. Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định thay đổi cách xác định thời điểm để tính thời hạn xóa án tích theo hướng sớm hơn so với quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 nhằm rút ngắn hơn thời gian xóa án tích, tạo điều kiện cho người bị kết án tái hòa nhập cộng đồng sớm hơn.

- Trách nhiệm của cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp trong việc cập nhật thông tin về tình hình án tích của người bị kết án cũng như trong việc cấp Phiếu lý lịch tư pháp xác nhận không có án tích theo yêu cầu của người đã đương nhiên được xóa án tích: Quy định này nhằm thống nhất đầu mối, đề cao trách nhiệm của cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp trong việc xóa án tích, tạo điều kiện thuận lợi cho cá nhân trong việc xác nhận đương nhiên được xóa án tích để tái hòa nhập cộng đồng và cũng phù hợp với quy định của pháp luật lý lịch tư pháp về thẩm quyền quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp.

Như vậy, theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015, người bị kết án sẽ đương nhiên được xóa án tích nếu: (i) Đã chấp hành xong hình phạt chính, nộp án phí, bồi thường thiệt hại, các hình phạt bổ sung khác. (ii) Không có hành vi phạm tội mới trong thời hạn theo quy định. Trường hợp có hành vi phạm tội khác thì phải xảy ra trước hoặc sau thời hạn đang có án tích về tội đó theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015.

2. Thực tiễn công tác xác minh điều kiện đương nhiên được xóa án tích trong thời gian qua

2.1. Những thuận lợi

Ngoài những trường hợp xóa án tích theo quyết định của Tòa án và xóa án tích trong trường hợp đặc biệt, pháp luật hình sự đã quy định rõ trách nhiệm của cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp trong việc cập nhật thông tin về tình hình án tích của người bị kết án cũng như trong việc cấp Phiếu lý lịch tư pháp xác nhận không có án tích theo yêu cầu của người đã đương nhiên được xóa án tích. Quy định này vừa phù hợp với quy định của Luật Lý lịch tư pháp trao cho Bộ Tư pháp thẩm quyền quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp trong phạm vi cả nước và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong việc quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp tại địa phương.

(i) Đối với cá nhân

Nếu như trước kia, thực hiện quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999, để được xóa án tích, cá nhân phải nộp đầy đủ hồ sơ xin xóa án tích lên Tòa án đã xét xử bản án hình sự. Tòa án chỉ cấp giấy chứng nhận đương nhiên được xóa án tích chỉ khi cá nhân có yêu cầu hợp lệ. Thực tế đây là một thủ tục rườm rà, phức tạp, gây tốn kém thời gian, công sức cho người dân. Thực hiện quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015, cá nhân chỉ cần chuẩn bị một bộ hồ sơ yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp và nộp đến cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp mà không phải cung cấp bất kỳ giấy tờ nào khác, cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp sẽ có trách nhiệm xác minh điều kiện đương nhiên được xóa án tích và cấp Phiếu lý lịch tư pháp xác nhận “không có án tích” hoặc “đã được xóa án tích” nếu cá nhân đủ điều kiện theo quy định của pháp luật. Do đó, quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 về đương nhiên được xóa án tích tạo thuận lợi lớn cho cá nhân trong việc xóa án tích và tái hòa nhập cộng đồng.

(ii) Đối với cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp

- Pháp luật về lý lịch tư pháp đã quy định cụ thể trình tự, thủ tục và thời hạn cấp Phiếu lý lịch tư pháp nói chung và trong trường hợp phải xác minh điều kiện đương nhiên được xóa án tích nói riêng. Đặc biệt, tại Nghị định số 111/2010/NĐ-CP và Thông tư liên tịch số 04/2012/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQP đã quy định cụ thể về cơ chế phối hợp và trách nhiệm của mỗi ngành (Tư pháp, Tòa án, Viện kiểm sát, Công an, Quốc phòng) ở trung ương và địa phương trong phối hợp tra cứu, xác minh thông tin để cấp Phiếu lý lịch tư pháp. Mối quan hệ phối hợp sẵn có trong công tác xây dựng cơ sở dữ liệu và cấp Phiếu lý lịch tư pháp là lợi thế quan trọng giúp cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp thực hiện tốt vai trò xác minh điều kiện đương nhiên được xóa án tích để cấp Phiếu lý lịch tư pháp đối với người từng bị kết án. Hơn nữa, để bảo đảm thời hạn cấp Phiếu lý lịch tư pháp, Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia và Cục Hồ sơ nghiệp vụ, Bộ Công an (trước là Cục Hồ sơ nghiệp vụ cảnh sát) đã xây dựng, ban hành và triển khai hiệu quả Quy chế phối hợp số 02/QCPH-TTLLTPQG-C53 ngày 29/6/2018 về việc phối hợp tra cứu, xác minh thông tin để cấp Phiếu lý lịch tư pháp. Với việc ban hành và triển khai đồng bộ các văn bản này, trong thời gian qua đã cơ bản khắc phục được những hạn chế, vướng mắc trong công tác cấp Phiếu lý lịch tư pháp, bảo đảm thời hạn cấp Phiếu lý lịch tư pháp nói chung và thời hạn xác minh điều kiện đương nhiên được xóa án tích để cấp Phiếu lý lịch tư pháp nói riêng.

- Theo quy định tại Điều 70 Bộ luật Hình sự năm 2015, một trong những điều kiện đương nhiên được xóa án tích là người bị kết án không có hành vi phạm tội mới theo thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này. Để xác định một người có hành vi phạm tội mới, theo quy định tại khoản 1, khoản 4 Điều 179 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Sở Tư pháp căn cứ vào quyết định khởi tố bị can của cơ quan điều tra đã được Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp phê chuẩn hoặc quyết định khởi tố bị can của Viện kiểm sát theo quy định. Ngoài ra, Sở Tư pháp còn phải căn cứ vào một số quyết định khác của cơ quan tiến hành tố tụng, như: Quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố bị can; quyết định đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án; quyết định phục hồi điều tra, phục hồi vụ án... Như vậy, trường hợp người từng bị kết án có hành vi phạm tội mới thì Sở Tư pháp cũng phải xem xét về tiến trình tố tụng của người đó để thực hiện cấp Phiếu lý lịch tư pháp được chính xác, đầy đủ. Mặt khác, theo Điều 4 Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015, có 03 hệ thống cơ quan điều tra, bao gồm: Cơ quan điều tra của Công an nhân dân; cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân; cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Ngoài ra, tại Điều 9 Luật này còn có 07 nhóm cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra. Việc thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 17 Nghị định số 111/2010/NĐ-CP và Điều 25 Thông tư liên tịch số 04/2012/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQP, Sở Tư pháp chỉ tiến hành xác minh thông tin đương sự có bị khởi tố hay không tại Ủy ban nhân dân cấp xã/Công an cấp xã hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc là chưa đủ thông tin[1] vì hầu như cơ quan điều tra không gửi quyết định khởi tố bị can đã được Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp phê chuẩn về nơi cư trú, nơi làm việc của bị can. Vì vậy, thủ tục xác minh về hành vi phạm tội mới không thể xác minh tại cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp mà phải xác minh tại nhiều nơi, nhiều cơ quan khác nhau.

Để tháo gỡ vướng mắc này, thời gian qua, Bộ Tư pháp đã có giải pháp cho các cơ quan cấp Phiếu lý lịch tư pháp. Theo đó, Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia và Cục Hồ sơ nghiệp vụ (trước là Cục Hồ sơ nghiệp vụ cảnh sát) đã ký Quy chế phối hợp số 02/QCPH-TTLLTPQG-C53, Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia phối hợp với Cục Hồ sơ nghiệp vụ và Công an cấp tỉnh thực hiện tra cứu, xác minh và trả kết quả cho Sở Tư pháp, trong đó có tích hợp cả thông tin về hành vi phạm tội mới. Đây là giải pháp tháo gỡ vướng mắc giúp các Sở Tư pháp không cần phải thực hiện xác minh hành vi phạm tội mới tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú và ở các cơ quan khác, bảo đảm kết quả cấp Phiếu lý lịch tư pháp chính xác, đúng thời hạn theo quy định của pháp luật.

2.2. Một số khó khăn, vướng mắc trong việc xác minh điều kiện đương nhiên được xóa án tích trong công tác lý lịch tư pháp

Trước khi Bộ luật Hình sự năm 2015 có hiệu lực, thẩm quyền xóa án tích do cơ quan Tòa án thực hiện, vì vậy, các Sở Tư pháp thường yêu cầu cá nhân có yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp cung cấp giấy chứng nhận xóa án tích do cơ quan Tòa án cấp. Sở Tư pháp thực hiện xác minh điều kiện đương nhiên được xóa án tích “trong trường hợp cần thiết” theo quy định của Luật Lý lịch tư pháp.

Sau khi Bộ luật Hình sự năm 2015 có hiệu lực, Sở Tư pháp thực hiện xác minh điều kiện đương nhiên được xóa án tích đối với tất cả các trường hợp yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp có thông tin án tích. Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia và các Sở Tư pháp khi nhận được hồ sơ yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp với mục đích xóa án tích thì ngoài việc xác minh về việc thi hành xong bản án, cơ quan cấp Phiếu lý lịch tư pháp có nhiệm vụ xác minh người bị kết án “không có hành vi phạm tội mới”. Theo báo cáo của các Sở Tư pháp, tính đến ngày 30/6/2020, Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia và Sở Tư pháp đã tiến hành xác minh, cấp 20.706 Phiếu lý lịch tư pháp[2] cho các trường hợp đương nhiên được xóa án tích.

Nghiên cứu thực tiễn thực hiện pháp luật lý lịch tư pháp liên quan đến vấn đề xóa án tích cho các trường hợp đương nhiên được xóa án tích trong những năm qua, bên cạnh những thuận tiện cho người dân và tính hợp lý trong quy định của pháp luật liên quan vì mục tiêu phục vụ nhân dân thì việc thực hiện xác minh điều kiện đương nhiên được xóa án tích tại Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia và các Sở Tư pháp đã gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cụ thể:

Hiện nay, việc xác minh người bị kết án chấp hành xong hay chưa chấp hành xong bản án gặp một số khó khăn sau:

Thứ nhất, không có thông tin về quá trình thi hành án

Trường hợp các Sở Tư pháp thường gặp khi tra cứu, xác minh đối với thông tin có trước ngày 01/7/2010 (ngày Luật Lý lịch tư pháp có hiệu lực), đó là kết quả tra cứu, xác minh tại cơ quan Công an xác nhận có án tích. Sở Tư pháp đề nghị Tòa án đã xét xử cung cấp bản án và các cơ quan có liên quan cung cấp thông tin về quá trình thi hành án, tuy nhiên, do bản án đã được Tòa án tuyên cách đây nhiều năm nên người bị kết án cũng như Tòa án, cơ quan có liên quan không còn lưu giữ được hồ sơ bản án và các giấy tờ, tài liệu liên quan đến quá trình thi hành án… Cơ quan cấp Phiếu lý lịch tư pháp đã phải xác minh tại nhiều nơi nhưng vẫn không đủ căn cứ để xác định rõ tình trạng án tích của công dân khi cấp Phiếu lý lịch tư pháp.

Thứ hai, việc chấp hành hình phạt chính

Thực tiễn xác minh điều kiện đương nhiên được xóa án tích cho thấy, nhiều trường hợp người bị kết án và bị tuyên phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn. Tuy nhiên, kết quả xác minh tại các cơ quan có liên quan cho thấy đương sự đã thi hành xong các quyết định khác trong bản án hình sự (có văn bản xác nhận của cơ quan có thẩm quyền) nhưng không có hoặc không còn lưu giữ giấy chứng nhận đã chấp hành xong hình phạt tù. Mặt khác, đương sự cũng đủ điều kiện về mặt thời gian không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn đang có án tích quy định tại Điều 70 Bộ luật Hình sự năm 2015. Việc không có thông tin về việc chấp hành xong hình phạt chính của đương sự cũng là một khó khăn cho Sở Tư pháp khi cấp Phiếu lý lịch tư pháp.

Tương tự với hình phạt tù có thời hạn, nhiều trường hợp người bị kết án phạt tù nhưng cho hưởng án treo, phạt cải tạo không giam giữ nhưng quá trình xác minh điều kiện đương nhiên được xóa án tích thấy rằng, kết quả tra cứu, xác minh tại các cơ quan có liên quan đều không có thông tin về giấy chứng nhận đã chấp hành xong thời gian thử thách án treo, giấy chứng nhận chấp hành xong hình phạt cải tạo không giam giữ. Kết quả xác minh tại cơ quan được giao giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách (chủ yếu là Ủy ban nhân dân cấp xã) đều chỉ trả lời không có thông tin hoặc không tìm thấy hồ sơ thi hành án của đương sự hoặc trường hợp tính đến thời điểm hiện tại, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người chấp hành hình phạt đó không còn hoạt động (đã phá sản, giải thể). Những khó khăn, vướng mắc trên khiến Sở Tư pháp lúng túng trong việc xác định điều kiện đương nhiên được xóa án tích và cấp Phiếu lý lịch tư pháp cho đương sự.

Thứ ba, việc chấp hành hình phạt bổ sung, nghĩa vụ dân sự, án phí theo quy định của Luật Thi hành án dân sự

Theo khoản 1 Điều 30, điểm c khoản 5 Điều 31 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014), Điều 4 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 33/2020/NĐ-CP ngày 17/3/2020 của Chính phủ), trong thời hạn 05 năm, kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền ra quyết định thi hành án. Hết thời hiệu này, cơ quan Thi hành án dân sự sẽ từ chối yêu cầu thi hành án.

Thực tế khi xác minh về tình trạng thi hành án phí, nghĩa vụ dân sự, bồi thường thiệt hại… thấy rằng, đối với việc thi hành các quyết định dân sự này, có nhiều trường hợp sau khi bị kết án, những người bị kết án với nhiều lý do khác nhau đã không thi hành và theo quy định sẽ không đủ điều kiện đương nhiên được xóa án tích. Hiện nay, do nhu cầu của cá nhân, những người này thực hiện yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp và có mong muốn thi hành các quyết định dân sự nêu trên để đương nhiên được xóa án tích. Tuy nhiên, có rất nhiều trường hợp, sau khi nhận được đề nghị của những người này, cơ quan Thi hành án dân sự đã từ chối thi hành (trường hợp thi hành án theo yêu cầu) vì đã quá thời hiệu thi hành án (trừ những trường hợp chứng minh được do trở ngại khách quan theo quy định). Tuy nhiên, có nhiều trường hợp khó khăn trong việc chứng minh, lấy xác nhận của cơ quan có thẩm quyền về những trở ngại do bản án đã quá lâu, do sự thay đổi về đơn vị hành chính, con người; hoặc không có khả năng, điều kiện để thi hành, trình độ hiểu biết pháp luật kém, người được thi hành án không có yêu cầu thi hành… Hiện nay, mặc dù có mong muốn được thi hành nhưng vì cơ quan Thi hành án dân sự không thụ lý nên những người bị kết án này không thể hoàn thành các quyết định dân sự. Đặc biệt, có những trường hợp, sau khi cơ quan Thi hành án dân sự từ chối thi hành thì những người bị kết án đã liên hệ với người được thi hành án dân sự để thi hành nhưng người này đã chết hoặc không thể liên lạc được do đi khỏi nơi cư trú hoặc nhiều nguyên nhân khác. Vì vậy, những người bị kết án này không thể đương nhiên được xóa án tích, gây bức xúc và nhiều khó khăn trong công tác tiếp nhận, xử lý và cấp Phiếu lý lịch tư pháp tại các địa phương.

Đối với khó khăn, vướng mắc trên, Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia đã phối hợp với Tổng cục Thi hành án dân sự cùng tháo gỡ, tạo điều kiện cho công dân được thi hành các nghĩa vụ dân sự trong bản án hình sự (Công văn số 648/TCTHADS-NV2 ngày 03/3/2020 của Tổng cục Thi hành án dân sự gửi Cục Thi hành án dân sự tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương). Tuy nhiên, việc thực hiện của các cơ quan Thi hành án dân sự chưa được thống nhất, có nơi thực hiện, có nơi chưa thực hiện, từ chối người có yêu cầu, mong muốn được thi hành án.

Thứ tư, việc thi hành án dân sự trong bản án hình sự đối với những án tích có trước thời điểm Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 1993 được ban hành

Hiện nay, đối với các bản án có trước năm 1993, việc thi hành án phí là do Tòa án thực hiện. Một số Chi cục Thi hành án dân sự từ chối thụ lý đối với nghĩa vụ thi hành án phí, tịch thu sung quỹ nhà nước đối với những án tích có trước thời điểm Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 1993 được ban hành với lý do thời điểm đó Tòa án là cơ quan có thẩm quyền thi hành các nghĩa vụ trên, không phải trách nhiệm của cơ quan Thi hành án dân sự mặc dù người phải thi hành án chủ động đề xuất thi hành án để đủ điều kiện đương nhiên được xóa án tích. Đối với những trường hợp này, người có yêu cầu xin cấp Phiếu lý lịch tư pháp có thể đề nghị cơ quan Thi hành án dân sự địa phương cho thi hành những nghĩa vụ dân sự còn lại của bản án hình sự để đương nhiên được xóa án tích hay không?

Thứ năm, đương sự chưa thi hành án do lỗi của cơ quan nhà nước

Theo phản ánh của một số Sở Tư pháp, có trường hợp sau khi xác minh thông tin về điều kiện đương nhiên được xóa án tích cho đương sự thấy rằng, bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án đã xét xử sơ thẩm có kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp. Tuy nhiên, do sơ suất, Tòa án đã xét xử sơ thẩm không chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án có thẩm quyền xét xử phúc thẩm nên đến khi xác minh thông tin, vụ án chưa được xét xử theo trình tự phúc thẩm, đương sự chưa thi hành án. Kết quả tra cứu, xác minh này khiến Sở Tư pháp lúng túng, không biết phải cấp Phiếu lý lịch tư pháp cho đương sự là có án tích hay không có án tích.

Trường hợp Tòa án đã xét xử sơ thẩm ra quyết định ủy thác thi hành án một thời gian dài (nhiều năm) nhưng Tòa án được ủy thác không nhận được quyết định nên không ra quyết định thi hành án. Theo quy định tại khoản 2 Điều 364 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì: “Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được quyết định ủy thác thi hành của Chánh án Tòa án đã xét xử sơ thẩm thì Chánh án Tòa án được ủy thác phải ra quyết định thi hành án”. Tuy nhiên, thực tế có trường hợp, Tòa án được ủy thác không nhận được văn bản ủy thác, dẫn đến việc người bị kết án chưa thể thi hành hình phạt ngoài tù hoặc án phạt tù cho hưởng án treo, cải tạo không giam giữ… Trường hợp này cũng gây khó khăn cho Sở Tư pháp trong việc xác định điều kiện đương nhiên được xóa án tích của đương sự.

3. Một số đề xuất, kiến nghị

Xuất phát từ những khó khăn, vướng mắc trong quá trình xác minh điều kiện đương nhiên được xóa án tích theo quy định tại Bộ luật Hình sự năm 2015 nêu trên, một số địa phương đề xuất cần có một bộ thủ tục hành chính về cấp Phiếu lý lịch tư pháp đối với các trường hợp này, trong đó quy định các loại giấy tờ cần thiết để chứng minh đủ điều kiện đương nhiên được xóa án tích (như bản án, các loại quyết định, giấy tờ liên quan đến việc thi hành án của người bị kết án…). Tuy nhiên, đề xuất này lại quay trở lại sự hạn chế của Bộ luật Hình sự năm 1999: “Thủ tục xin cấp giấy chứng nhận đã được xóa án tích hết sức phức tạp, gây phiền hà, tốn kém thời gian, công sức cho người dân (ví dụ: Họ phải đi xin bản án, xin giấy xác nhận đã chấp hành xong các hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án, xác nhận về việc không phạm tội mới…)[3]. Có trường hợp, mặc dù đã thi hành xong bản án nhưng do không xin được đầy đủ các giấy tờ nên đã không đủ điều kiện được xóa án tích.

Để bảo đảm thi hành những quy định mới của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với các trường hợp đương nhiên được xóa án tích, khắc phục những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn xác minh điều kiện đương nhiên được xóa án tích trong thời gian qua, tác giả đề xuất một số giải pháp như sau:

Thứ nhất, các bộ, ngành cần có hướng dẫn nghiệp vụ và chỉ đạo các cơ quan, đơn vị thuộc lĩnh vực do bộ, ngành mình quản lý để xử lý kịp thời, cụ thể đối với các trường hợp có khó khăn, vướng mắc nêu trên nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho Sở Tư pháp trong việc xác minh điều kiện đương nhiên được xóa án tích và cấp Phiếu lý lịch tư pháp cho người có yêu cầu.

Thứ hai, tăng cường công tác xây dựng cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp: Bảo đảm các cơ quan có liên quan (Tòa án, Viện kiểm sát, Công an, Thi hành án dân sự…) cung cấp kịp thời và đầy đủ các thông tin lý lịch tư pháp cho cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp (Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia và các Sở Tư pháp) theo quy định. Đồng thời, các cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp có trách nhiệm tiếp nhận, xử lý, cập nhật kịp thời, đầy đủ các thông tin lý lịch tư pháp nhận được vào cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp.

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tiếp tục quan tâm hơn nữa, bố trí biên chế và kinh phí cho Sở Tư pháp của địa phương mình để xây dựng cơ sở dữ liệu và cấp Phiếu lý lịch tư pháp.

Thứ ba, hiện nay, pháp luật quy định trách nhiệm của cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp trong việc cập nhật thông tin đương nhiên được xóa án tích và cấp Phiếu lý lịch tư pháp cho người bị kết án khi có đủ điều kiện. Vì vậy, để bảo đảm thời hạn cấp Phiếu lý lịch tư pháp cho công dân cũng như phục vụ việc xác minh điều kiện đương nhiên được xóa án tích, Sở Tư pháp cần phối hợp chặt chẽ với các cơ quan có liên quan như cơ quan Thi hành án hình sự, cơ quan Thi hành án dân sự, cơ quan Tòa án để việc phối hợp tra cứu, xác minh, cung cấp thông tin lý lịch tư pháp bảo đảm chính xác, kịp thời, đầy đủ theo quy định của pháp luật.

Đồng thời, để kết quả cấp Phiếu lý lịch tư pháp nói chung, kết quả xác minh điều kiện đương nhiên được xóa án tích để cấp Phiếu lý lịch tư pháp nói riêng bảo đảm chính xác, đúng thời hạn theo quy định của pháp luật, các Sở Tư pháp cần phối hợp chặt chẽ với Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia và cơ quan hồ sơ nghiệp vụ thực hiện Quy chế phối hợp số 02/QCPH-TTLLTPQG-C53 trong tra cứu, xác minh thông tin để cấp Phiếu lý lịch tư pháp.

Thứ tư, tăng cường công tác tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ, trong đó chú trọng bồi dưỡng những nội dung mới liên quan đến lĩnh vực lý lịch tư pháp của Bộ luật Hình sự năm 2015, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và nghiệp vụ xác minh điều kiện đương nhiên được xóa án tích.

Thứ năm, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác lý lịch tư pháp. Thiết lập và thực hiện kết nối, chia sẻ thông tin giữa cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và các cơ sở dữ liệu chuyên ngành khác có liên quan như: Cơ sở dữ liệu của Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan Thi hành án dân sự, cơ quan Thi hành án hình sự…

Chế định đương nhiên được xóa án tích theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 là một chế định mang tính nhân đạo của pháp luật hình sự, thể hiện sự thừa nhận về mặt pháp lý đối với người bị kết án không còn mang án tích và vì vậy, không phải tiếp tục gánh chịu hậu quả do việc kết án mang lại, tạo điều kiện cho người phạm tội không bị mặc cảm bởi sự phân biệt của xã hội. Biểu hiện pháp lý cơ bản nhất của chế định xóa án tích là người được xóa án tích “coi như chưa bị kết án”. Bản chất nhân đạo của chính sách này càng được thể hiện rõ nét khi gắn với việc cấp Phiếu lý lịch tư pháp cho người đã được xóa án tích. Thay vì việc xin giấy chứng nhận xóa án tích của cơ quan Tòa án, người được xóa án tích nhận được Phiếu lý lịch tư pháp có nội dung xác nhận “không có án tích” hoặc “đã được xóa án tích” sẽ tham gia các quan hệ xã hội như xin việc làm, xuất khẩu lao động… và hòa nhập cộng đồng dễ dàng hơn. Với những nghiên cứu về khó khăn, vướng mắc phát sinh trong thực tế quá trình xác minh điều kiện đương nhiên được xóa án tích và đưa ra những đề xuất sẽ phần nào giúp cho công tác xác minh điều kiện đương nhiên được xóa án tích được thuận lợi và bảo đảm thời hạn cấp Phiếu lý lịch tư pháp cho công dân theo quy định./.


[1] Do Nghị định số 111/2010/NĐ-CP và Thông tư liên tịch số 04/2012/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQP ban hành trước khi có Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015 nên nhiều nội dung, trong đó có nội dung này còn bất cập.

[2] Theo Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện Luật Lý lịch tư pháp của Bộ Tư pháp.

[3] Vụ Pháp luật hình sự - hành chính, Bộ Tư pháp, Bình luận Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) - Phần những quy định chung, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2019, tr. 269.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Đổi mới công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho người lao động trong tình hình mới

Đổi mới công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho người lao động trong tình hình mới

Đổi mới nội dung, phương thức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng thiết thực, dễ tiếp cận, gắn với quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động là yêu cầu đặt ra trong bối cảnh quan hệ lao động có nhiều thay đổi, chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ. Đề án "Đổi mới công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật đến công nhân, viên chức, lao động trong tình hình mới" của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam xác định nhiều nhiệm vụ, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác này trong toàn hệ thống Công đoàn.
Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.

Theo dõi chúng tôi trên: