Thứ sáu 01/05/2026 18:22
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Xây dựng khái niệm điểm dừng pháp luật

Bài viết đề cập tới sự cần thiết của việc nghiên cứu và xây dựng khái niệm “điểm dừng pháp luật” về mặt khoa học làm cơ sở lý luận để xác định điểm dừng pháp luật trong thực tiễn nhằm đánh giá hiệu quả điều chỉnh pháp luật, đồng thời góp phần kiểm soát quyền lập pháp cũng như kiểm soát quyền lực nhà nước đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.

Khảo sát trong khoa học pháp lý Việt Nam nói riêng và khoa học pháp lý thế giới nói chung, gần như chưa có công trình nghiên cứu nào sử dụng thuật ngữ “điểm dừng pháp luật”. Một vài công trình đề cập tới khái niệm “giới hạn của pháp luật” hoặc khi nghiên cứu về kiểm soát quyền lập pháp thì sử dụng thuật ngữ “giới hạn phạm vi điều chỉnh của pháp luật”. Các thuật ngữ này đều được sử dụng nhằm hàm ý tới phạm vi mà pháp luật được sử dụng làm công cụ điều chỉnh quan hệ xã hội nhưng cũng chưa có công trình nào giải thích thật sự rõ ràng về từng thuật ngữ.

Theo lý luận về nhà nước và pháp luật, pháp luật là hệ thống quy tắc xử sự chung do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận để điều chỉnh quan hệ xã hội theo những định hướng nhất định. Pháp luật là sản phẩm trực tiếp của quyền lập pháp, là công cụ quan trọng nhất để nhà nước quản lý đời sống xã hội. Nhà nước thông qua pháp luật áp đặt ý chí của mình lên các chủ thể trong xã hội trên phạm vi lãnh thổ quốc gia nhằm thực hiện các chức năng vốn có của nhà nước. Do là sản phẩm từ hoạt động lập pháp của nhà nước nên pháp luật có tính quyền lực nhà nước. Vì quyền lực nhà nước là quyền lực đặc biệt nhưng có giới hạn mà không phải là quyền lực tuyệt đối, vô hạn, nên pháp luật cũng có giới hạn. Xác định giới hạn của pháp luật sẽ xác định được giới hạn của quyền lập pháp cũng như quyền lực nhà nước. Để xác định giới hạn của pháp luật, tác giả đề xuất việc nghiên cứu và xây dựng thuật ngữ “điểm dừng pháp luật”.

Có thể hiểu, điểm dừng của pháp luật là nơi mà pháp luật phát huy khả năng điều chỉnh quan hệ xã hội một cách tối ưu. Nếu pháp luật vượt qua điểm dừng thì không có khả năng điều chỉnh hoặc điều chỉnh không hiệu quả các quan hệ xã hội nữa.

1. Sự cần thiết xây dựng khái niệm điểm dừng pháp luật

Xây dựng điểm dừng pháp luật là xác định xem pháp luật có thể can thiệp tới những quan hệ xã hội nào và giới hạn nào mà pháp luật không thể vượt qua. Việc xác định đúng điểm dừng của pháp luật là không dễ dàng, vì thực chất, điểm dừng của pháp luật chính là điểm dừng của quyền lực nhà nước - mà quyền lực nhà nước, theo Rousseau, sẽ luôn có xu hướng mở rộng và thậm chí là không có giới hạn[1]. Việc nghiên cứu và xây dựng khái niệm điểm dừng pháp luật là rất cần thiết, xuất phát từ những lý do sau:

1.1. Về lý luận

Nghiên cứu về giới hạn của pháp luật ở Việt Nam cũng như trên thế giới rất ít được quan tâm. Các công trình nghiên cứu trong lĩnh vực này thường quan tâm đến hoạt động kiểm soát quyền lập pháp và kiểm soát nội dung của pháp luật được đề cập đến là một trong những khía cạnh cần phải kiểm soát, nhưng rất ít công trình đề cập cụ thể đến yếu tố này. Hầu hết, các công trình đều chỉ hướng đến xây dựng các mô hình tổ chức bộ máy nhà nước để các nhánh quyền lực kiềm chế, đối trọng lẫn nhau, từ đó bảo đảm rằng, quyền lập pháp luôn hoạt động trong một giới hạn xác định. Trong thực tiễn, có thể quan sát thấy điểm dừng pháp luật trong quy định pháp luật của các quốc gia và quy định ngay trong Hiến pháp các quốc gia đó. Điều này cho thấy rằng, các nhà nước đều rất quan tâm đến vấn đề kiểm soát và giới hạn quyền lập pháp, thông qua việc xác định xem pháp luật do Nghị viện/Quốc hội ban hành sẽ can thiệp đến các lĩnh vực nào, bắt đầu có hiệu lực ra sao. Tuy nhiên, chính sự thiếu sót trong nghiên cứu cụ thể về điểm dừng pháp luật cũng như nguyên tắc xác định điểm dừng pháp luật khiến việc xác định trong thực tiễn khó khăn hơn, các nhà lập pháp muốn tự giới hạn cũng không có cơ sở lý luận để xác định xem pháp luật cần được ban hành trong phạm vi nào và các nhà hành pháp hoặc tư pháp cũng thiếu định hướng để tham gia vào quá trình kiểm soát quyền lập pháp. Không thể phủ nhận rằng, việc xác định điểm dừng pháp luật là rất khó, nhưng càng khó thì càng cần có sự nghiên cứu chuyên sâu, độc lập, toàn diện về mặt khoa học để làm cơ sở lý luận, “soi đèn” cho thực tiễn.

1.2. Về thực tiễn

Thứ nhất, xuất phát từ nhu cầu kiểm soát quyền lập pháp: Như đã đề cập, kiểm soát quyền lập pháp đã luôn xuất hiện trong lịch sử phát triển của các nhà nước. Các nhà khoa học pháp lý cũng rất quan tâm tới việc làm thế nào để kiểm soát quyền lập pháp hiệu quả, bởi vì, “lập pháp là đỉnh cao nhất của sự hoàn thiện mà sức mạnh tập thể có thể đạt tới”[2] và kiểm soát quyền lập pháp là sự kiểm soát đầu tiên để bảo đảm quyền lực nhà nước được thực thi một cách hiệu quả. Để kiểm soát quyền lập pháp, cần xác định xem chủ thể nào được trao quyền lập pháp, phạm vi không gian, thời gian thực hiện quyền lập pháp, trình tự, thủ tục thực hiện quyền đó. Kiểm soát quyền lập pháp là việc phải làm, vì lập pháp là hoạt động đầu tiên và quan trọng nhất của mọi nhà nước nhằm quản lý xã hội. Lập pháp có ý nghĩa rất quan trọng nhưng kiểm soát quyền lập pháp dường như lại ít được quan tâm hơn quyền hành pháp. Có quan điểm cho rằng, vì trong quá trình thực thi quyền lực nhà nước, quyền hành pháp luôn có xu hướng bành trướng và lấn sang các nhánh quyền lực khác, bộ máy hành pháp thường chiếm số lượng lớn, phạm vi thực hiện bao trùm, đa dạng, còn quyền lập pháp và tư pháp thì độc lập, luôn phải tuân theo trình tự, thủ tục chặt chẽ hơn, ít có cơ hội lạm quyền hơn[3]. Tuy nhiên, tác giả cho rằng, quan điểm này chưa thực sự hợp lý. Bởi vì, quyền lực nào thì cũng cần nằm trong giới hạn và giới hạn của quyền lập pháp sẽ là tiền đề cho các nhánh quyền lực khác. Vì vậy, kiểm soát quyền lập pháp phải được quan tâm và chú ý nhiều hơn.

Xác định được điểm dừng pháp luật có thể coi là một trong những hoạt động then chốt giúp kiểm soát quyền lập pháp. Bởi vì, xác định được điểm dừng pháp luật là xác định được pháp luật có thể tác động đến các quan hệ xã hội nào, có thể thay đổi hành vi của những tổ chức, cá nhân nào, trong những điều kiện hoàn cảnh nào. Xác định được điểm dừng của pháp luật cũng là xác định được điểm dừng của quyền lực nhà nước, xem Nhà nước có thể can thiệp vào những hoạt động nào trong đời sống xã hội. Nhưng để xác định được đúng thì phải xây dựng được khái niệm điểm dừng pháp luật để từ đó quy định thành pháp luật, tạo cơ sở pháp lý cho kiểm soát quyền lập pháp.

Thứ hai, xuất phát từ nhu cầu bảo đảm và bảo vệ quyền con người: Bảo đảm, bảo vệ quyền con người là yêu cầu đặt ra đối với pháp luật hiện đại, đây cũng là giá trị mà pháp luật hiện đại đem lại cho xã hội, cho thấy sự tiến bộ vượt bậc so với pháp luật của các nhà nước cũ (nhà nước chủ nô, nhà nước phong kiến). Để bảo đảm, bảo vệ quyền con người thì trước tiên, pháp luật phải thừa nhận và ghi nhận quyền con người trong các văn bản quy phạm pháp luật hoặc bất cứ một hình thức pháp luật mà nhà nước đó sử dụng.

Xác định được điểm dừng pháp luật là một trong những biểu hiện quan trọng cho thấy, pháp luật đang hướng tới bảo đảm, bảo vệ quyền con người. Trong đời sống xã hội, ngoài pháp luật, các cá nhân, tổ chức có thể sử dụng rất nhiều công cụ khác để điều chỉnh hành vi của mình như đạo đức, tập quán, tín điều tôn giáo… Mỗi công cụ đều có những ưu, nhược điểm riêng nhưng không công cụ nào có thể tác động nhanh, mạnh, dứt khoát, có khả năng thay đổi hành vi của con người ngay lập tức như pháp luật. Vì vậy, xác định phạm vi mà pháp luật được can thiệp và ranh giới mà pháp luật không thể vượt qua bảo đảm rằng, pháp luật thay đổi các quan hệ xã hội theo hướng có lợi cho các chủ thể cũng như toàn xã hội. Xác định điểm dừng của pháp luật cũng là để hướng dẫn các cá nhân xem khi nào thì được sử dụng pháp luật và khi nào thì cần cân nhắc tới việc sử dụng các loại công cụ khác trong điều chỉnh quan hệ xã hội, để các cá nhân không rơi vào tình trạng quá đề cao pháp luật, dẫn tới lạm dụng pháp luật trong đời sống hàng ngày, từ đó, không thể xử lý hài hòa các mối quan hệ xã hội mà họ tham gia, thậm chí là đang từ sử dụng pháp luật để bảo vệ quyền, lợi ích của mình diễn biến thành lợi dụng pháp luật xâm phạm tới quyền, lợi ích của các chủ thể khác.

Thứ ba, xuất phát từ đòi hỏi hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa: Xây dựng Nhà nước pháp quyền là mục tiêu của rất nhiều nhà nước hiện đại. Tư tưởng về Nhà nước pháp quyền đã xuất hiện ngay từ thời kì cổ đại và được phát triển dần dần thành các học thuyết khoa học, nổi bật nhất là được các học giả tư sản ủng hộ và truyền bá tại Anh từ thế kỉ XVI nhằm thu hút sự tham gia của người dân vào các cuộc cách mạng tư sản. Cho dù được diễn giải và lập luận như thế nào ở các thời điểm thì nhìn chung, tinh thần pháp quyền nêu rằng, trong một xã hội dân sự chính trị thì không có gì có thể cao hơn pháp luật kể cả người làm luật, “quyền tự do của con người, trong xã hội, cũng không đặt dưới quyền lực lập pháp nào khác ngoài cái được thiết lập bằng sự chấp thuận trong cộng đồng quốc gia; mà cũng không đặt dưới sự thống trị của bất kì ý chí nào, hay trong sự kiềm tỏa của bất kỳ luật lệ nào ngoài cái mà cơ quan lập pháp đó sẽ ban hành, theo đúng sự ủy thác đã đặt vào nó”[4]. Theo đúng tinh thần này, để xây dựng Nhà nước pháp quyền thì pháp luật phải dân chủ, tiến bộ, phù hợp và khả thi.

Xác định được điểm dừng của pháp luật sẽ thúc đẩy sự tiến bộ của pháp luật để hướng tới mục tiêu hoàn thiện pháp luật đáp ứng nhu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền. Trước đây, trong các nhà nước phong kiến chuyên chế, quyền hạn của vua là tuyệt đối và vô hạn, pháp luật gần như không có điểm dừng, ý chí của vua chính là luật. Điều này đã dẫn đến những hệ quả tiêu cực và cũng là nguyên nhân sụp đổ của các nền phong kiến. Đến khi các nhà nước mới xuất hiện, bài học đầu tiên mà giai cấp cầm quyền rút ra, đó chính là phải kiểm soát quyền lực nhà nước, mà biểu hiện cụ thể là việc xác định điểm dừng của pháp luật. Bởi vậy, pháp luật nào có điểm dừng chính là pháp luật tiến bộ hơn, phát triển hơn, thông qua đó, người dân có thể yên tâm rằng, nhà nước đang thực hiện công việc được người dân ủy quyền, pháp luật là công cụ phản ánh ý chí chung, “luật chỉ là những điều kiện chính thức của việc tập hợp dân sự. Dân chúng tuân theo luật phải là người làm ra luật”[5].

2. Điểm dừng pháp luật Việt Nam hiện nay

Như đã đề cập, hiện nay, trong nghiên cứu khoa học pháp lý cũng như thực tiễn quy định của pháp luật Việt Nam, chưa có văn bản nào sử dụng thuật ngữ “điểm dừng pháp luật”, mà chỉ đề cập tới một trong các nội dung kiểm soát quyền lập pháp, tức là đánh giá xem phạm vi của quyền lập pháp là đến đâu mà chưa xem xét kết quả của việc thực hiện quyền lập pháp (các quy định pháp luật cụ thể) thì phải nằm trong giới hạn nào. Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó có lẽ đến từ cách nghiên cứu cổ điển, đó là không phân tách quyền lập pháp với pháp luật là sản phẩm của quyền lập pháp. Theo cách tư duy này, chỉ cần kiểm soát được quyền lập pháp thì đương nhiên sẽ kiểm soát được pháp luật, sẽ biết được pháp luật được quy định đến điểm nào. Nhưng cách tư duy này chưa thực sự hợp lý, vì nhìn vào thực tiễn pháp luật Việt Nam hiện nay, có thể thấy, mặc dù có các quy định về kiểm soát quyền lập pháp nhưng chưa xác định được cụ thể quan hệ xã hội nào thì cần can thiệp bằng pháp luật, quan hệ xã hội nào thì không. Từ đó, dẫn đến tình trạng có những quy định pháp luật còn can thiệp sâu vào quan hệ xã hội. Chẳng hạn, Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có tên gọi: “Tình nghĩa vợ chồng”, trong đó, khoản 1 quy định vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau. Tác giả cho rằng, “thương yêu” không thể xác định là nghĩa vụ giữa vợ và chồng, vì pháp luật không thể can thiệp vào quan hệ tình cảm. Thêm vào đó, nếu xác định “thương yêu” là nghĩa vụ phải làm, tức là nếu vợ hoặc chồng không thương yêu người kia sẽ là vi phạm pháp luật và sẽ bị xử phạt, vậy khi nào thì được coi là không thương yêu vợ/chồng, khi một trong hai bên có biểu hiện không thương yêu bên còn lại thì xử phạt như thế nào? Có thể ở đây pháp luật hướng tới điều chỉnh hành vi của vợ và chồng theo hướng tốt, nhưng việc đặt ra chuẩn mực “thương yêu” lại nằm ngoài phạm vi can thiệp của pháp luật. Quy định như vậy chưa thực sự phù hợp và tính khả thi chưa cao.

Nhìn vào thực tiễn xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật tại Việt Nam hiện nay cũng như quy định tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2020 (Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015), có thể thấy, hầu như chưa có văn bản quy định về điểm dừng của pháp luật hoặc nêu rõ giới hạn nào thì pháp luật không được can thiệp tới. Hiến pháp năm 2013 vẫn có quy định về hạn chế quyền con người ở khoản 2 Điều 14, theo đó, Nhà nước có thể quy định bằng pháp luật những trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng mà quyền con người bị hạn chế. Nhưng đến thời điểm hiện tại vẫn chưa có văn bản quy định cụ thể về các trường hợp này.

Hiện nay, những quan hệ xã hội trong các lĩnh vực mà pháp luật điều chỉnh được liệt kê một cách chung chung trong Hiến pháp năm 2013 và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015. Chẳng hạn, khoản 1 Điều 15 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 liệt kê các lĩnh vực mà Quốc hội ban hành luật. Quy định này chưa làm rõ được pháp luật sẽ “can thiệp” đến đâu và rất dễ gây ra cách hiểu là cứ nằm trong phạm vi lĩnh vực đó thì Nhà nước có thể điều chỉnh hành vi của chủ thể bằng pháp luật.

Thực tiễn hiện nay, pháp luật Việt Nam hầu như chưa xác định điểm dừng về nội dung các quan hệ xã hội được điều chỉnh, mà cả thời gian điều chỉnh - hiệu lực thời gian của pháp luật cũng cần phải xem xét. Theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, chỉ trong trường hợp thật cần thiết để bảo đảm lợi ích chung của xã hội, thực hiện các quyền, lợi ích của tổ chức, cá nhân được quy định trong luật, nghị quyết của Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan trung ương mới được quy định hiệu lực trở về trước (hiệu lực hồi tố). Tuy nhiên, một số quốc gia trên thế giới có quy định cấm nguyên tắc hồi tố rất rõ ràng như Hoa Kỳ (điểm 3 mục 9 Điều 1 Hiến pháp Hoa Kỳ), Brazil (Điều 5 Hiến pháp Brzail), Canada (Điều 11 Hiến pháp Canada); Công ước châu Âu về quyền con người cũng cấm áp dụng hồi tố tại Điều 9. Các quốc gia có quy định cấm hồi tố đều giải thích theo triết lý rằng, công lý phải có tính thời đại, luật ban hành thời điểm nào thì chỉ có thể áp dụng từ thời điểm đó trở về sau, không ai có thẩm quyền tuyên bố luật được ban hành trước đó là sai để áp dụng luật mới. Việc này bảo đảm quyền lập pháp của Nghị viện/Quốc hội cũng chỉ tương ứng với thời gian nhiệm kỳ mà những người nắm quyền làm việc. Thực tiễn, ở Việt Nam và nhiều quốc gia, việc áp dụng hồi tố chủ yếu xuất hiện trong lĩnh vực hình sự nhằm phản ánh chính sách nhân đạo của nhà nước khi xử lý các hành vi vi phạm pháp luật phải chịu trách nhiệm pháp lý cao nhất là các hình phạt. Tuy nhiên, cũng cần xem xét lại trong bối cảnh hiện nay, có nên duy trì hiệu lực hồi tố nữa hay không, vì đây cũng có thể coi là một biểu hiện cho thấy quyền lập pháp của Quốc hội đang mở rộng và gần như không có giới hạn, rất khó để kiểm soát.

Như vậy, với thực tiễn pháp luật Việt Nam hiện nay, rất khó để xác định điểm dừng của pháp luật ở cả khía cạnh nội dung các quan hệ xã hội cần điều chỉnh lẫn không gian, thời gian, chủ thể chịu sự điều chỉnh của pháp luật. Đây là “khoảng trống” cần sớm được nghiên cứu và hoàn thiện nhằm nâng cao chất lượng của pháp luật, góp phần giới hạn quyền lập pháp cũng như quyền lực nhà nước để đáp ứng nhu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới./.

ThS. Nguyễn Thùy Linh

Trường Đại học Luật Hà Nội

[1]. Jean-Jacques Rousseau (Hoàng Thanh Đạm dịch) (2018), Bàn về khế ước xã hội, tr. 34

[2]. Jean-Jacques Rousseau (Hoàng Thanh Đạm dịch) (2018), tlđd, tr. 62.

[3]. ThS. GVC. Nguyễn Ngọc Toán (2014), Quyền hành pháp của Chính phủ theo Hiến pháp năm 2013, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 17 (273), tháng 9/2014, tr. 25.

[4]. Montesquieu (Hoàng Thanh Đạm dịch) (2018), Bàn về tinh thần pháp luật, tr. 158.

[5]. Jean-Jacques Rousseau (Hoàng Thanh Đạm dịch) (2018), tlđd, tr. 54.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (Số 403), tháng 4/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tóm tắt: Chương VII dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) quy định về tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo gần như giữ nguyên nội dung Chương VII Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016. Tuy nhiên, phân tích từ góc độ liên thông giữa Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 với Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Đất đai năm 2024, cho thấy có một số bất cập, nếu được hoàn thiện trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) sẽ giúp hệ thống pháp luật liên quan đến chế định này được hoàn thiện, đồng bộ hơn.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.

Theo dõi chúng tôi trên: