Thứ bảy 02/05/2026 16:16
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Xây dựng pháp luật về án treo, nhìn từ góc độ xã hội học và xã hội học pháp luật

Pháp luật nói chung và pháp luật về án treo nói riêng là lĩnh vực thuộc thượng tầng kiến trúc được quyết định bởi cơ sở hạ tầng, do các điều kiện kinh tế - xã hội quy định. Quá trình ra đời, phát triển của pháp luật và của án treo là một quá trình xã hội, do quá trình xã hội quyết định. Chế định về án treo được quy định trong Bộ luật Hình sự không đơn thuần là do các nhà làm luật tự đặt ra mà nó xuất phát từ thực tiễn các quan hệ xã hội, thông qua tri thức con người biến thành ý chí và quy định thành luật.

Hay nói cách khác, quá trình phát triển của xã hội và thực tiễn các quan hệ xã hội quy định sự hình thành pháp luật về án treo và quy định tính chất của án treo. Nguồn gốc các quy định pháp luật về án treo (luật thực định) là trên cơ sở các quan hệ xã hội thực tế đang tồn tại (hay còn gọi là pháp luật tự nhiên), phản ánh đòi hỏi của cuộc sống. Vì vậy, việc duy trì hay bổ sung, thay đổi các quy định về án treo cũng đều xuất phát từ nhu cầu thực tiễn đời sống xã hội. Việc xây dựng pháp luật về án treo là một hoạt động của pháp luật, một dạng của hoạt động xã hội, nó có mọi dấu hiệu của hoạt động xã hội. Do đó, nghiên cứu pháp luật về án treo không chỉ đơn thuần là lý luận, mà phải xem xét mối liên hệ giữa pháp luật về án treo với tư cách là một hiện tượng xã hội với xã hội, phải xuất phát từ xã hội học thì mới làm rõ được tính khoa học, giá trị thực tiễn về chế định án treo cũng như những mặt tích cực và hạn chế trong việc ban hành pháp luật về án treo.

1. Điều kiện hình thành và phát triển pháp luật về án treo

Dưới góc độ xã hội học và xã hội học pháp luật, pháp luật về án treo (hay còn gọi là pháp luật thực định) được hình thành và phát triển từ các điều kiện sau đây:

Một là: Điều kiện kinh tế - xã hội. Đây là tiêu chí quyết định đến mọi quan hệ xã hội khác và quyết định tính chất của kiến trúc thượng tầng, trong đó có pháp luật. Đất nước ta trải qua nhiều cuộc chiến tranh, hậu quả để lại rất nặng nề, đời sống nhân dân còn nhiều cơ cực, tình hình tội phạm diễn biến phức tạp. Trong giai đoạn hiện nay, chúng ta đang xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tăng cường hội nhập quốc tế, tình hình tội phạm càng phức tạp, tinh vi hơn. Xã hội học pháp luật nghiên cứu từ mối quan hệ này trên nền tảng xã hội học thấy được rằng: Một con người phạm tội trong hoàn cảnh khó khăn, thiếu thốn sẽ khác với một con người phạm tội trong điều kiện no ấm, giàu có; vì thế, pháp luật cần phân loại, điều chỉnh cho phù hợp. Trên tinh thần đó, Đảng, Nhà nước ta thể hiện một chính sách khoan dung, độ lượng qua việc ban hành pháp luật về án treo bên cạnh các quy định khác của pháp luật để phản ánh và điều chỉnh các quan hệ nảy sinh từ thực tiễn đời sống kinh tế - xã hội. Điều đó có nghĩa là việc xây dựng pháp luật về án treo không thể thoát ly khỏi các quan hệ xã hội đang tồn tại thực tế.

Hai là: Điều kiện về địa lý. Việt Nam với 54 dân tộc anh em sinh sống trên mọi miền đất nước; đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội và hiểu biết pháp luật có sự chênh lệch lớn giữa vùng đồng bằng và vùng miền núi xa xôi, hẻo lánh. Mỗi một vùng, miền có một nét đặc trưng riêng về văn hóa. Thực tế xã hội cho thấy: Đồng bào các dân tộc thiểu số còn nhiều người nhận thức lạc hậu, kém hiểu biết về pháp luật, còn bị ảnh hưởng bởi những phong tục, tập quán lạc hậu và đó là những nguyên nhân dẫn đến việc phạm tội. Xã hội học cho thấy rõ điều đó, vì thế nghiên cứu xã hội học pháp luật sẽ có sự đánh giá cụ thể làm nền tảng cho việc xây dựng pháp luật, trong đó có pháp luật về án treo. Quan điểm nhân đạo của Đảng, Nhà nước ta là: Đối với những người nhận thức pháp luật hạn chế, văn hóa thấp mà phạm tội thì khi lượng hình Tòa án cần phải đánh giá một cách toàn diện để quyết định hình phạt, trong đó có việc áp dụng án treo nếu họ hội tụ đủ các điều kiện do pháp luật quy định.

Ba là: Điều kiện về nhân khẩu học. Trong đời sống vật chất của xã hội, yếu tố nhân khẩu học thể hiện ở độ tuổi, giới tính, tác động của họ đối với xã hội. Kết quả điều tra xã hội học chỉ ra rằng: Độ tuổi sẽ ảnh hưởng đến nhận thức và năng lực hành vi của con người, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi khả năng nhận thức khác so với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, người chưa thành niên khả năng nhận thức khác với những người đã thành niên. Về giới tính thì nam giới khác nữ giới. Một người phụ nữ mang thai khi phạm tội hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi khi phạm tội là những tình tiết giảm nhẹ để Tòa án quyết định hình phạt… Đây là một thực tiễn gắn liền với đời sống xã hội; đòi hỏi xã hội học pháp luật phải nghiên cứu, xây dựng các quy phạm pháp luật phù hợp để điều chỉnh. Quan điểm nhân đạo của Đảng, Nhà nước ta thể hiện rất rõ trong Bộ luật Hình sự đối với điều kiện này; đồng thời pháp luật về án treo cũng không nằm ngoài chương trình xây dựng pháp luật để điều chỉnh những nảy sinh từ thực tiễn của nhân tố nhân khẩu học trong đời sống xã hội. Các bị cáo vị thành niên, phụ nữ phạm tội khi mang khai… trong nhiều trường hợp được Tòa án cho hưởng án treo.

Bốn là: Điều kiện về môi trường sống của con người. Xã hội học pháp luật phải nghiên cứu con người sinh ra trong hoàn cảnh nào, chịu sự tác động của các nhân tố tích cực lẫn tiêu cực, trên cơ sở đó mới xây dựng những quy phạm pháp luật phù hợp, có khả năng điều chỉnh được quan hệ xã hội cụ thể của nó. Một con người sinh ra và lớn lên trong môi trường gia đình khá giả, học hành đến nơi đến chốn, được giáo dục nề nếp thì khả năng vi phạm pháp luật sẽ thấp hơn những người sinh ra và lớn lên trong môi trường nghèo khó, thiếu học hành, thiếu giáo dục. Một đứa trẻ mồ côi cha mẹ, sống lang thang nay đây mai đó, không được học hành thì khả năng vi phạm pháp luật cao hơn rất nhiều so với một đứa trẻ được nuôi dưỡng đầy đủ, học hành đến nơi đến chốn… Vì thế, việc xây dựng pháp luật phải tính tới môi trường sống của con người, một quan hệ xã hội có sự tác động rất lớn đến sự hình thành nhân cách và án treo được ban hành cũng không ngoài mục đích thể hiện tính nhân đạo của pháp luật đối với những người phạm tội trong môi trường này khi đủ các điều kiện do pháp luật quy định.

Như vậy, có thể nói rằng cùng với nhân tố kinh tế còn có các nhân tố địa lý, môi trường sống, nhân khẩu học đã tạo nên một tiểu hệ thống nhân tố hạ tầng cơ sở đã phản ánh một cách thực tế nhu cầu đời sống xã hội đòi hỏi phải có pháp luật điều chỉnh; trong đó các quy phạm pháp luật không chỉ chứa đựng nội dung trừng trị mà còn chứa đựng cả chính sách nhân đạo, khoan hồng. Thực tiễn xã hội chính là điểm xuất phát của nghiên cứu pháp luật để loại bỏ tình trạng tách rời thực tiễn, lạc hậu so với thực tiễn hay gọi là lý luận suông. Thực tiễn sẽ cung cấp các sự kiện, thực nghiệm cho lý luận. Vì vậy, hoạt động xây dựng pháp luật có hiệu quả đến đâu còn phải căn cứ vào thước đo phản ánh của thực tiễn. Một văn bản quy phạm pháp luật chất lượng, hiệu quả phải đáp ứng đầy đủ các mục đích cơ bản đặt ra; giải quyết tốt các nhân tố xã hội về kinh tế, chính trị, văn hóa, dân tộc…, phải làm sáng tỏ các nhu cầu và lợi ích của các giai cấp, các tầng lớp, các cộng đồng dân cư… và nói chung là lợi ích của nhân dân. Án treo ra đời và phát triển về khía cạnh nhân đạo đã thỏa mãn các lợi ích đó.

Năm là: Các yếu tố trong tiểu hệ thống các nhân tố thượng tầng kiến trúc, đặc biệt là nhân tố chính trị có tác động rất lớn trong việc hoạch định chính sách pháp luật cũng như xây dựng pháp luật về án treo.

Hệ thống chính trị là một khái niệm rộng, tập hợp đa lợi ích của các giai cấp, các tầng lớp xã hội; trong đó lợi ích của giai cấp cầm quyền có tính quyết định, chi phối việc xây dựng pháp luật và hỗ trợ, tạo điều kiện cho các giai tầng khác trong xã hội. Đường lối lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong hơn 80 năm qua luôn thể hiện tính nhân đạo cao cả, khoan hồng, độ lượng đối với những người lầm đường lạc lối. Xã hội học pháp luật đã nghiên cứu và thể chế hóa tư tưởng của Đảng thành pháp luật; trong đó có việc xây dựng và ban hành chế định án treo trong Bộ luật Hình sự, để áp dụng đối với những người phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhân thân tốt, biết ăn năn hối cải, gây tác hại không lớn… Như vậy, bản thân chính trị cũng là một yếu tố thuộc thượng tầng kiến trúc do cơ sở hạ tầng quyết định; vì vậy sự chi phối của chính trị đối với pháp luật cũng có nguồn gốc từ thực tiễn đời sống xã hội. Đảng cầm quyền luôn theo dõi, quan tâm đến nhu cầu thực tế của các tầng lớp xã hội để có đường lối lãnh đạo đúng đắn, đáp ứng kịp thời và hài hòa các lợi ích đó, và lẽ dĩ nhiên pháp luật phải thể hiện ý chí của giai cấp thống trị thông qua sự quản lý của nhà nước pháp quyền.

2. Mối quan hệ giữa xã hội học pháp luật và xã hội học trong việc xây dựng pháp luật về án treo

Pháp luật ra đời từ trong xã hội, thực tiễn đời sống xã hội nảy sinh nhiều nhân tố mà việc nghiên cứu xây dựng pháp luật cần phải xem xét một cách đầy đủ. Thực tiễn đời sống xã hội cho thấy, cần phải có chế định về án treo để áp dụng đối với những người phạm tội khi đủ các điều kiện nêu trên. Vì thế, xã hội học pháp luật phải nghiên cứu, khảo sát và đánh giá có cần thiết phải ban hành chế định án treo hay không để phản ánh lại nhu cầu của xã hội. Trong hơn 70 năm qua, kể từ khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời cho đến nay, chế định án treo đã hình thành và phát triển theo chiều dài của lịch sử, luôn luôn có sự sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện. Điều đó chứng tỏ rằng, việc nghiên cứu, xây dựng và ban hành chế định án treo là hoàn toàn phù hợp với thực tiễn và được thực tiễn kiểm nghiệm, truyền tải được tư tưởng nhân đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đến nhân dân. Xã hội học pháp luật là một dạng của xã hội học, vì thế nó chịu sự quyết định của xã hội học. Bản thân các nhà khoa học, các đại biểu Quốc hội… khi nghiên cứu, xây dựng và ban hành pháp luật nói chung cũng như pháp luật về án treo nói riêng không phải muốn là được mà phải xem xét xã hội có cần pháp luật về án treo hay không. Vì thế, quan hệ giữa xã hội học pháp luật với xã hội học trong việc xây dựng và ban hành chế định án treo là mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại theo một quy luật: Các quan hệ xã hội quyết định việc nghiên cứu, ban hành pháp luật về án treo; còn việc nghiên cứu, ban hành pháp luật về án treo tác động trở lại đời sống xã hội, thúc đẩy các quan hệ xã hội phát triển. Cụ thể ở đây là: Làm cho người được hưởng án treo thấy được tính nhân đạo của pháp luật, yên tâm cải tạo, sớm hoàn lương và không tái phạm, đó chính là sự tác động tích cực. Trong trường hợp ngược lại, sự tác động tiêu cực sẽ kìm hãm sự phát triển của xã hội, cụ thể là sẽ làm cho người được hưởng án treo không thấy được tính nhân đạo của pháp luật, dễ tái phạm… Nhìn từ góc độ xã hội học và xã hội học pháp luật thì án treo trong hơn 70 năm qua tác động tích cực đến đời sống xã hội, vì thế nó luôn tồn tại và phát triển.

Ngoài ra, còn có những nhân tố như: Thực tiễn áp dụng pháp luật về án treo, thi hành án về án treo, ý thức pháp luật của công dân, truyền thống, văn hóa, dân tộc, trình độ dân trí cũng là những yếu tố mà xã hội học pháp luật cần phải nghiên cứu để xây dựng và hoàn thiện pháp luật về án treo.

Tựu trung lại, nhìn từ góc độ xã hội học và xã hội học pháp luật thì án treo không chỉ được nghiên cứu, xây dựng và ban hành tại Việt Nam mà nó còn được nghiên cứu, xây dựng và ban hành ở nhiều quốc gia trên thế giới như: Cộng hòa Liên bang Nga, Cộng hòa Liên bang Đức, Trung Quốc, Anh, Mỹ… Điều đó chứng minh được rằng, không chỉ có Việt Nam mà thực tế đời sống xã hội của nhiều nước trên thế giới đều có nhu cầu phải ban hành pháp luật về án treo để điều chỉnh các quan hệ xã hội phù hợp với nó, thể hiện tính nhân đạo của pháp luật quốc gia đó. Xã hội học pháp luật dựa vào phương pháp so sánh thấy được ngay cả ở những nước tư bản đều có pháp luật về án treo; thì ở Việt Nam trong điều kiện hiện tại và cả tương lai việc duy trì và hoàn thiện pháp luật về án treo không chỉ là sự cần thiết, một nhu cầu cấp bách mà còn là một tất yếu khách quan.

Tuy nhiên, chúng ta đang ở trong một giai đoạn toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới, trong đó có cả toàn cầu hóa pháp luật và nhiều vấn đề xã hội khác; đồng thời xuất phát từ thực tiễn áp dụng pháp luật trong hơn 70 năm qua có nhiều bất cập, chưa lan tỏa hết các nhu cầu đời sống xã hội. Vì thế trong lần sửa đổi Bộ luật Hình sự lần này theo hướng mở rộng các đối tượng được hưởng án treo, loại bỏ những điều kiện cho hưởng án treo không còn phù hợp với thực tiễn, bổ sung những điều kiện mới sát với thực tế hơn… sẽ bao quát hết các yếu tố thuộc nội hàm của án treo, đồng thời giảm tải được việc ban hành các văn bản hướng dẫn áp dụng và thi hành án treo.

ThS. Nguyễn Văn Bường

Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tóm tắt: Chương VII dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) quy định về tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo gần như giữ nguyên nội dung Chương VII Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016. Tuy nhiên, phân tích từ góc độ liên thông giữa Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 với Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Đất đai năm 2024, cho thấy có một số bất cập, nếu được hoàn thiện trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) sẽ giúp hệ thống pháp luật liên quan đến chế định này được hoàn thiện, đồng bộ hơn.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.

Theo dõi chúng tôi trên: