Thứ ba 03/03/2026 10:33
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Xây dựng pháp luật về án treo, nhìn từ góc độ xã hội học và xã hội học pháp luật

Pháp luật nói chung và pháp luật về án treo nói riêng là lĩnh vực thuộc thượng tầng kiến trúc được quyết định bởi cơ sở hạ tầng, do các điều kiện kinh tế - xã hội quy định. Quá trình ra đời, phát triển của pháp luật và của án treo là một quá trình xã hội, do quá trình xã hội quyết định. Chế định về án treo được quy định trong Bộ luật Hình sự không đơn thuần là do các nhà làm luật tự đặt ra mà nó xuất phát từ thực tiễn các quan hệ xã hội, thông qua tri thức con người biến thành ý chí và quy định thành luật.

Hay nói cách khác, quá trình phát triển của xã hội và thực tiễn các quan hệ xã hội quy định sự hình thành pháp luật về án treo và quy định tính chất của án treo. Nguồn gốc các quy định pháp luật về án treo (luật thực định) là trên cơ sở các quan hệ xã hội thực tế đang tồn tại (hay còn gọi là pháp luật tự nhiên), phản ánh đòi hỏi của cuộc sống. Vì vậy, việc duy trì hay bổ sung, thay đổi các quy định về án treo cũng đều xuất phát từ nhu cầu thực tiễn đời sống xã hội. Việc xây dựng pháp luật về án treo là một hoạt động của pháp luật, một dạng của hoạt động xã hội, nó có mọi dấu hiệu của hoạt động xã hội. Do đó, nghiên cứu pháp luật về án treo không chỉ đơn thuần là lý luận, mà phải xem xét mối liên hệ giữa pháp luật về án treo với tư cách là một hiện tượng xã hội với xã hội, phải xuất phát từ xã hội học thì mới làm rõ được tính khoa học, giá trị thực tiễn về chế định án treo cũng như những mặt tích cực và hạn chế trong việc ban hành pháp luật về án treo.

1. Điều kiện hình thành và phát triển pháp luật về án treo

Dưới góc độ xã hội học và xã hội học pháp luật, pháp luật về án treo (hay còn gọi là pháp luật thực định) được hình thành và phát triển từ các điều kiện sau đây:

Một là: Điều kiện kinh tế - xã hội. Đây là tiêu chí quyết định đến mọi quan hệ xã hội khác và quyết định tính chất của kiến trúc thượng tầng, trong đó có pháp luật. Đất nước ta trải qua nhiều cuộc chiến tranh, hậu quả để lại rất nặng nề, đời sống nhân dân còn nhiều cơ cực, tình hình tội phạm diễn biến phức tạp. Trong giai đoạn hiện nay, chúng ta đang xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tăng cường hội nhập quốc tế, tình hình tội phạm càng phức tạp, tinh vi hơn. Xã hội học pháp luật nghiên cứu từ mối quan hệ này trên nền tảng xã hội học thấy được rằng: Một con người phạm tội trong hoàn cảnh khó khăn, thiếu thốn sẽ khác với một con người phạm tội trong điều kiện no ấm, giàu có; vì thế, pháp luật cần phân loại, điều chỉnh cho phù hợp. Trên tinh thần đó, Đảng, Nhà nước ta thể hiện một chính sách khoan dung, độ lượng qua việc ban hành pháp luật về án treo bên cạnh các quy định khác của pháp luật để phản ánh và điều chỉnh các quan hệ nảy sinh từ thực tiễn đời sống kinh tế - xã hội. Điều đó có nghĩa là việc xây dựng pháp luật về án treo không thể thoát ly khỏi các quan hệ xã hội đang tồn tại thực tế.

Hai là: Điều kiện về địa lý. Việt Nam với 54 dân tộc anh em sinh sống trên mọi miền đất nước; đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội và hiểu biết pháp luật có sự chênh lệch lớn giữa vùng đồng bằng và vùng miền núi xa xôi, hẻo lánh. Mỗi một vùng, miền có một nét đặc trưng riêng về văn hóa. Thực tế xã hội cho thấy: Đồng bào các dân tộc thiểu số còn nhiều người nhận thức lạc hậu, kém hiểu biết về pháp luật, còn bị ảnh hưởng bởi những phong tục, tập quán lạc hậu và đó là những nguyên nhân dẫn đến việc phạm tội. Xã hội học cho thấy rõ điều đó, vì thế nghiên cứu xã hội học pháp luật sẽ có sự đánh giá cụ thể làm nền tảng cho việc xây dựng pháp luật, trong đó có pháp luật về án treo. Quan điểm nhân đạo của Đảng, Nhà nước ta là: Đối với những người nhận thức pháp luật hạn chế, văn hóa thấp mà phạm tội thì khi lượng hình Tòa án cần phải đánh giá một cách toàn diện để quyết định hình phạt, trong đó có việc áp dụng án treo nếu họ hội tụ đủ các điều kiện do pháp luật quy định.

Ba là: Điều kiện về nhân khẩu học. Trong đời sống vật chất của xã hội, yếu tố nhân khẩu học thể hiện ở độ tuổi, giới tính, tác động của họ đối với xã hội. Kết quả điều tra xã hội học chỉ ra rằng: Độ tuổi sẽ ảnh hưởng đến nhận thức và năng lực hành vi của con người, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi khả năng nhận thức khác so với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, người chưa thành niên khả năng nhận thức khác với những người đã thành niên. Về giới tính thì nam giới khác nữ giới. Một người phụ nữ mang thai khi phạm tội hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi khi phạm tội là những tình tiết giảm nhẹ để Tòa án quyết định hình phạt… Đây là một thực tiễn gắn liền với đời sống xã hội; đòi hỏi xã hội học pháp luật phải nghiên cứu, xây dựng các quy phạm pháp luật phù hợp để điều chỉnh. Quan điểm nhân đạo của Đảng, Nhà nước ta thể hiện rất rõ trong Bộ luật Hình sự đối với điều kiện này; đồng thời pháp luật về án treo cũng không nằm ngoài chương trình xây dựng pháp luật để điều chỉnh những nảy sinh từ thực tiễn của nhân tố nhân khẩu học trong đời sống xã hội. Các bị cáo vị thành niên, phụ nữ phạm tội khi mang khai… trong nhiều trường hợp được Tòa án cho hưởng án treo.

Bốn là: Điều kiện về môi trường sống của con người. Xã hội học pháp luật phải nghiên cứu con người sinh ra trong hoàn cảnh nào, chịu sự tác động của các nhân tố tích cực lẫn tiêu cực, trên cơ sở đó mới xây dựng những quy phạm pháp luật phù hợp, có khả năng điều chỉnh được quan hệ xã hội cụ thể của nó. Một con người sinh ra và lớn lên trong môi trường gia đình khá giả, học hành đến nơi đến chốn, được giáo dục nề nếp thì khả năng vi phạm pháp luật sẽ thấp hơn những người sinh ra và lớn lên trong môi trường nghèo khó, thiếu học hành, thiếu giáo dục. Một đứa trẻ mồ côi cha mẹ, sống lang thang nay đây mai đó, không được học hành thì khả năng vi phạm pháp luật cao hơn rất nhiều so với một đứa trẻ được nuôi dưỡng đầy đủ, học hành đến nơi đến chốn… Vì thế, việc xây dựng pháp luật phải tính tới môi trường sống của con người, một quan hệ xã hội có sự tác động rất lớn đến sự hình thành nhân cách và án treo được ban hành cũng không ngoài mục đích thể hiện tính nhân đạo của pháp luật đối với những người phạm tội trong môi trường này khi đủ các điều kiện do pháp luật quy định.

Như vậy, có thể nói rằng cùng với nhân tố kinh tế còn có các nhân tố địa lý, môi trường sống, nhân khẩu học đã tạo nên một tiểu hệ thống nhân tố hạ tầng cơ sở đã phản ánh một cách thực tế nhu cầu đời sống xã hội đòi hỏi phải có pháp luật điều chỉnh; trong đó các quy phạm pháp luật không chỉ chứa đựng nội dung trừng trị mà còn chứa đựng cả chính sách nhân đạo, khoan hồng. Thực tiễn xã hội chính là điểm xuất phát của nghiên cứu pháp luật để loại bỏ tình trạng tách rời thực tiễn, lạc hậu so với thực tiễn hay gọi là lý luận suông. Thực tiễn sẽ cung cấp các sự kiện, thực nghiệm cho lý luận. Vì vậy, hoạt động xây dựng pháp luật có hiệu quả đến đâu còn phải căn cứ vào thước đo phản ánh của thực tiễn. Một văn bản quy phạm pháp luật chất lượng, hiệu quả phải đáp ứng đầy đủ các mục đích cơ bản đặt ra; giải quyết tốt các nhân tố xã hội về kinh tế, chính trị, văn hóa, dân tộc…, phải làm sáng tỏ các nhu cầu và lợi ích của các giai cấp, các tầng lớp, các cộng đồng dân cư… và nói chung là lợi ích của nhân dân. Án treo ra đời và phát triển về khía cạnh nhân đạo đã thỏa mãn các lợi ích đó.

Năm là: Các yếu tố trong tiểu hệ thống các nhân tố thượng tầng kiến trúc, đặc biệt là nhân tố chính trị có tác động rất lớn trong việc hoạch định chính sách pháp luật cũng như xây dựng pháp luật về án treo.

Hệ thống chính trị là một khái niệm rộng, tập hợp đa lợi ích của các giai cấp, các tầng lớp xã hội; trong đó lợi ích của giai cấp cầm quyền có tính quyết định, chi phối việc xây dựng pháp luật và hỗ trợ, tạo điều kiện cho các giai tầng khác trong xã hội. Đường lối lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong hơn 80 năm qua luôn thể hiện tính nhân đạo cao cả, khoan hồng, độ lượng đối với những người lầm đường lạc lối. Xã hội học pháp luật đã nghiên cứu và thể chế hóa tư tưởng của Đảng thành pháp luật; trong đó có việc xây dựng và ban hành chế định án treo trong Bộ luật Hình sự, để áp dụng đối với những người phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhân thân tốt, biết ăn năn hối cải, gây tác hại không lớn… Như vậy, bản thân chính trị cũng là một yếu tố thuộc thượng tầng kiến trúc do cơ sở hạ tầng quyết định; vì vậy sự chi phối của chính trị đối với pháp luật cũng có nguồn gốc từ thực tiễn đời sống xã hội. Đảng cầm quyền luôn theo dõi, quan tâm đến nhu cầu thực tế của các tầng lớp xã hội để có đường lối lãnh đạo đúng đắn, đáp ứng kịp thời và hài hòa các lợi ích đó, và lẽ dĩ nhiên pháp luật phải thể hiện ý chí của giai cấp thống trị thông qua sự quản lý của nhà nước pháp quyền.

2. Mối quan hệ giữa xã hội học pháp luật và xã hội học trong việc xây dựng pháp luật về án treo

Pháp luật ra đời từ trong xã hội, thực tiễn đời sống xã hội nảy sinh nhiều nhân tố mà việc nghiên cứu xây dựng pháp luật cần phải xem xét một cách đầy đủ. Thực tiễn đời sống xã hội cho thấy, cần phải có chế định về án treo để áp dụng đối với những người phạm tội khi đủ các điều kiện nêu trên. Vì thế, xã hội học pháp luật phải nghiên cứu, khảo sát và đánh giá có cần thiết phải ban hành chế định án treo hay không để phản ánh lại nhu cầu của xã hội. Trong hơn 70 năm qua, kể từ khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời cho đến nay, chế định án treo đã hình thành và phát triển theo chiều dài của lịch sử, luôn luôn có sự sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện. Điều đó chứng tỏ rằng, việc nghiên cứu, xây dựng và ban hành chế định án treo là hoàn toàn phù hợp với thực tiễn và được thực tiễn kiểm nghiệm, truyền tải được tư tưởng nhân đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đến nhân dân. Xã hội học pháp luật là một dạng của xã hội học, vì thế nó chịu sự quyết định của xã hội học. Bản thân các nhà khoa học, các đại biểu Quốc hội… khi nghiên cứu, xây dựng và ban hành pháp luật nói chung cũng như pháp luật về án treo nói riêng không phải muốn là được mà phải xem xét xã hội có cần pháp luật về án treo hay không. Vì thế, quan hệ giữa xã hội học pháp luật với xã hội học trong việc xây dựng và ban hành chế định án treo là mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại theo một quy luật: Các quan hệ xã hội quyết định việc nghiên cứu, ban hành pháp luật về án treo; còn việc nghiên cứu, ban hành pháp luật về án treo tác động trở lại đời sống xã hội, thúc đẩy các quan hệ xã hội phát triển. Cụ thể ở đây là: Làm cho người được hưởng án treo thấy được tính nhân đạo của pháp luật, yên tâm cải tạo, sớm hoàn lương và không tái phạm, đó chính là sự tác động tích cực. Trong trường hợp ngược lại, sự tác động tiêu cực sẽ kìm hãm sự phát triển của xã hội, cụ thể là sẽ làm cho người được hưởng án treo không thấy được tính nhân đạo của pháp luật, dễ tái phạm… Nhìn từ góc độ xã hội học và xã hội học pháp luật thì án treo trong hơn 70 năm qua tác động tích cực đến đời sống xã hội, vì thế nó luôn tồn tại và phát triển.

Ngoài ra, còn có những nhân tố như: Thực tiễn áp dụng pháp luật về án treo, thi hành án về án treo, ý thức pháp luật của công dân, truyền thống, văn hóa, dân tộc, trình độ dân trí cũng là những yếu tố mà xã hội học pháp luật cần phải nghiên cứu để xây dựng và hoàn thiện pháp luật về án treo.

Tựu trung lại, nhìn từ góc độ xã hội học và xã hội học pháp luật thì án treo không chỉ được nghiên cứu, xây dựng và ban hành tại Việt Nam mà nó còn được nghiên cứu, xây dựng và ban hành ở nhiều quốc gia trên thế giới như: Cộng hòa Liên bang Nga, Cộng hòa Liên bang Đức, Trung Quốc, Anh, Mỹ… Điều đó chứng minh được rằng, không chỉ có Việt Nam mà thực tế đời sống xã hội của nhiều nước trên thế giới đều có nhu cầu phải ban hành pháp luật về án treo để điều chỉnh các quan hệ xã hội phù hợp với nó, thể hiện tính nhân đạo của pháp luật quốc gia đó. Xã hội học pháp luật dựa vào phương pháp so sánh thấy được ngay cả ở những nước tư bản đều có pháp luật về án treo; thì ở Việt Nam trong điều kiện hiện tại và cả tương lai việc duy trì và hoàn thiện pháp luật về án treo không chỉ là sự cần thiết, một nhu cầu cấp bách mà còn là một tất yếu khách quan.

Tuy nhiên, chúng ta đang ở trong một giai đoạn toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới, trong đó có cả toàn cầu hóa pháp luật và nhiều vấn đề xã hội khác; đồng thời xuất phát từ thực tiễn áp dụng pháp luật trong hơn 70 năm qua có nhiều bất cập, chưa lan tỏa hết các nhu cầu đời sống xã hội. Vì thế trong lần sửa đổi Bộ luật Hình sự lần này theo hướng mở rộng các đối tượng được hưởng án treo, loại bỏ những điều kiện cho hưởng án treo không còn phù hợp với thực tiễn, bổ sung những điều kiện mới sát với thực tế hơn… sẽ bao quát hết các yếu tố thuộc nội hàm của án treo, đồng thời giảm tải được việc ban hành các văn bản hướng dẫn áp dụng và thi hành án treo.

ThS. Nguyễn Văn Bường

Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.
Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Tóm tắt: Thông báo thi hành án là thủ tục không thể thiếu trong từng giai đoạn của quá trình tổ chức thi hành án dân sự. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về thông báo thi hành án còn tồn tại một số bất cập, hạn chế như chưa tương xứng giữa quyền với nghĩa vụ của đương sự, giữa trách nhiệm với quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và chủ yếu được thực hiện theo hình thức thông báo trực tiếp… Bài viết phân tích pháp luật thực định và thực tiễn thi hành, từ đó, đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến thông báo thi hành án để phù hợp thực tiễn, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: