Chủ nhật 10/05/2026 21:48
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Xây dựng quy định pháp luật về Tổ chức phát hành Chứng chỉ lưu ký không có quyền biểu quyết ở Việt Nam

Bài viết nghiên cứu và phân tích địa vị pháp lý của Tổ chức phát hành chứng chỉ lưu ký không có quyền biểu quyết ở Việt Nam và Thái Lan, từ đó, đề xuất xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý về vấn đề này ở Việt Nam.

1. Khái quát về chứng chỉ lưu ký không có quyền biểu quyết

Chứng chỉ lưu ký không có quyền biểu quyết (Non-voting Depository Receip, viết tắt là NVDR) không phải là vấn đề mới ở Việt Nam. Từ những năm 2010 - 2012, NVDR đã được Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) bắt đầu nghiên cứu[1]. Tuy nhiên, 10 năm sau, NVDR mới chính thức được định danh trong Luật Doanh nghiệp năm 2020. Khoản 6 Điều 114 Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định: “Cổ phần phổ thông được dùng làm tài sản cơ sở để phát hành chứng chỉ lưu ký không có quyền biểu quyết được gọi là cổ phần phổ thông cơ sở. Chứng chỉ lưu ký không có quyền biểu quyết có lợi ích kinh tế và nghĩa vụ tương ứng với cổ phần phổ thông cơ sở, trừ quyền biểu quyết”.

Sau đó, NVDR tiếp tục được quy định cụ thể hơn tại Điều 140 Nghị định số 155/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Chứng khoán năm 2019 (Nghị định số 155/2020/NĐ-CP). Nội dung quy định như sau: “1. Chứng chỉ lưu ký không có quyền biểu quyết là một loại chứng khoán do công ty con của Sở giao dịch chứng khoán phát hành cho nhà đầu tư nước ngoài trên cơ sở cổ phiếu của công ty niêm yết, đăng ký giao dịch. 2. Người sở hữu chứng chỉ lưu ký không có quyền biểu quyết có lợi ích kinh tế và nghĩa vụ tương ứng với cổ phần phổ thông cơ sở, trừ quyền biểu quyết. 3. Tổ chức phát hành có quyền tham dự Đại hội đồng cổ đông và biểu quyết trong trường hợp tổ chức phát hành cổ phiếu cơ sở lấy ý kiến cổ đông về việc hủy niêm yết nhưng không có các quyền khác về kinh tế liên quan đến cổ phiếu đó”.

Tính đến nay, khung pháp lý về NVDR ở Việt Nam mới chỉ dừng lại ở những quy định nêu trên. Có thể thấy, sự khác biệt duy nhất giữa đầu tư vào NVDR và ​​đầu tư vào cổ phiếu của công ty là người sở hữu NVDR không được tham gia vào việc ra quyết định của công ty như cổ đông thông thường. Với đặc thù này, NVDR giúp thu hút thêm vốn đầu tư nước ngoài (ĐTNN), đồng thời vẫn ngăn ngừa được nguy cơ công ty trong nước bị nhà ĐTNN thâu tóm vì nhà ĐTNN nắm giữ NVDR hoàn toàn không được can thiệp vào hoạt động kinh doanh của công ty. Do đó, việc nhanh chóng xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý về NVDR để đưa loại chứng khoán này vào giao dịch là một yêu cầu, nhiệm vụ rất cấp thiết trong bối cảnh cuộc cạnh tranh thu hút vốn ĐTNN giữa các quốc gia ngày càng quyết liệt, bởi hầu hết các nước đều tăng cường huy động vốn nước ngoài nhằm tạo nguồn lực để khôi phục và phát triển kinh tế sau đại dịch Covid-19 toàn cầu.

2. Nhận diện Tổ chức phát hành NVDR ở Việt Nam

Tổ chức phát hành NVDR là một chủ thể không thể thiếu trong quá trình phát hành và giao dịch NVDR. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành mới chỉ quy định Tổ chức phát hành NVDR là công ty con của Sở Giao dịch Chứng khoán (Sở GDCK) mà chưa có quy định cụ thể về địa vị pháp lý của chủ thể này. Cụ thể, khoản 1 Điều 140 Nghị định số 155/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Chứng khoán 2019 quy định: “Chứng chỉ lưu ký không có quyền biểu quyết là một loại chứng khoán do công ty con của Sở giao dịch chứng khoán phát hành cho nhà đầu tư nước ngoài trên cơ sở cổ phiếu của công ty niêm yết, đăng ký giao dịch”.

Trong giai đoạn từ năm 2020 trở về trước, Việt Nam không có Sở GDCK quản lý chung, mà chỉ có Sở GDCK Hà Nội và Sở GDCK Thành phố Hồ Chí Minh. Việc tồn tại đồng thời hai Sở GDCK đã gây ra nhiều lãng phí về nguồn lực xã hội, làm giảm hiệu quả hoạt động của thị trường chứng khoán (TTCK) khi hệ thống giao dịch, hệ thống quy trình, quy chế không đồng bộ. Các thành viên thị trường như công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ bị tăng chi phí lên gấp đôi vì phải trả phí kết nối và các phí dịch vụ khác với hai sở thay vì một sở[2]. Sau đó, nhằm tạo ra sự thống nhất về mô hình tổ chức, cơ chế, chính sách quản lý và hạ tầng công nghệ thông tin phục vụ thị trường, bảo đảm TTCK hoạt động hiệu quả, cụ thể hóa quy định của Luật Chứng khoán năm 2019, ngày 23/12/2020, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 37/2020/QĐ-TTg thành lập Sở GDCK Việt Nam, (tên giao dịch quốc tế là Vietnam Exchange - viết tắt là VNX), trên cơ sở sắp xếp lại Sở GDCK Hà Nội và Sở GDCK Thành phố Hồ Chí Minh.

Hiện nay, Sở GDCK Việt Nam và 2 công ty con là Sở GDCK Thành phố Hồ Chí Minh và Sở GDCK Hà Nội mới được phép tổ chức và vận hành thị trường chứng khoán Việt Nam[3]. Khoản 1 Điều 140 Nghị định số 155/2020/NĐ-CP chỉ quy định Tổ chức phát hành NVDR là công ty con của Sở GDCK mà không có quy định cụ thể là Sở GDCK nào. Theo tác giả, với tư cách là chủ thể có thẩm quyền cao nhất trong việc tổ chức TTCK ở Việt Nam[4], Tổ chức phát hành NVDR sẽ do Sở GDCK Việt Nam thành lập và thống nhất quản lý.

3. Quyền và nghĩa vụ của Tổ chức phát hành NVDR

Hiện nay, NVDR hoặc công cụ tương tự như NVDR được áp dụng ở một số quốc gia như Hoa Kỳ[5], Ấn Độ[6] và đặc biệt là Thái Lan, quốc gia được đánh giá là rất thành công trong việc triển khai NVDR vào thực tiễn[7]. Mô hình NVDR tại Thái Lan được đánh giá là một giải pháp phù hợp với các quốc gia đang phát triển để đạt được sự cân bằng giữa việc duy trì sự kiểm soát của nhà đầu tư trong nước đối với các ngành nghề kinh doanh trọng yếu và thu hút được nguồn vốn của nhà ĐTNN vào TTCK[8]. Cụ thể, sau khi NVDR chính thức ra đời ở Thái Lan vào năm 2000[9], NVDR đã có sự tăng trưởng không ngừng, được coi là giải pháp chính yếu thúc đẩy ĐTNN vào TTCK. NVDR đã góp phần cải thiện đáng kể quy mô và tính thanh khoản của TTCK Thái Lan, từ đó giúp nâng hạng TTCK Thái Lan từ thị trường cận biên lên thị trường mới nổi và phát huy tối đa vai trò của TTCK là kênh huy động vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế.

Các nghiên cứu về NVDR đặt trong bối cảnh hiện tại của TTCK Việt Nam cho thấy Việt Nam nên chọn triển khai NVDR theo mô hình của Thái Lan[10]. Chính vì vậy, tác giả sẽ trên cơ sở tham khảo pháp luật Thái Lan về NVDR, đặt trong mối tương quan với pháp luật chứng khoán hiện hành của Việt Nam, từ đó, đề xuất phạm vi quyền và nghĩa vụ của Tổ chức phát hành NVDR tại Việt Nam.

3.1. Quyền của Tổ chức phát hành NVDR

Thứ nhất, Tổ chức phát hành NVDR có quyền mua cổ phiếu cơ sở của Công ty mục tiêu và phát hành NVDR tương ứng cho nhà đầu tư.

Chứng khoán làm cơ sở để phát hành NVDR là cổ phiếu phổ thông[11]. Khi nhà đầu tư có nhu cầu mua NVDR được phát hành dựa trên cổ phiếu cơ sở của một Công ty mục tiêu, nhà đầu tư sẽ tiến hành đặt lệnh mua NVDR với số lượng và mức giá cụ thể. Các thông tin này sẽ được chuyển tới Tổ chức phát hành. Theo yêu cầu của nhà đầu tư, Tổ chức phát hành thực hiện mua cổ phiếu phổ thông của Công ty mục tiêu, nắm giữ quyền sở hữu đối với số cổ phiếu này và phát hành NVDR tương ứng cho nhà đầu tư theo tỷ lệ 1:1; tức là 01 cổ phiếu phát hành được 01 NVDR. NVDR được phát hành dưới hình thức bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử và được lưu ký tại Tổng công ty lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam. Thông tin về việc sở hữu hợp pháp NVDR của nhà đầu tư được ghi nhận trên Sổ đăng ký NVDR[12]. Chứng chỉ chứng nhận quyền sở hữu NVDR sẽ được Tổ chức phát hành cấp cho nhà đầu tư khi có yêu cầu[13].

Về nguyên tắc, số lượng NVDR được phát hành cho nhà đầu tư phải tương ứng với số lượng cổ phiếu cơ sở mà Tổ chức phát hành nắm giữ tại Công ty mục tiêu. Để bảo đảm nguyên tắc này, Tổ chức phát hành có quyền phát hành thêm NVDR cho nhà đầu tư hoặc mua lại NVDR của nhà đầu tư khi xuất hiện tình trạng mất cân đối giữa số cổ phiếu cơ sở mà Tổ chức phát hành đang nắm giữ và số NVDR mà nhà đầu tư đang nắm giữ.

Tổ chức phát hành NVDR là chủ thể duy nhất có quyền phát hành NVDR trên TTCK Việt Nam. Trong giai đoạn đầu triển khai NVDR ở Việt Nam, tác giả cho rằng nên giới hạn số lượng NVDR phát hành theo một tỷ lệ % nhất định tính trên tổng số cổ phiếu hiện hữu của Công ty mục tiêu. Tỷ lệ này được xác định tùy theo từng nhóm ngành, nghề kinh doanh trên cơ sở tính tới mục tiêu quản lý nhà nước đặt ra đối với từng nhóm ngành, nghề. Sau đó, khi cơ chế vận hành NVDR trên TTCK đã thông suốt, ổn định, việc giới hạn số lượng NVDR phát hành có thể sẽ được bãi bỏ nhằm phát huy tối đa các ưu điểm của loại chứng khoán đặc thù này trong việc thu hút vốn đầu tư, đặc biệt là thu hút vốn đầu tư nước ngoài.

Thứ hai, Tổ chức phát hành NVDR có quyền tham gia Đại hội đồng cổ đông của Công ty mục tiêu và thực hiện quyền biểu quyết đối với việc hủy niêm yết của Công ty mục tiêu.

Tổ chức phát hành NVDR sở hữu số cổ phiếu phổ thông của Công ty mục tiêu tương ứng với số NVDR đã phát hành cho nhà đầu tư nên là cổ đông của Công ty mục tiêu[14]. Với tư cách là cổ đông, Tổ chức phát hành có quyền tham dự tất cả cuộc họp Đại hội đồng cổ đông của Công ty mục tiêu[15]. Tuy nhiên, nếu các cổ đông khác mua cổ phiếu vì mục đích đầu tư, Tổ chức phát hành mua cổ phiếu làm cơ sở để phát hành NVDR mà không phải vì đầu tư. Vì vậy, quyền biểu quyết tại Đại hội đồng cổ đông của Tổ chức phát hành sẽ khác biệt với quyền biểu quyết của các cổ đông phổ thông. Cụ thể, Tổ chức phát hành không có quyền biểu quyết đối với mọi vấn đề của Công ty mục tiêu, ngoại trừ biểu quyết về việc hủy niêm yết[16].

Việc hủy niêm yết của Công ty mục tiêu sẽ ảnh hưởng rất lớn đến Tổ chức phát hành và đặc biệt là đối với nhà đầu tư đang nắm giữ NVDR. Vì NVDR là một loại chứng khoán niêm yết, chỉ được niêm yết khi cổ phiếu cơ sở được niêm yết. Khi cổ phiếu cơ sở bị hủy niêm yết thì NVDR cũng sẽ bị huỷ niêm yết và không được giao dịch trên sàn giao dịch chứng khoán. Nhà đầu tư nắm giữ NVDR chỉ có thể bán NVDR ngoài sàn giao dịch chứng khoán. Theo quy định của Thái Lan, khi cổ phiếu của Công ty mục tiêu bị hủy niêm yết, Tổ chức phát hành bắt buộc phải mua lại toàn bộ NVDR từ nhà đầu tư[17]. Chính vì vậy, Tổ chức phát hành với tư cách là cổ đông của Công ty mục tiêu, khi nhận được thông tin về kế hoạch huỷ niêm yết của công ty này phải thông báo cho nhà đầu tư. Sau đó, trên cơ sở ý kiến của nhà đầu tư, Tổ chức phát hành sẽ biểu quyết tán thánh hoặc phản đối việc huỷ niêm yết của Công ty mục tiêu tại cuộc họp Đại hội đồng cổ đông của Công ty mục tiêu[18].

Ngoại trừ biểu quyết về việc hủy niêm yết, Tổ chức phát hành không có quyền biểu quyết đối với mọi vấn đề quản trị của Công ty mục tiêu. Tuy nhiên, Tổ chức phát hành vẫn là cổ đông của Công ty mục tiêu, nắm giữ một tỷ lệ cổ phần có quyền biểu quyết nhất định và chiếm một phần trong nhóm tỷ lệ cổ phần của nhà đầu tư trong nước.

Theo tác giả, để đảm bảo quyền kiểm soát của nhà đầu tư trong nước trong Công ty mục tiêu không bị giảm xuống do Tổ chức phát hành không tham gia biểu quyết, phương án hợp lý là quyền biểu quyết tương ứng với tỷ lệ cổ phần mà Tổ chức phát hành nắm giữ sẽ được phân bổ lại cho những nhà đầu tư trong nước tương ứng với tỷ lệ nắm giữ cổ phần của các nhà đầu tư đó theo cơ chế ủy quyền từ Tổ chức phát hành. Điều này có nghĩa là quyền biểu quyết của Tổ chức phát hành sẽ không được phân bổ cho các cổ đông là nhà ĐTNN trong Công ty mục tiêu. Điều này xuất phát từ bản chất của NVDR, là một giải pháp thu hút vốn đầu tư nước ngoài trong đó các nhà ĐTNN đầu tư vào NVDR không có quyền tham gia vào việc quản trị công ty.

3.2. Nghĩa vụ của Tổ chức phát hành NVDR

Các nghĩa vụ cơ bản của Tổ chức phát hành NVDR liên quan đến việc phát hành và giao dịch NVDR bao gồm:

Thứ nhất, Tổ chức phát hành NVDR nhận các lợi ích kinh tế phát sinh từ cổ phiếu cơ sở từ Công ty mục tiêu và chuyển giao các lợi ích kinh tế này cho nhà đầu tư NVDR.

Trong cơ chế vận hành NVDR, nhà đầu tư nắm giữ NVDR có các lợi ích kinh tế và nghĩa vụ tương ứng với các lợi ích kinh tế và nghĩa vụ phát sinh từ cổ phiếu cơ sở. Tuy nhiên, nhà đầu tư NVDR không trực tiếp nhận các lợi ích kinh tế này từ Công ty mục tiêu vì giữa nhà đầu tư và Công ty mục tiêu không có mối quan hệ trực tiếp. Thay vào đó, Tổ chức phát hành NVDR với tư cách là cổ đông của Công ty mục tiêu có quyền nhận mọi lợi ích kinh tế phát sinh từ số cổ phiếu cơ sở. Sau đó, Tổ chức phát hành có trách nhiệm chuyển giao các lợi ích kinh tế này cho các nhà đầu tư tương ứng với số NVDR mà nhà đầu tư đang sở hữu.

Các lợi ích kinh tế phát sinh từ cổ phiếu cơ sở bao gồm: Cổ tức bằng tiền mặt hoặc bằng cổ phiếu của Công ty mục tiêu, quyền mua cổ phiếu mới hoặc các lợi ích kinh tế khác[19].

Nếu Công ty mục tiêu trả cổ tức bằng tiền mặt, Tổ chức phát hành sẽ nhận số tiền bằng với số cổ tức mà tổ chức này được hưởng với tư cách là người sở hữu số cổ phần đã đăng ký. Sau đó, Tổ chức phát hành sẽ phân bổ và chuyển giao số tiền này cho nhà đầu tư có tên trong Sổ đăng ký NVDR tương ứng với tỷ lệ số NVDR mà nhà đầu tư đang nắm giữ. Nếu Công ty mục tiêu trả cổ tức bằng cổ phiếu, Tổ chức phát hành sẽ chuyển giao lợi ích kinh tế này cho nhà đầu tư bằng cách phát hành thêm NVDR cho nhà đầu tư.

Đối với lợi ích kinh tế là quyền được mua cổ phiếu mới của Công ty mục tiêu, Tổ chức phát hành sẽ thông báo cho các nhà đầu tư về quyền được mua thêm cổ phiếu mới. Nếu nhà đầu tư có nhu cầu, Tổ chức phát hành sẽ thực hiện việc mua thêm cổ phiếu mới của Công ty mục tiêu, và phát hành NVDR tương ứng cho nhà đầu tư.

Theo quy định của Thái Lan, mọi khoản chi phí phát sinh liên quan đến việc chuyển giao các lợi ích kinh tế cho nhà đầu tư NVDR sẽ do nhà đầu tư trả và sẽ được khấu trừ vào các khoản tiền mà Tổ chức phát hành phải thanh toán cho nhà đầu tư[20].

Thứ hai, Tổ chức phát hành NVDR có nghĩa vụ công bố thông tin liên quan đến NVDR.

Nhằm bảo đảm nguyên tắc hoạt động cơ bản của TTCK là công bằng, công khai, minh bạch[21], các chủ thể trên TTCK có nghĩa vụ công bố thông tin theo đúng quy định của pháp luật. Theo đó, Tổ chức phát hành NVDR có nghĩa vụ công bố thông tin về việc phát hành và giao dịch NVDR trên TTCK.

Hiện nay, vấn đề công bố thông tin trên TTCK được thực hiện theo hướng dẫn của Thông tư số 96/2020/TT-BTC ngày 16/11/2020 của Bộ Tài chính về hướng dẫn công bố thông tin trên TTCK (Thông tư số 96/2020/TT-BTC). Tuy nhiên, Thông tư số 96/2020/TT-BTC hoàn toàn chưa có quy định nào về việc công bố thông tin về NVDR.

Ngoài các quyền và nghĩa vụ cơ bản nêu trên, Tổ chức phát hành NVDR với tư cách là một công ty con của Sở GDCK Việt Nam, do Sở GDCK Việt Nam sở hữu 100% vốn điều lệ, có chức năng chính là phát hành NVDR để bán cho các nhà đầu tư và tham gia vào quá trình giao dịch NVDR trên TTCK nên Tổ chức phát hành NVDR còn có các quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật có liên quan như Luật Doanh nghiệp, Luật Chứng khoán, các luật về thuế, Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp và pháp luật có liên quan.

ThS. Nguyễn Thị Thu Hiền

Khoa Luật Thương mại, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh

[1]. Mai Hiền, HOSE tiên phong nghiên cứu, triển khai nhiều sản phẩm chứng khoán và nghiệp vụ mới, Tạp chí Tài chính tiền tệ online, https://thitruongtaichinhtiente.vn/hose-tien-phong-nghien-cuu-trien-khai-nhieu-san-pham-chung-khoan-va-nghiep-vu-moi-28277.html, truy cập ngày 10/05/2023.

[2]. Chính thức ra mắt Sở Giao dịch Chứng khoán Việt Nam, Báo điện tử Đảng cộng sản Việt Nam, https://dangcongsan.vn/kinh-te/chinh-thuc-ra-mat-so-giao-dich-chung-khoan-viet-nam-599412.html, truy cập ngày 10/05/2023.

[3]. Theo quy định tại khoản 2 Điều 42 Luật Chứng khoán năm 2019.

[4]. Khoản 1 Điều 2 Quyết định số 37/2020/QĐ-TTg ngày 23/12/2020 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập, tổ chức và hoạt động của Sở Giao dịch chứng khoán Việt Nam.

[5]. Josheph Velli, American Depositary Receipts: An Overview, Fordham International Law Jourmal, Volume 17, Issue 5, Article 6, 1993.

[6]. A. Morarji, Finanicial Innovation in Indian Capital Market, https://www.researchgate.net/publication/ 339644555_Financial_Innovation_in_Indian_Capital_Market_1, truy cập ngày 10/05/2023.

[7]. Phòng Nghiên cứu và Phát triển - Sở GDCK Thành phố Hồ Chí Minh, NVDR - Một sáng kiến thành công của TTCK Thái Lan, https://www.tinnhanhchungkhoan.vn/nvdr-mot-sang-kien-thanh-cong-cua-ttck-thai-lan-post13037.html, truy cập ngày 10/05/2023.

[8]. Xem thêm: Tanakorn Likitapwat và William F. Johnson (2016), Market Segmentation in Developing Markets Evidence from Thai Non-Voting Depository Receipts, Journal of Applied Economic Sciences, 11, p.241 - 256.

[9]. Ngày 18/7/2000, Ủy ban Chứng khoán và giao dịch chứng khoán Thái Lan (SEC) đã công bố các biện pháp quan trọng khẩn cấp, trong đó phát hành NVDR được xem là biện pháp ưu tiên để thu hút nguồn vốn của nhà ĐTNN trong bối cảnh nền kinh tế Thái Lan giảm sút nghiêm trọng và tình trạng thoái vốn mạnh của nhà ĐTNN trên TTCK sau tác động của khủng hoảng tài chính Châu Á năm 1997.

Xem thêm: Bank of Thailand (2000), Annual Economic Report 2000, ISBN 974-8036-84-7, p.69.

[10]. Xem thêm: Phòng Nghiên cứu và Phát triển - Sở GDCK Thành phố Hồ Chí Minh, Sự phù hợp của NVDR tại Việt Nam, https://www.tinnhanhchungkhoan.vn/su-phu-hop-cua-nvdr-tai-viet-nam-post12902.html, truy cập ngày 10/05/203.

Duy Cường, Cổ phiếu không có quyền biểu quyết: Chọn mô hình của Thái?, https://vneconomy.vn/co-phieu-khong-quyen-bieu-quyet-chon-mo-hinh-thai.htm, truy cập ngày 10/05/2023.

[11]. Khoản 1 Điều 140 Nghị định số 155/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Chứng khoán năm 2019.

[12]. Tham khảo khoản 2, 3, 4 Điều 2 Thông tư số 119/2020/TT-BTC ngày 31/12/2020 của Bộ Tài chính quy định về hoạt động đăng ký, lưu ký, bù trừ và thanh toán giao dịch chứng khoán.

[13]. Tham khảo khoản 5 Điều 2 Thông tư số 119/2020/TT-BTC ngày 31/12/2020 của Bộ Tài chính quy định về hoạt động đăng ký, lưu ký, bù trừ và thanh toán giao dịch chứng khoán.

[14]. Khoản 1 Điều 114 Luật Doanh nghiệp năm 2020.

[15]. Khoản 1 Điều 115 Luật Doanh nghiệp năm 2020.

[16]. Khoản 3 Điều 140 Nghị định số 155/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Chứng khoán năm 2019.

[17]. Thai NVDR Company Limited (2020), Prospectus about issuance of non-voting depositary receipts, https://www.set.or.th/nvdr/en/info/files/Full_Prospectus_30012020.pdf, tr.23, truy cập ngày 10/05/2023.

[18]. Thai NVDR Company Limited (2020), Prospectus about issuance of non-voting depositary receipts, https://www.set.or.th/nvdr/en/info/files/Full_Prospectus_30012020.pdf, tr.17, tr.18, truy cập ngày 10/05/2023.

[19]. Khoản 1 Điều 115 Luật Chứng khoán năm 2019; khoản 3 Điều 135 Luật Chứng Khoán năm 2019.

[20]. Thai NVDR Company Limited (2020), Prospectus about issuance of non-voting depositary receipts, https://www.set.or.th/nvdr/en/info/files/Full_Prospectus_30012020.pdf, tr.19, truy cập ngày 10/05/2023.

[21]. Khoản 2 Điều 5 Luật Chứng khoán năm 2019.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 390), tháng 10/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.

Theo dõi chúng tôi trên: