Thứ ba 17/03/2026 20:45
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Xây dựng quy định pháp luật về Tổ chức phát hành Chứng chỉ lưu ký không có quyền biểu quyết ở Việt Nam

Bài viết nghiên cứu và phân tích địa vị pháp lý của Tổ chức phát hành chứng chỉ lưu ký không có quyền biểu quyết ở Việt Nam và Thái Lan, từ đó, đề xuất xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý về vấn đề này ở Việt Nam.

1. Khái quát về chứng chỉ lưu ký không có quyền biểu quyết

Chứng chỉ lưu ký không có quyền biểu quyết (Non-voting Depository Receip, viết tắt là NVDR) không phải là vấn đề mới ở Việt Nam. Từ những năm 2010 - 2012, NVDR đã được Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) bắt đầu nghiên cứu[1]. Tuy nhiên, 10 năm sau, NVDR mới chính thức được định danh trong Luật Doanh nghiệp năm 2020. Khoản 6 Điều 114 Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định: “Cổ phần phổ thông được dùng làm tài sản cơ sở để phát hành chứng chỉ lưu ký không có quyền biểu quyết được gọi là cổ phần phổ thông cơ sở. Chứng chỉ lưu ký không có quyền biểu quyết có lợi ích kinh tế và nghĩa vụ tương ứng với cổ phần phổ thông cơ sở, trừ quyền biểu quyết”.

Sau đó, NVDR tiếp tục được quy định cụ thể hơn tại Điều 140 Nghị định số 155/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Chứng khoán năm 2019 (Nghị định số 155/2020/NĐ-CP). Nội dung quy định như sau: “1. Chứng chỉ lưu ký không có quyền biểu quyết là một loại chứng khoán do công ty con của Sở giao dịch chứng khoán phát hành cho nhà đầu tư nước ngoài trên cơ sở cổ phiếu của công ty niêm yết, đăng ký giao dịch. 2. Người sở hữu chứng chỉ lưu ký không có quyền biểu quyết có lợi ích kinh tế và nghĩa vụ tương ứng với cổ phần phổ thông cơ sở, trừ quyền biểu quyết. 3. Tổ chức phát hành có quyền tham dự Đại hội đồng cổ đông và biểu quyết trong trường hợp tổ chức phát hành cổ phiếu cơ sở lấy ý kiến cổ đông về việc hủy niêm yết nhưng không có các quyền khác về kinh tế liên quan đến cổ phiếu đó”.

Tính đến nay, khung pháp lý về NVDR ở Việt Nam mới chỉ dừng lại ở những quy định nêu trên. Có thể thấy, sự khác biệt duy nhất giữa đầu tư vào NVDR và ​​đầu tư vào cổ phiếu của công ty là người sở hữu NVDR không được tham gia vào việc ra quyết định của công ty như cổ đông thông thường. Với đặc thù này, NVDR giúp thu hút thêm vốn đầu tư nước ngoài (ĐTNN), đồng thời vẫn ngăn ngừa được nguy cơ công ty trong nước bị nhà ĐTNN thâu tóm vì nhà ĐTNN nắm giữ NVDR hoàn toàn không được can thiệp vào hoạt động kinh doanh của công ty. Do đó, việc nhanh chóng xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý về NVDR để đưa loại chứng khoán này vào giao dịch là một yêu cầu, nhiệm vụ rất cấp thiết trong bối cảnh cuộc cạnh tranh thu hút vốn ĐTNN giữa các quốc gia ngày càng quyết liệt, bởi hầu hết các nước đều tăng cường huy động vốn nước ngoài nhằm tạo nguồn lực để khôi phục và phát triển kinh tế sau đại dịch Covid-19 toàn cầu.

2. Nhận diện Tổ chức phát hành NVDR ở Việt Nam

Tổ chức phát hành NVDR là một chủ thể không thể thiếu trong quá trình phát hành và giao dịch NVDR. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành mới chỉ quy định Tổ chức phát hành NVDR là công ty con của Sở Giao dịch Chứng khoán (Sở GDCK) mà chưa có quy định cụ thể về địa vị pháp lý của chủ thể này. Cụ thể, khoản 1 Điều 140 Nghị định số 155/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Chứng khoán 2019 quy định: “Chứng chỉ lưu ký không có quyền biểu quyết là một loại chứng khoán do công ty con của Sở giao dịch chứng khoán phát hành cho nhà đầu tư nước ngoài trên cơ sở cổ phiếu của công ty niêm yết, đăng ký giao dịch”.

Trong giai đoạn từ năm 2020 trở về trước, Việt Nam không có Sở GDCK quản lý chung, mà chỉ có Sở GDCK Hà Nội và Sở GDCK Thành phố Hồ Chí Minh. Việc tồn tại đồng thời hai Sở GDCK đã gây ra nhiều lãng phí về nguồn lực xã hội, làm giảm hiệu quả hoạt động của thị trường chứng khoán (TTCK) khi hệ thống giao dịch, hệ thống quy trình, quy chế không đồng bộ. Các thành viên thị trường như công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ bị tăng chi phí lên gấp đôi vì phải trả phí kết nối và các phí dịch vụ khác với hai sở thay vì một sở[2]. Sau đó, nhằm tạo ra sự thống nhất về mô hình tổ chức, cơ chế, chính sách quản lý và hạ tầng công nghệ thông tin phục vụ thị trường, bảo đảm TTCK hoạt động hiệu quả, cụ thể hóa quy định của Luật Chứng khoán năm 2019, ngày 23/12/2020, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 37/2020/QĐ-TTg thành lập Sở GDCK Việt Nam, (tên giao dịch quốc tế là Vietnam Exchange - viết tắt là VNX), trên cơ sở sắp xếp lại Sở GDCK Hà Nội và Sở GDCK Thành phố Hồ Chí Minh.

Hiện nay, Sở GDCK Việt Nam và 2 công ty con là Sở GDCK Thành phố Hồ Chí Minh và Sở GDCK Hà Nội mới được phép tổ chức và vận hành thị trường chứng khoán Việt Nam[3]. Khoản 1 Điều 140 Nghị định số 155/2020/NĐ-CP chỉ quy định Tổ chức phát hành NVDR là công ty con của Sở GDCK mà không có quy định cụ thể là Sở GDCK nào. Theo tác giả, với tư cách là chủ thể có thẩm quyền cao nhất trong việc tổ chức TTCK ở Việt Nam[4], Tổ chức phát hành NVDR sẽ do Sở GDCK Việt Nam thành lập và thống nhất quản lý.

3. Quyền và nghĩa vụ của Tổ chức phát hành NVDR

Hiện nay, NVDR hoặc công cụ tương tự như NVDR được áp dụng ở một số quốc gia như Hoa Kỳ[5], Ấn Độ[6] và đặc biệt là Thái Lan, quốc gia được đánh giá là rất thành công trong việc triển khai NVDR vào thực tiễn[7]. Mô hình NVDR tại Thái Lan được đánh giá là một giải pháp phù hợp với các quốc gia đang phát triển để đạt được sự cân bằng giữa việc duy trì sự kiểm soát của nhà đầu tư trong nước đối với các ngành nghề kinh doanh trọng yếu và thu hút được nguồn vốn của nhà ĐTNN vào TTCK[8]. Cụ thể, sau khi NVDR chính thức ra đời ở Thái Lan vào năm 2000[9], NVDR đã có sự tăng trưởng không ngừng, được coi là giải pháp chính yếu thúc đẩy ĐTNN vào TTCK. NVDR đã góp phần cải thiện đáng kể quy mô và tính thanh khoản của TTCK Thái Lan, từ đó giúp nâng hạng TTCK Thái Lan từ thị trường cận biên lên thị trường mới nổi và phát huy tối đa vai trò của TTCK là kênh huy động vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế.

Các nghiên cứu về NVDR đặt trong bối cảnh hiện tại của TTCK Việt Nam cho thấy Việt Nam nên chọn triển khai NVDR theo mô hình của Thái Lan[10]. Chính vì vậy, tác giả sẽ trên cơ sở tham khảo pháp luật Thái Lan về NVDR, đặt trong mối tương quan với pháp luật chứng khoán hiện hành của Việt Nam, từ đó, đề xuất phạm vi quyền và nghĩa vụ của Tổ chức phát hành NVDR tại Việt Nam.

3.1. Quyền của Tổ chức phát hành NVDR

Thứ nhất, Tổ chức phát hành NVDR có quyền mua cổ phiếu cơ sở của Công ty mục tiêu và phát hành NVDR tương ứng cho nhà đầu tư.

Chứng khoán làm cơ sở để phát hành NVDR là cổ phiếu phổ thông[11]. Khi nhà đầu tư có nhu cầu mua NVDR được phát hành dựa trên cổ phiếu cơ sở của một Công ty mục tiêu, nhà đầu tư sẽ tiến hành đặt lệnh mua NVDR với số lượng và mức giá cụ thể. Các thông tin này sẽ được chuyển tới Tổ chức phát hành. Theo yêu cầu của nhà đầu tư, Tổ chức phát hành thực hiện mua cổ phiếu phổ thông của Công ty mục tiêu, nắm giữ quyền sở hữu đối với số cổ phiếu này và phát hành NVDR tương ứng cho nhà đầu tư theo tỷ lệ 1:1; tức là 01 cổ phiếu phát hành được 01 NVDR. NVDR được phát hành dưới hình thức bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử và được lưu ký tại Tổng công ty lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam. Thông tin về việc sở hữu hợp pháp NVDR của nhà đầu tư được ghi nhận trên Sổ đăng ký NVDR[12]. Chứng chỉ chứng nhận quyền sở hữu NVDR sẽ được Tổ chức phát hành cấp cho nhà đầu tư khi có yêu cầu[13].

Về nguyên tắc, số lượng NVDR được phát hành cho nhà đầu tư phải tương ứng với số lượng cổ phiếu cơ sở mà Tổ chức phát hành nắm giữ tại Công ty mục tiêu. Để bảo đảm nguyên tắc này, Tổ chức phát hành có quyền phát hành thêm NVDR cho nhà đầu tư hoặc mua lại NVDR của nhà đầu tư khi xuất hiện tình trạng mất cân đối giữa số cổ phiếu cơ sở mà Tổ chức phát hành đang nắm giữ và số NVDR mà nhà đầu tư đang nắm giữ.

Tổ chức phát hành NVDR là chủ thể duy nhất có quyền phát hành NVDR trên TTCK Việt Nam. Trong giai đoạn đầu triển khai NVDR ở Việt Nam, tác giả cho rằng nên giới hạn số lượng NVDR phát hành theo một tỷ lệ % nhất định tính trên tổng số cổ phiếu hiện hữu của Công ty mục tiêu. Tỷ lệ này được xác định tùy theo từng nhóm ngành, nghề kinh doanh trên cơ sở tính tới mục tiêu quản lý nhà nước đặt ra đối với từng nhóm ngành, nghề. Sau đó, khi cơ chế vận hành NVDR trên TTCK đã thông suốt, ổn định, việc giới hạn số lượng NVDR phát hành có thể sẽ được bãi bỏ nhằm phát huy tối đa các ưu điểm của loại chứng khoán đặc thù này trong việc thu hút vốn đầu tư, đặc biệt là thu hút vốn đầu tư nước ngoài.

Thứ hai, Tổ chức phát hành NVDR có quyền tham gia Đại hội đồng cổ đông của Công ty mục tiêu và thực hiện quyền biểu quyết đối với việc hủy niêm yết của Công ty mục tiêu.

Tổ chức phát hành NVDR sở hữu số cổ phiếu phổ thông của Công ty mục tiêu tương ứng với số NVDR đã phát hành cho nhà đầu tư nên là cổ đông của Công ty mục tiêu[14]. Với tư cách là cổ đông, Tổ chức phát hành có quyền tham dự tất cả cuộc họp Đại hội đồng cổ đông của Công ty mục tiêu[15]. Tuy nhiên, nếu các cổ đông khác mua cổ phiếu vì mục đích đầu tư, Tổ chức phát hành mua cổ phiếu làm cơ sở để phát hành NVDR mà không phải vì đầu tư. Vì vậy, quyền biểu quyết tại Đại hội đồng cổ đông của Tổ chức phát hành sẽ khác biệt với quyền biểu quyết của các cổ đông phổ thông. Cụ thể, Tổ chức phát hành không có quyền biểu quyết đối với mọi vấn đề của Công ty mục tiêu, ngoại trừ biểu quyết về việc hủy niêm yết[16].

Việc hủy niêm yết của Công ty mục tiêu sẽ ảnh hưởng rất lớn đến Tổ chức phát hành và đặc biệt là đối với nhà đầu tư đang nắm giữ NVDR. Vì NVDR là một loại chứng khoán niêm yết, chỉ được niêm yết khi cổ phiếu cơ sở được niêm yết. Khi cổ phiếu cơ sở bị hủy niêm yết thì NVDR cũng sẽ bị huỷ niêm yết và không được giao dịch trên sàn giao dịch chứng khoán. Nhà đầu tư nắm giữ NVDR chỉ có thể bán NVDR ngoài sàn giao dịch chứng khoán. Theo quy định của Thái Lan, khi cổ phiếu của Công ty mục tiêu bị hủy niêm yết, Tổ chức phát hành bắt buộc phải mua lại toàn bộ NVDR từ nhà đầu tư[17]. Chính vì vậy, Tổ chức phát hành với tư cách là cổ đông của Công ty mục tiêu, khi nhận được thông tin về kế hoạch huỷ niêm yết của công ty này phải thông báo cho nhà đầu tư. Sau đó, trên cơ sở ý kiến của nhà đầu tư, Tổ chức phát hành sẽ biểu quyết tán thánh hoặc phản đối việc huỷ niêm yết của Công ty mục tiêu tại cuộc họp Đại hội đồng cổ đông của Công ty mục tiêu[18].

Ngoại trừ biểu quyết về việc hủy niêm yết, Tổ chức phát hành không có quyền biểu quyết đối với mọi vấn đề quản trị của Công ty mục tiêu. Tuy nhiên, Tổ chức phát hành vẫn là cổ đông của Công ty mục tiêu, nắm giữ một tỷ lệ cổ phần có quyền biểu quyết nhất định và chiếm một phần trong nhóm tỷ lệ cổ phần của nhà đầu tư trong nước.

Theo tác giả, để đảm bảo quyền kiểm soát của nhà đầu tư trong nước trong Công ty mục tiêu không bị giảm xuống do Tổ chức phát hành không tham gia biểu quyết, phương án hợp lý là quyền biểu quyết tương ứng với tỷ lệ cổ phần mà Tổ chức phát hành nắm giữ sẽ được phân bổ lại cho những nhà đầu tư trong nước tương ứng với tỷ lệ nắm giữ cổ phần của các nhà đầu tư đó theo cơ chế ủy quyền từ Tổ chức phát hành. Điều này có nghĩa là quyền biểu quyết của Tổ chức phát hành sẽ không được phân bổ cho các cổ đông là nhà ĐTNN trong Công ty mục tiêu. Điều này xuất phát từ bản chất của NVDR, là một giải pháp thu hút vốn đầu tư nước ngoài trong đó các nhà ĐTNN đầu tư vào NVDR không có quyền tham gia vào việc quản trị công ty.

3.2. Nghĩa vụ của Tổ chức phát hành NVDR

Các nghĩa vụ cơ bản của Tổ chức phát hành NVDR liên quan đến việc phát hành và giao dịch NVDR bao gồm:

Thứ nhất, Tổ chức phát hành NVDR nhận các lợi ích kinh tế phát sinh từ cổ phiếu cơ sở từ Công ty mục tiêu và chuyển giao các lợi ích kinh tế này cho nhà đầu tư NVDR.

Trong cơ chế vận hành NVDR, nhà đầu tư nắm giữ NVDR có các lợi ích kinh tế và nghĩa vụ tương ứng với các lợi ích kinh tế và nghĩa vụ phát sinh từ cổ phiếu cơ sở. Tuy nhiên, nhà đầu tư NVDR không trực tiếp nhận các lợi ích kinh tế này từ Công ty mục tiêu vì giữa nhà đầu tư và Công ty mục tiêu không có mối quan hệ trực tiếp. Thay vào đó, Tổ chức phát hành NVDR với tư cách là cổ đông của Công ty mục tiêu có quyền nhận mọi lợi ích kinh tế phát sinh từ số cổ phiếu cơ sở. Sau đó, Tổ chức phát hành có trách nhiệm chuyển giao các lợi ích kinh tế này cho các nhà đầu tư tương ứng với số NVDR mà nhà đầu tư đang sở hữu.

Các lợi ích kinh tế phát sinh từ cổ phiếu cơ sở bao gồm: Cổ tức bằng tiền mặt hoặc bằng cổ phiếu của Công ty mục tiêu, quyền mua cổ phiếu mới hoặc các lợi ích kinh tế khác[19].

Nếu Công ty mục tiêu trả cổ tức bằng tiền mặt, Tổ chức phát hành sẽ nhận số tiền bằng với số cổ tức mà tổ chức này được hưởng với tư cách là người sở hữu số cổ phần đã đăng ký. Sau đó, Tổ chức phát hành sẽ phân bổ và chuyển giao số tiền này cho nhà đầu tư có tên trong Sổ đăng ký NVDR tương ứng với tỷ lệ số NVDR mà nhà đầu tư đang nắm giữ. Nếu Công ty mục tiêu trả cổ tức bằng cổ phiếu, Tổ chức phát hành sẽ chuyển giao lợi ích kinh tế này cho nhà đầu tư bằng cách phát hành thêm NVDR cho nhà đầu tư.

Đối với lợi ích kinh tế là quyền được mua cổ phiếu mới của Công ty mục tiêu, Tổ chức phát hành sẽ thông báo cho các nhà đầu tư về quyền được mua thêm cổ phiếu mới. Nếu nhà đầu tư có nhu cầu, Tổ chức phát hành sẽ thực hiện việc mua thêm cổ phiếu mới của Công ty mục tiêu, và phát hành NVDR tương ứng cho nhà đầu tư.

Theo quy định của Thái Lan, mọi khoản chi phí phát sinh liên quan đến việc chuyển giao các lợi ích kinh tế cho nhà đầu tư NVDR sẽ do nhà đầu tư trả và sẽ được khấu trừ vào các khoản tiền mà Tổ chức phát hành phải thanh toán cho nhà đầu tư[20].

Thứ hai, Tổ chức phát hành NVDR có nghĩa vụ công bố thông tin liên quan đến NVDR.

Nhằm bảo đảm nguyên tắc hoạt động cơ bản của TTCK là công bằng, công khai, minh bạch[21], các chủ thể trên TTCK có nghĩa vụ công bố thông tin theo đúng quy định của pháp luật. Theo đó, Tổ chức phát hành NVDR có nghĩa vụ công bố thông tin về việc phát hành và giao dịch NVDR trên TTCK.

Hiện nay, vấn đề công bố thông tin trên TTCK được thực hiện theo hướng dẫn của Thông tư số 96/2020/TT-BTC ngày 16/11/2020 của Bộ Tài chính về hướng dẫn công bố thông tin trên TTCK (Thông tư số 96/2020/TT-BTC). Tuy nhiên, Thông tư số 96/2020/TT-BTC hoàn toàn chưa có quy định nào về việc công bố thông tin về NVDR.

Ngoài các quyền và nghĩa vụ cơ bản nêu trên, Tổ chức phát hành NVDR với tư cách là một công ty con của Sở GDCK Việt Nam, do Sở GDCK Việt Nam sở hữu 100% vốn điều lệ, có chức năng chính là phát hành NVDR để bán cho các nhà đầu tư và tham gia vào quá trình giao dịch NVDR trên TTCK nên Tổ chức phát hành NVDR còn có các quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật có liên quan như Luật Doanh nghiệp, Luật Chứng khoán, các luật về thuế, Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp và pháp luật có liên quan.

ThS. Nguyễn Thị Thu Hiền

Khoa Luật Thương mại, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh

[1]. Mai Hiền, HOSE tiên phong nghiên cứu, triển khai nhiều sản phẩm chứng khoán và nghiệp vụ mới, Tạp chí Tài chính tiền tệ online, https://thitruongtaichinhtiente.vn/hose-tien-phong-nghien-cuu-trien-khai-nhieu-san-pham-chung-khoan-va-nghiep-vu-moi-28277.html, truy cập ngày 10/05/2023.

[2]. Chính thức ra mắt Sở Giao dịch Chứng khoán Việt Nam, Báo điện tử Đảng cộng sản Việt Nam, https://dangcongsan.vn/kinh-te/chinh-thuc-ra-mat-so-giao-dich-chung-khoan-viet-nam-599412.html, truy cập ngày 10/05/2023.

[3]. Theo quy định tại khoản 2 Điều 42 Luật Chứng khoán năm 2019.

[4]. Khoản 1 Điều 2 Quyết định số 37/2020/QĐ-TTg ngày 23/12/2020 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập, tổ chức và hoạt động của Sở Giao dịch chứng khoán Việt Nam.

[5]. Josheph Velli, American Depositary Receipts: An Overview, Fordham International Law Jourmal, Volume 17, Issue 5, Article 6, 1993.

[6]. A. Morarji, Finanicial Innovation in Indian Capital Market, https://www.researchgate.net/publication/ 339644555_Financial_Innovation_in_Indian_Capital_Market_1, truy cập ngày 10/05/2023.

[7]. Phòng Nghiên cứu và Phát triển - Sở GDCK Thành phố Hồ Chí Minh, NVDR - Một sáng kiến thành công của TTCK Thái Lan, https://www.tinnhanhchungkhoan.vn/nvdr-mot-sang-kien-thanh-cong-cua-ttck-thai-lan-post13037.html, truy cập ngày 10/05/2023.

[8]. Xem thêm: Tanakorn Likitapwat và William F. Johnson (2016), Market Segmentation in Developing Markets Evidence from Thai Non-Voting Depository Receipts, Journal of Applied Economic Sciences, 11, p.241 - 256.

[9]. Ngày 18/7/2000, Ủy ban Chứng khoán và giao dịch chứng khoán Thái Lan (SEC) đã công bố các biện pháp quan trọng khẩn cấp, trong đó phát hành NVDR được xem là biện pháp ưu tiên để thu hút nguồn vốn của nhà ĐTNN trong bối cảnh nền kinh tế Thái Lan giảm sút nghiêm trọng và tình trạng thoái vốn mạnh của nhà ĐTNN trên TTCK sau tác động của khủng hoảng tài chính Châu Á năm 1997.

Xem thêm: Bank of Thailand (2000), Annual Economic Report 2000, ISBN 974-8036-84-7, p.69.

[10]. Xem thêm: Phòng Nghiên cứu và Phát triển - Sở GDCK Thành phố Hồ Chí Minh, Sự phù hợp của NVDR tại Việt Nam, https://www.tinnhanhchungkhoan.vn/su-phu-hop-cua-nvdr-tai-viet-nam-post12902.html, truy cập ngày 10/05/203.

Duy Cường, Cổ phiếu không có quyền biểu quyết: Chọn mô hình của Thái?, https://vneconomy.vn/co-phieu-khong-quyen-bieu-quyet-chon-mo-hinh-thai.htm, truy cập ngày 10/05/2023.

[11]. Khoản 1 Điều 140 Nghị định số 155/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Chứng khoán năm 2019.

[12]. Tham khảo khoản 2, 3, 4 Điều 2 Thông tư số 119/2020/TT-BTC ngày 31/12/2020 của Bộ Tài chính quy định về hoạt động đăng ký, lưu ký, bù trừ và thanh toán giao dịch chứng khoán.

[13]. Tham khảo khoản 5 Điều 2 Thông tư số 119/2020/TT-BTC ngày 31/12/2020 của Bộ Tài chính quy định về hoạt động đăng ký, lưu ký, bù trừ và thanh toán giao dịch chứng khoán.

[14]. Khoản 1 Điều 114 Luật Doanh nghiệp năm 2020.

[15]. Khoản 1 Điều 115 Luật Doanh nghiệp năm 2020.

[16]. Khoản 3 Điều 140 Nghị định số 155/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Chứng khoán năm 2019.

[17]. Thai NVDR Company Limited (2020), Prospectus about issuance of non-voting depositary receipts, https://www.set.or.th/nvdr/en/info/files/Full_Prospectus_30012020.pdf, tr.23, truy cập ngày 10/05/2023.

[18]. Thai NVDR Company Limited (2020), Prospectus about issuance of non-voting depositary receipts, https://www.set.or.th/nvdr/en/info/files/Full_Prospectus_30012020.pdf, tr.17, tr.18, truy cập ngày 10/05/2023.

[19]. Khoản 1 Điều 115 Luật Chứng khoán năm 2019; khoản 3 Điều 135 Luật Chứng Khoán năm 2019.

[20]. Thai NVDR Company Limited (2020), Prospectus about issuance of non-voting depositary receipts, https://www.set.or.th/nvdr/en/info/files/Full_Prospectus_30012020.pdf, tr.19, truy cập ngày 10/05/2023.

[21]. Khoản 2 Điều 5 Luật Chứng khoán năm 2019.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 390), tháng 10/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.

Theo dõi chúng tôi trên: