Thứ bảy 02/05/2026 17:16
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Xây dựng và hoàn thiện pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân theo tinh thần của Nghị quyết số 27-NQ/TW

Trong bài viết, tác giả phân tích việc vận dụng Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới (Nghị quyết số 27-NQ/TW) vào hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân ở Việt Nam, đồng thời đưa ra một số giải pháp thực hiện.

1. Vận dụng Nghị quyết số 27-NQ/TW trong hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo vệ dữ liệu cá nhân ở Việt Nam

Hệ thống pháp luật là chuẩn mực hướng dẫn hành vi cho tất cả các cá nhân, tổ chức, bao gồm cả Nhà nước khi tham gia vào các quan hệ xã hội nhằm đảm bảo mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Do đó, Đảng và Nhà nước ta luôn dành sự quan tâm đặc biệt tới vấn đề xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật thông qua việc đề ra các tiêu chí, yêu cầu đối với hệ thống pháp luật trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã thông qua Nghị quyết số 27-NQ/TW. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử, Đảng ta ban hành một Nghị quyết chuyên đề của Trung ương về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam với nhiều nội dung, yêu cầu mới, quan trọng về xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật. Nghị quyết số 27-NQ/TW tiếp tục kế thừa các nội dung của Nghị quyết số 48-NQ/TW[1] và Nghị quyết số 49-NQ/TW[2] của Bộ Chính trị với khẳng định mục tiêu xây dựng hệ thống pháp luật “thống nhất, đồng bộ, khả thi, công khai, minh bạch”. Mặt khác, do hệ thống pháp luật Việt Nam còn có những bất cập nhất định, chưa thực sự đáp ứng được đòi hỏi từ thực tiễn, do đó Nghị quyết số 27-NQ/TW đã đặt ra nhiệm vụ, giải pháp là xây dựng hệ thống pháp luật “dân chủ, công bằng, nhân đạo, đầy đủ, kịp thời, đồng bộ, thống nhất, công khai, minh bạch, ổn định, khả thi, dễ tiếp cận, đủ khả năng điều chỉnh các quan hệ xã hội, lấy quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân, tổ chức, doanh nghiệp làm trung tâm, thúc đẩy đổi mới sáng tạo”. Có ý kiến cho rằng, Nghị quyết số 27-NQ/TW đã đưa ra quan điểm tiếp cận mới về pháp luật, hệ thống pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật. Đó là quan điểm tiếp cận tổng thể, tích hợp, bao trùm, toàn diện về pháp luật, hệ thống pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật.

Hiện nay, Việt Nam là một trong những quốc gia có tốc độ phát triển và ứng dụng internet cao nhất thế giới. Số lượng người sử dụng internet của Việt Nam đã đạt hơn 79 triệu người, tương đương gần 80% tổng dân số. Dữ liệu cá nhân của hơn hai phần ba dân số Việt Nam đang được lưu trữ, đăng tải, chia sẻ và thu thập trên không gian mạng với nhiều hình thức và mức độ chi tiết khác nhau. Dữ liệu cá nhân là “nguyên liệu” chính của nền kinh tế số với sự tham gia của nhiều lĩnh vực như: Hành chính, y tế, hình sự, hộ tịch, quốc tịch, chứng thực, thương mại điện tử, giáo dục, tài chính, ngân hàng, thuế, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn… được ứng dụng sâu rộng, tạo ra giá trị lợi nhuận cao trong nền kinh tế quốc dân. Vì vậy, việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo vệ dữ liệu cá nhân là hoàn toàn phù hợp với tinh thần của Nghị quyết số 27- NQ/TW; đồng thời phù hợp với:

Thứ nhất, việc đảm bảo quyền con người, quyền công dân đã được công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật. Trong đó, quyền bảo vệ dữ liệu cá nhân là nội dung liên quan trực tiếp đến quyền con người với ý nghĩa là quyền riêng tư của con người, vì vậy cần phải được tôn trọng và bảo vệ.

Thứ hai, việc tôn trọng và bảo đảm thực hiện các điều ước quốc tế mà Nhà nước Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập. Bảo vệ dữ liệu cá nhân là vấn đề được nhiều tổ chức và quốc gia trên thế giới quan tâm thông qua việc ban hành như: Công ước của Hội đồng châu Âu về bảo vệ cá nhân liên quan đến tự động xử lý thông tin và dữ liệu cá nhân; Hướng dẫn của Liên Hợp Quốc về các tệp thông tin và dữ liệu cá nhân được vi tính hóa; Khung bảo mật hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương; Các tiêu chuẩn quốc tế về quyền riêng tư và bảo vệ thông tin và dữ liệu cá nhân; Quy định bảo vệ dữ liệu chung của EU; Hiệp định chung về Thương mại dịch vụ (GATS) của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO); Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương; Hiệp định thương mại tự do giữa Liên minh châu Âu và Việt Nam… đều quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân.

2. Thực trạng hệ thống pháp luật Việt Nam về bảo vệ dữ liệu cá nhân

Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định quyền riêng tư là bất khả xâm phạm và mở rộng phạm vi quyền riêng tư không chỉ là quyền bất khả xâm phạm về thân thể, nhà ở, thư tín mà còn bao gồm quyền bảo vệ thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình. Trong Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, Luật Trẻ em năm 2016 có sử dụng cụm từ “thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình” nhưng không định nghĩa các khái niệm này. Theo thống kê của Bộ Công an thì Việt Nam có 68 văn bản quy phạm pháp luật liên quan trực tiếp đến bảo vệ dữ liệu cá nhân nhưng các văn bản đều chưa thống nhất về khái niệm và nội hàm bảo vệ dữ liệu cá nhân. Có nhiều thuật ngữ liên quan đến thông tin cá nhân, gồm: “Dữ liệu cá nhân”, “thông tin cá nhân”, “thông tin riêng”, “thông tin riêng tư”, “thông tin số”, “thông tin cá nhân trên môi trường mạng”, “thông tin bí mật đời tư”, “thông tin về đời sống riêng tư”, “bí mật gia đình”, “quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư”, “cơ sở dữ liệu điện tử”, “thông tin của người tiêu dùng”... Có thể thấy, trong nhưng thuận ngữ này thì thuật ngữ “thông tin cá nhân” được coi là tương đồng và gần gũi nhất với thuật ngữ “dữ liệu cá nhân”. Thuật ngữ “thông tin cá nhân” xuất hiện ở hơn 300 văn bản quy phạm pháp luật. Trong đó, 07 văn bản pháp luật có định nghĩa “thông tin cá nhân”, các văn bản pháp luật còn lại đề cập đến thuật ngữ “thông tin cá nhân” trong nội dung các quy định mà không giải thích hoặc dẫn chiếu giải thích đến văn bản pháp luật khác[3].

Mặc dù, Nghị định số 13/2023/NĐ-CP ngày 17/4/2023 của Chính phủ về bảo vệ dữ liệu cá nhân đã đưa ra định nghĩa về “dữ liệu cá nhân” và “bảo vệ dữ liệu cá nhân” nhưng phạm vi điều chỉnh của Nghị định này lại chưa bao quát được hết các lĩnh vực, quan hệ của đời sống, xã hội, cũng như chưa thực sự tương thích với các quy định về quyền bí mật đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình được nêu trong Hiến pháp năm 2013. Vì vậy, yêu cầu đặt ra là phải thống nhất về thuật ngữ “dữ liệu cá nhân” nhằm bảo đảm sự đồng bộ về nội dung, phạm vi và cách thức, trường hợp áp dụng cụ thể.

Mặt khác, với tốc độ phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin mạnh mẽ như hiện nay, thì dữ liệu cá nhân đã và đang trở thành nguồn nguyên liệu cơ bản, đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh quốc gia, tuy nhiên có thể nhận thấy, một số lượng lớn người sử dụng internet đã và đang bị chiếm đoạt và đăng tải công khai dữ liệu cá nhân. Tình trạng mua bán dữ liệu cá nhân hiện đang diễn ra phổ biến, công khai, với các dữ liệu thô và dữ liệu cá nhân đã qua xử lý. Các hành vi này chưa được xử lý triệt để do thiếu quy định của pháp luật. Việc mua bán dữ liệu cá nhân được tiến hành có hệ thống, có tổ chức, thậm chí còn có cam kết “bảo hành” và có khả năng cập nhật dữ liệu, trích xuất dữ liệu theo yêu cầu người mua được tiến hành qua website, tài khoản, trang, nhóm trên mạng xã hội (Facebook, Zalo…), diễn đàn tin tặc. Số lượng dữ liệu cá nhân bị thu thập, mua bán trái phép phát hiện được lên tới gần 1.300GB, trong đó có nhiều dữ liệu cá nhân nội bộ, nhạy cảm như: Thông tin về các cá nhân, tổ chức đã sử dụng dịch vụ điện lực của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN); thông tin phụ huynh, học sinh tại các trường trên cả nước; thông tin khách hàng của các ngân hàng BIDV, Techcombank, VPBank, AgriBank...; thông tin đăng ký kinh doanh, nhân sự cơ quan nhà nước, bảo hiểm, hộ khẩu; dữ liệu viễn thông, thuê bao điện thoại của các nhà mạng Viettel, Mobiphone, Vinaphone; thông tin khách hàng tại các dự án bất động sản trên toàn quốc; khách hàng điện máy tại 63 tỉnh, thành phố[4]…

Pháp luật Việt Nam về bảo vệ dữ liệu cá nhân mặc dù đã có quy định về biện pháp chế tài xử phạt đối với hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ thông tin cá nhân nhưng chưa có quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân. Cụ thể như sau:

(i) Chế tài hình sự: Chưa có chế tài hình sự đối với những hành vi vi phạm về bảo vệ dữ liệu cá nhân; còn hành vi vi phạm các quy định về bảo vệ thông tin cá nhân có thể bị xử phạt hình sự với án tù giam cao nhất là 07 năm theo Điều 159 và Điều 288[5] Bộ Luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

(ii) Chế tài dân sự: Chưa có chế tài dân sự đối với những hành vi vi phạm về bảo vệ dữ liệu cá nhân, còn hành vi vi phạm các quy định về bảo vệ thông tin cá nhân được quy định trong Bộ luật Dân sự[6] nhưng chưa cụ thể, rõ ràng.

(iii) Chế tài hành chính: Chưa có chế tài hành chínḥ đối với những hành vi vi phạm về bảo vệ dữ liệu cá nhân, còn hành vi vi phạm các quy định về bảo vệ thông tin cá nhân đã có nhưng nằm rải rác ở nhiều văn bản khác nhau như: Nghị định số 119/2020/NĐ-CP ngày 07/10/2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động báo chí, hoạt động xuất bản; Nghị định số 38/2021/NĐ-CP ngày 29/3/2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa và quảng cáo; Nghị định số 117/2020/NĐ-CP ngày 28/9/2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế; Nghị định số 15/2020/NĐ-CP ngày 03/02/2020 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử (các điều 83, 84, 85, 100, 101, 102…); Nghị định số 98/2020/NĐ-CP ngày 26/8/2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (khoản 5 Điều 63, khoản 3 Điều 64, Điều 65 và khoản 4 Điều 66).

Mặc dù đã có nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau quy định các nội hàm có liên quan tới dữ liệu cá nhân nhưng chưa có văn bản Luật nào quy định trực tiếp về bảo vệ dữ liệu cá nhân. Bên cạnh đó, chế tài xử lý các hành vi vi phạm liên quan tới dữ liệu cá nhân còn yếu về hiệu lực, chưa đủ sức răn đe, xử lý thích đáng đối với hành vi vi phạm. Cùng với thực trạng mua bán, sử dụng dữ liệu cá nhân tràn lan như hiện nay thì hoàn thiện quy định pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân là yêu cầu cấp thiết.

3. Giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam về bảo vệ dữ liệu cá nhân trong giai đoạn mới đáp ứng yêu cầu của Nghị quyết số 27-NQ/TW

Thứ nhất, trên cơ sở nghiên cứu kỹ các nội dung của Nghị quyết số 27-NQ/TW và các văn kiện có liên quan của Đảng[7], chỉ đạo của Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ[8], Bộ Công an, các bộ, ngành có liên quan cần khẩn trương xây dựng dự thảo Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân.

Thứ hai, bám sát các Văn kiện Đại hội Đảng, các Nghị quyết, Kết luận, Chỉ thị của Ban Chấp hành trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, thể chế hóa kịp thời, đầy đủ chủ trương, đường lối của Đảng trong công tác xây dựng pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân, từ khâu sơ kết, tổng kết, đề xuất chính sách, đánh giá tác động, lập chương trình xây dựng dự thảo Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân, đến khâu tổ chức việc soạn thảo, thẩm định, thẩm tra, trình cơ quan có thẩm quyền xem xét, ban hành.

Thứ ba, nội dung dự thảo Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân cần quy định rõ các căn cứ pháp lý để phòng ngừa, đấu tranh với các hành vi vi phạm như: Buôn bán dữ liệu cá nhân; thu thập, xử lý, phân tích trái phép dữ liệu cá nhân; công khai, đăng tải dữ liệu cá nhân trái phép; sử dụng dữ liệu cá nhân vào mục đích phạm tội. Xây dựng một số khái niệm về dữ liệu cá nhân, bảo vệ dữ liệu cá nhân, quyền và nghĩa vụ của chủ thể dữ liệu, phân loại dữ liệu cá nhân, xử lý dữ liệu cá nhân, sự đồng ý của chủ thể dữ liệu, chuyển dữ liệu cá nhân ra nước ngoài, các nguyên tắc bảo vệ dữ liệu cá nhân; xử lý dữ liệu cá nhân trong trường hợp không cần sự đồng ý của chủ thể dữ liệu./.

TS. Võ Trung Hậu

Khoa Luật, Trường Đại học Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh

[1]. Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật từ nay đến năm 2010, định hướng đến năm 2020.

[2]. Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.

[3].https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/nghi-dinh-so-13-2023-nd-cp-bao-ve-quyen-du-lieu-ca-nhan-ngan-chan-cac-hanh-vi-xam-pham-du-lieu-ca-nhan-119230513100359528.htm, truy cập ngày 10/7/2024.

[4]. Dự thảo Báo cáo đáng giá thực trạng quan hệ xã hội liên quan bảo vệ dữ liệu cá nhấn, đăng tải trên trang web https://bocongan.gov.vn/pbgdpl/van-ban-moi/du-thao-ho-so-de-nghi-xay-dung-luat-bao-ve-du-lieu-ca-nhan-t1282.html, truy cập ngày 10/7/2024.

[5]. Điều 159 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định việc “xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín hoặc hình thức trao đổi thông tin riêng tư của người khác” có thể bị phạt từ tới 03 năm; Điều 288 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định về “Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin trên mạng máy tính, mạng viễn thông” với mức hình phạt cao nhất là 07 năm tù giam.

[6]. Khoản 1 Điều 9 Bộ luật Dân sự năm 2015 khẳng định: “Tất cả các quyền dân sự của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ”. Tại khoản 2 điều này đã ghi nhận 05 hình thức chế tài dân sự. Khi quyền dân sự của một chủ thề bị xâm phạm thì chủ thể đó có quyền tự bảo vệ theo quy định của Bộ luật này hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền: Công nhận quyền dân sự của mình; buộc chấm dứt hành vi vi phạm; buộc xin lỗi, cải chính công khai; buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự; buộc bồi thường thiệt hại.

[7]. Kết luận số 19-KL/TW ngày 14/10/2021 của Bộ Chính trị về định hướng Chương trình xây dựng pháp luật nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV.

[8]. Chỉ thị số 43/CT-TTg ngày 11/12/2020 của Thủ tướng Chính phủ về nâng cao chất lượng công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tăng cường hiệu quả thi hành pháp luật.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 408), tháng 7/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tóm tắt: Chương VII dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) quy định về tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo gần như giữ nguyên nội dung Chương VII Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016. Tuy nhiên, phân tích từ góc độ liên thông giữa Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 với Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Đất đai năm 2024, cho thấy có một số bất cập, nếu được hoàn thiện trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) sẽ giúp hệ thống pháp luật liên quan đến chế định này được hoàn thiện, đồng bộ hơn.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.

Theo dõi chúng tôi trên: