Thứ sáu 23/01/2026 12:35
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Ai là chủ sở hữu quyền tác giả đối với học liệu?

Tóm tắt: Bài viết phân tích quy định của Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam về quyền tác giả, sở hữu quyền tác giả đối với học liệu, chuyển nhượng quyền tác giả đối với học liệu; đồng thời nêu lên thực trạng chuyển giao, sở hữu quyền tác giả đối với học liệu giữa giảng viên với nhà trường ở một số trường đại học và đưa ra kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.


Abstract: The paper analyzes provisions of the Law on intellectual property of Vietnam on copyright, copyright ownership of school materials, transfer of copyright of school materials and at the same time it raises the real situation of transfer of copyright ownership of school materials between teacher and school in some universities and proposes some recommendations for completing this issue.

Việc xác định tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả đối với học liệu tại trường đại học là cần thiết nhằm giúp mọi người, nhà trường, giảng viên, sinh viên nhận biết được ai là chủ thể quyền đối với các loại tài liệu học tập, tránh tình trạng phát sinh những tranh chấp không đáng có giữa nhà trường và giảng viên, hạn chế việc xâm phạm quyền tác giả, quyền sở hữu đối với học liệu và tích cực bảo vệ tác quyền của tác giả và quyền của chủ sở hữu, kích thích hoạt động sáng tạo, tạo ra nhiều sản phẩm có chất lượng để phục vụ sinh viên, mọi người.

Chủ thể sáng tạo ra học liệu chính là tác giả của học liệu đó nhưng không phải bất kỳ lúc nào tác giả cũng đồng thời là chủ sở hữu đối với tác phẩm của mình. Nếu trong trường hợp giảng viên là chủ thể được trường đại học thuê để biên soạn ra học liệu thì giảng viên là tác giả của học liệu nhưng không đồng thời là chủ sở hữu, mà chính trường đại học là chủ sở hữu đối với học liệu. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp khác nhau, không phải lúc nào tất cả các học liệu do giảng viên viết ra nhà trường đều làm chủ sở hữu đối với chúng.

1. Quyền tác giả, sở hữu quyền tác giả đối với học liệu, chuyển nhượng quyền tác giả đối với học liệu

Quyền tác giả là quyền của giảng viên đối với học liệu do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu. Vậy học liệu được hiểu như thế nào? Theo quy định trong Luật Sở hữu trí tuệ, thì học liệu là một dạng cụ thể của tác phẩm văn học, khoa học được Nhà nước bảo hộ thể hiện dưới hình thức như giáo trình hoặc bài giảng thể hiện bằng hình thức viết, bài phát biểu, bài giảng, bài nói khác nhau, dưới dạng ngôn ngữ nói và được định hình dưới dạng vật chất nhất định.

Các trường đại học thường có các loại học liệu như giáo trình, tài liệu học tập, tài liệu lưu hành nội bộ, tài liệu hướng dẫn học, tài liệu ôn tập, bài giảng, bài giảng phát thanh, bài giảng trực tuyến, bài giảng LMS, sách tham khảo, bài giảng đa phương tiện… Bên cạnh đó, những bài giảng trực tuyến được ghi âm lẫn ghi hình của giảng viên cũng là học liệu thể hiện dưới hình thức ghi hình.

Căn cứ vào quy định trong Luật Sở hữu trí tuệ, thì những học liệu này do giảng viên biên soạn ra thì giảng viên là tác giả đối với học liệu hoặc giảng viên là tác giả cũng đồng thời là chủ sở hữu đối với học liệu. Tuy nhiên, không phải lúc nào giảng viên cũng là tác giả và đồng thời là chủ sở hữu đối với các loại học liệu này mà trường đại học lại là chủ sở hữu đối với chúng vì học liệu này được hình thành là do nhà trường thuê, giao nhiệm vụ cho giảng viên biên soạn thì nhà trường sẽ là chủ sở hữu quyền tác giả đối với học liệu. Hoặc nhà trường được giảng viên chuyển giao quyền tác giả cũng là chủ sở hữu quyền tác giả. Ngoài ra, trường đại học có phải là tác giả của học liệu mà do giảng viên biên soạn ra hay không và nếu trường đại học là tác giả của học liệu thì trường đại học mà cụ thể là ban giám hiệu sẽ được quyền chỉ đạo đặt tên, sửa tên, sửa đổi, bổ sung những nội dung vào trong học liệu. Bên cạnh đó, hội đồng mà do ban giám hiệu chỉ định để xem xét sửa đổi, bổ sung học liệu nếu không có giảng viên biên soạn tham gia ban đầu trong hội đồng này thì hội đồng mới (hội đồng sửa đổi, bổ sung học liệu) có được tự ý sửa đổi những nội dung trong học liệu hay không.

Để trả lời cho vấn đề này, chúng ta cần tìm hiểu quy định của pháp luật về tác giả theo đó, tác giả là người nắm giữ các quyền nhân thân bao gồm: Quyền đặt tên cho tác phẩm; đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng; công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm; bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả. Bên cạnh đó, tác giả đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả, thì họ còn được sử dụng các quyền tài sản theo quy định pháp luật. Tác giả có thể chuyển giao quyền công bố tác phẩm cho cá nhân khác theo quy định pháp luật. Như vậy, trường đại học không thể là tác giả của học liệu mà giảng viên, người biên soạn ra học liệu mới chính là tác giả của tác phẩm.

Căn cứ vào quy định trên, trường đại học không thể là tác giả của học liệu mà chỉ có thể là chủ sở hữu của học liệu trong trường hợp trường giao việc hoặc được chuyển giao quyền sở hữu đối với học liệu. Luật Sở hữu trí tuệ phân biệt các dạng chủ sở hữu bao gồm: Chủ sở hữu quyền tác giả là tác giả; chủ sở hữu quyền tác giả là các đồng tác giả; chủ sở hữu quyền tác giả là tổ chức, cá nhân giao nhiệm vụ cho tác giả hoặc giao kết hợp đồng với tác giả; chủ sở hữu quyền tác giả là người thừa kế; chủ sở hữu quyền tác giả là người nhận chuyển nhượng quyền tác giả. Như vậy, trường đại học có thể là chủ sở hữu của học liệu trong trường hợp trường đại học giao nhiệm vụ cho giảng viên biên soạn học liệu hoặc giao kết hợp đồng với giảng viên hoặc nhận chuyển nhượng quyền tác giả đối với học liệu từ giảng viên. Như vậy, nếu trường đại học là chủ sở hữu quyền tác giả đối với học liệu thì nắm giữ một, một số hoặc toàn bộ các quyền tài sản sau: Làm học liệu phái sinh; sao chép học liệu; phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao học liệu; truyền đạt học liệu đến mọi người bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác. Ngoài ra, nhà trường là chủ sở hữu quyền tác giả cũng có quyền công bố học liệu hoặc cho phép người khác công bố học liệu nếu được giảng viên chuyển giao quyền. Trong khi đó, giảng viên là tác giả của học liệu, giảng viên sẽ được sử dụng các quyền nhân thân đối với học liệu mà không được là chủ sở hữu đối với học liệu vì giảng viên đã chuyển giao quyền sở hữu tài sản cho nhà trường.

2. Thực trạng chuyển giao, sở hữu quyền tác giả đối với học liệu giữa giảng viên và nhà trường ở một số trường đại học

Thực tế về quyền tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả đối với học liệu tại các trường đại học hiện nay cho thấy hầu hết các trường là chủ sở hữu đối với học liệu nếu học liệu này do giảng viên biên soạn và giảng viên được nhà trường giao việc đối với giảng viên cơ hữu tại trường, còn đối với giảng viên không cơ hữu thì sẽ được nhà trường giao kết hợp đồng với giảng viên để biên soạn học liệu.

- Nếu các học liệu được ghi tên trường đại học trên học liệu thì học liệu này do trường làm chủ sở hữu nhưng nhóm giảng viên biên soạn vẫn là tác giả của học liệu.

- Nhà trường quy định vào trong quy chế giảng rằng những học liệu do giảng viên biên soạn trong thời gian làm việc cho nhà trường thông qua hợp đồng làm việc có thời hạn hoặc không xác định thời hạn, làm việc theo biên chế của nhà trường thì những học liệu biên soạn trong thời gian này thuộc quyền sở hữu của nhà trường.

- Tùy theo học liệu, như bài giảng trực tuyến thì mỗi môn học nhà trường sẽ ký hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng của học liệu này giữa nhà trường và giảng viên.

- Những giáo trình, sách tham khảo được giảng viên biên soạn không ghi tên của nhà trường thì nhà trường sẽ ký hợp đồng thỏa thuận chuyển giao quyền sở hữu cho nhà trường và trả tiền mua quyền sở hữu cho giảng viên một lần.

Ở hai trường hợp này, thông thường nhà trường sẽ trả tiền một lần sau khi nghiệm thu xong học liệu nhưng trong quá trình có tái bản thì giảng viên sẽ được một khoản tiền trên số lượng tái bản đó.

- Những sách tham khảo được viết trong thời gian làm việc tại nhà trường nhưng không ghi tên nhà trường trên học liệu, nhà trường cũng không yêu cầu chuyển giao thì những tác phẩm này nhà trường không sở hữu mà giảng viên vừa là tác giả vừa là chủ sở hữu đối với học liệu.

Khi chuyển giao sở hữu quyền tác giả đối với học liệu giữa giảng viên và nhà trường thông qua hợp đồng chuyển giao thì thông thường sẽ thực hiện bằng hai hình thức sau đây: (i) Nhà trường có quyền sở hữu học liệu thì nhà trường có quyền làm học liệu phái sinh; sao chép học liệu; phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao học liệu; truyền đạt học liệu đến mọi người bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác. Ngoài ra, nhà trường là chủ sở hữu quyền tác giả cũng có quyền công bố học liệu hoặc cho phép người khác công bố học liệu nếu được giảng viên chuyển giao quyền. (ii) Nhà trường có quyền sử dụng có thời hạn một, một số hoặc toàn bộ quyền đối với học liệu như hình thức (i). Theo đó, giữa hai hình thức chuyển giao thông qua hợp đồng chuyển giao giữa giảng viên và nhà trường là khác nhau nhưng về nội dung là giống nhau vì dù đó là chuyển giao quyền sở hữu quyền tác giả hay chuyển giao quyền sử dụng thì nhà trường cũng không có quyền định đoạt đối với học liệu. Chúng ta dựa vào quy định của Luật Sở hữu trí tuệ và Bộ luật Dân sự để áp dụng vào thực tiễn thì trong trường hợp này có hai cách hiểu khác nhau: Nếu như chuyển giao quyền sở hữu theo như quy định của Bộ luật Dân sự thì nhà trường phải có quyền định đoạt học liệu nghĩa là được quyền chỉnh sửa nội dung của học liệu, còn chuyển giao quyền sử dụng thì không được, nhưng theo Luật Sở hữu trí tuệ thì cả hai hình thức chuyển giao nhà trường đều không được quyền chỉnh sửa nội dung đối với học liệu. Ở đây, nhà trường và giảng viên cho rằng nếu hai thuật ngữ này là khác nhau nhưng có nghĩa giống nhau thì nên dùng một thuật ngữ, còn nếu để hai thuật ngữ khác nhau thì phải có nghĩa khác nhau để tránh sự nhầm lẫn. Ngoài ra, nếu nhà trường và giảng viên ký hợp đồng chuyển giao nhưng sau đó giảng viên không cộng tác với trường nữa thì trường thông qua hội đồng khoa học có được phép chỉnh sửa nội dung trong học liệu của giảng viên là tác giả của học liệu đó hay không. Tiếp theo, đối với hình thức giao việc cho giảng viên cơ hữu thì khi giảng viên thôi việc tại trường, nhà trường có được phép tự ý chỉnh sửa nội dung của học liệu này không. Theo quy định về quyền nhân thân thì nhà trường không được phép chỉnh sửa nội dung học liệu. Vậy, nếu hai bên thỏa thuận về quyền được chỉnh sửa nội dung học liệu nghĩa là chuyển giao một số quyền nhân thân của tác giả có được hay không. Đây là điểm vướng mắc mà giảng viên và nhà trường quan tâm, theo quan điểm của tác giả, Luật Sở hữu trí tuệ cần phải quy định các bên được quyền thỏa thuận chuyển giao một số quyền nhân thân trong những trường hợp cần thiết. Vì đây là quyền dân sự cho nên nếu các bên có thỏa thuận thì tôn trọng sự thỏa thuận này.

3. Kết luận

Việc chuyển giao quyền sở hữu quyền tác giả, quyền sử dụng quyền tác giả cần quy định thống nhất thành một thuật ngữ trong Luật Sở hữu trí tuệ theo cách hiểu là các bên được chuyển giao quyền sử dụng đối với tác phẩm (học liệu). Ngoài ra nên quy định trong Luật Sở hữu trí tuệ là nếu các bên có quyền thỏa thuận chuyển giao một số quyền nhân thân của tác giả thì vẫn cho phép chuyển nhượng. Với quy định bổ sung này sẽ tránh trường hợp giảng viên thôi việc, không làm việc theo hợp đồng làm việc thì nhà trường có thể chỉnh sửa học liệu linh động theo quy định chi tiết trong hợp đồng thỏa thuận chuyển giao quyền sử dụng đối với học liệu mà không vi phạm quyền tác giả của giảng viên.

TS. Lê Thị Tuyết Hà

Đại học Mở TP. Hồ Chí Minh



Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.

Theo dõi chúng tôi trên: