Thứ sáu 20/03/2026 07:55
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Ai là chủ sở hữu quyền tác giả đối với học liệu?

Tóm tắt: Bài viết phân tích quy định của Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam về quyền tác giả, sở hữu quyền tác giả đối với học liệu, chuyển nhượng quyền tác giả đối với học liệu; đồng thời nêu lên thực trạng chuyển giao, sở hữu quyền tác giả đối với học liệu giữa giảng viên với nhà trường ở một số trường đại học và đưa ra kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.


Abstract: The paper analyzes provisions of the Law on intellectual property of Vietnam on copyright, copyright ownership of school materials, transfer of copyright of school materials and at the same time it raises the real situation of transfer of copyright ownership of school materials between teacher and school in some universities and proposes some recommendations for completing this issue.

Việc xác định tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả đối với học liệu tại trường đại học là cần thiết nhằm giúp mọi người, nhà trường, giảng viên, sinh viên nhận biết được ai là chủ thể quyền đối với các loại tài liệu học tập, tránh tình trạng phát sinh những tranh chấp không đáng có giữa nhà trường và giảng viên, hạn chế việc xâm phạm quyền tác giả, quyền sở hữu đối với học liệu và tích cực bảo vệ tác quyền của tác giả và quyền của chủ sở hữu, kích thích hoạt động sáng tạo, tạo ra nhiều sản phẩm có chất lượng để phục vụ sinh viên, mọi người.

Chủ thể sáng tạo ra học liệu chính là tác giả của học liệu đó nhưng không phải bất kỳ lúc nào tác giả cũng đồng thời là chủ sở hữu đối với tác phẩm của mình. Nếu trong trường hợp giảng viên là chủ thể được trường đại học thuê để biên soạn ra học liệu thì giảng viên là tác giả của học liệu nhưng không đồng thời là chủ sở hữu, mà chính trường đại học là chủ sở hữu đối với học liệu. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp khác nhau, không phải lúc nào tất cả các học liệu do giảng viên viết ra nhà trường đều làm chủ sở hữu đối với chúng.

1. Quyền tác giả, sở hữu quyền tác giả đối với học liệu, chuyển nhượng quyền tác giả đối với học liệu

Quyền tác giả là quyền của giảng viên đối với học liệu do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu. Vậy học liệu được hiểu như thế nào? Theo quy định trong Luật Sở hữu trí tuệ, thì học liệu là một dạng cụ thể của tác phẩm văn học, khoa học được Nhà nước bảo hộ thể hiện dưới hình thức như giáo trình hoặc bài giảng thể hiện bằng hình thức viết, bài phát biểu, bài giảng, bài nói khác nhau, dưới dạng ngôn ngữ nói và được định hình dưới dạng vật chất nhất định.

Các trường đại học thường có các loại học liệu như giáo trình, tài liệu học tập, tài liệu lưu hành nội bộ, tài liệu hướng dẫn học, tài liệu ôn tập, bài giảng, bài giảng phát thanh, bài giảng trực tuyến, bài giảng LMS, sách tham khảo, bài giảng đa phương tiện… Bên cạnh đó, những bài giảng trực tuyến được ghi âm lẫn ghi hình của giảng viên cũng là học liệu thể hiện dưới hình thức ghi hình.

Căn cứ vào quy định trong Luật Sở hữu trí tuệ, thì những học liệu này do giảng viên biên soạn ra thì giảng viên là tác giả đối với học liệu hoặc giảng viên là tác giả cũng đồng thời là chủ sở hữu đối với học liệu. Tuy nhiên, không phải lúc nào giảng viên cũng là tác giả và đồng thời là chủ sở hữu đối với các loại học liệu này mà trường đại học lại là chủ sở hữu đối với chúng vì học liệu này được hình thành là do nhà trường thuê, giao nhiệm vụ cho giảng viên biên soạn thì nhà trường sẽ là chủ sở hữu quyền tác giả đối với học liệu. Hoặc nhà trường được giảng viên chuyển giao quyền tác giả cũng là chủ sở hữu quyền tác giả. Ngoài ra, trường đại học có phải là tác giả của học liệu mà do giảng viên biên soạn ra hay không và nếu trường đại học là tác giả của học liệu thì trường đại học mà cụ thể là ban giám hiệu sẽ được quyền chỉ đạo đặt tên, sửa tên, sửa đổi, bổ sung những nội dung vào trong học liệu. Bên cạnh đó, hội đồng mà do ban giám hiệu chỉ định để xem xét sửa đổi, bổ sung học liệu nếu không có giảng viên biên soạn tham gia ban đầu trong hội đồng này thì hội đồng mới (hội đồng sửa đổi, bổ sung học liệu) có được tự ý sửa đổi những nội dung trong học liệu hay không.

Để trả lời cho vấn đề này, chúng ta cần tìm hiểu quy định của pháp luật về tác giả theo đó, tác giả là người nắm giữ các quyền nhân thân bao gồm: Quyền đặt tên cho tác phẩm; đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng; công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm; bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả. Bên cạnh đó, tác giả đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả, thì họ còn được sử dụng các quyền tài sản theo quy định pháp luật. Tác giả có thể chuyển giao quyền công bố tác phẩm cho cá nhân khác theo quy định pháp luật. Như vậy, trường đại học không thể là tác giả của học liệu mà giảng viên, người biên soạn ra học liệu mới chính là tác giả của tác phẩm.

Căn cứ vào quy định trên, trường đại học không thể là tác giả của học liệu mà chỉ có thể là chủ sở hữu của học liệu trong trường hợp trường giao việc hoặc được chuyển giao quyền sở hữu đối với học liệu. Luật Sở hữu trí tuệ phân biệt các dạng chủ sở hữu bao gồm: Chủ sở hữu quyền tác giả là tác giả; chủ sở hữu quyền tác giả là các đồng tác giả; chủ sở hữu quyền tác giả là tổ chức, cá nhân giao nhiệm vụ cho tác giả hoặc giao kết hợp đồng với tác giả; chủ sở hữu quyền tác giả là người thừa kế; chủ sở hữu quyền tác giả là người nhận chuyển nhượng quyền tác giả. Như vậy, trường đại học có thể là chủ sở hữu của học liệu trong trường hợp trường đại học giao nhiệm vụ cho giảng viên biên soạn học liệu hoặc giao kết hợp đồng với giảng viên hoặc nhận chuyển nhượng quyền tác giả đối với học liệu từ giảng viên. Như vậy, nếu trường đại học là chủ sở hữu quyền tác giả đối với học liệu thì nắm giữ một, một số hoặc toàn bộ các quyền tài sản sau: Làm học liệu phái sinh; sao chép học liệu; phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao học liệu; truyền đạt học liệu đến mọi người bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác. Ngoài ra, nhà trường là chủ sở hữu quyền tác giả cũng có quyền công bố học liệu hoặc cho phép người khác công bố học liệu nếu được giảng viên chuyển giao quyền. Trong khi đó, giảng viên là tác giả của học liệu, giảng viên sẽ được sử dụng các quyền nhân thân đối với học liệu mà không được là chủ sở hữu đối với học liệu vì giảng viên đã chuyển giao quyền sở hữu tài sản cho nhà trường.

2. Thực trạng chuyển giao, sở hữu quyền tác giả đối với học liệu giữa giảng viên và nhà trường ở một số trường đại học

Thực tế về quyền tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả đối với học liệu tại các trường đại học hiện nay cho thấy hầu hết các trường là chủ sở hữu đối với học liệu nếu học liệu này do giảng viên biên soạn và giảng viên được nhà trường giao việc đối với giảng viên cơ hữu tại trường, còn đối với giảng viên không cơ hữu thì sẽ được nhà trường giao kết hợp đồng với giảng viên để biên soạn học liệu.

- Nếu các học liệu được ghi tên trường đại học trên học liệu thì học liệu này do trường làm chủ sở hữu nhưng nhóm giảng viên biên soạn vẫn là tác giả của học liệu.

- Nhà trường quy định vào trong quy chế giảng rằng những học liệu do giảng viên biên soạn trong thời gian làm việc cho nhà trường thông qua hợp đồng làm việc có thời hạn hoặc không xác định thời hạn, làm việc theo biên chế của nhà trường thì những học liệu biên soạn trong thời gian này thuộc quyền sở hữu của nhà trường.

- Tùy theo học liệu, như bài giảng trực tuyến thì mỗi môn học nhà trường sẽ ký hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng của học liệu này giữa nhà trường và giảng viên.

- Những giáo trình, sách tham khảo được giảng viên biên soạn không ghi tên của nhà trường thì nhà trường sẽ ký hợp đồng thỏa thuận chuyển giao quyền sở hữu cho nhà trường và trả tiền mua quyền sở hữu cho giảng viên một lần.

Ở hai trường hợp này, thông thường nhà trường sẽ trả tiền một lần sau khi nghiệm thu xong học liệu nhưng trong quá trình có tái bản thì giảng viên sẽ được một khoản tiền trên số lượng tái bản đó.

- Những sách tham khảo được viết trong thời gian làm việc tại nhà trường nhưng không ghi tên nhà trường trên học liệu, nhà trường cũng không yêu cầu chuyển giao thì những tác phẩm này nhà trường không sở hữu mà giảng viên vừa là tác giả vừa là chủ sở hữu đối với học liệu.

Khi chuyển giao sở hữu quyền tác giả đối với học liệu giữa giảng viên và nhà trường thông qua hợp đồng chuyển giao thì thông thường sẽ thực hiện bằng hai hình thức sau đây: (i) Nhà trường có quyền sở hữu học liệu thì nhà trường có quyền làm học liệu phái sinh; sao chép học liệu; phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao học liệu; truyền đạt học liệu đến mọi người bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác. Ngoài ra, nhà trường là chủ sở hữu quyền tác giả cũng có quyền công bố học liệu hoặc cho phép người khác công bố học liệu nếu được giảng viên chuyển giao quyền. (ii) Nhà trường có quyền sử dụng có thời hạn một, một số hoặc toàn bộ quyền đối với học liệu như hình thức (i). Theo đó, giữa hai hình thức chuyển giao thông qua hợp đồng chuyển giao giữa giảng viên và nhà trường là khác nhau nhưng về nội dung là giống nhau vì dù đó là chuyển giao quyền sở hữu quyền tác giả hay chuyển giao quyền sử dụng thì nhà trường cũng không có quyền định đoạt đối với học liệu. Chúng ta dựa vào quy định của Luật Sở hữu trí tuệ và Bộ luật Dân sự để áp dụng vào thực tiễn thì trong trường hợp này có hai cách hiểu khác nhau: Nếu như chuyển giao quyền sở hữu theo như quy định của Bộ luật Dân sự thì nhà trường phải có quyền định đoạt học liệu nghĩa là được quyền chỉnh sửa nội dung của học liệu, còn chuyển giao quyền sử dụng thì không được, nhưng theo Luật Sở hữu trí tuệ thì cả hai hình thức chuyển giao nhà trường đều không được quyền chỉnh sửa nội dung đối với học liệu. Ở đây, nhà trường và giảng viên cho rằng nếu hai thuật ngữ này là khác nhau nhưng có nghĩa giống nhau thì nên dùng một thuật ngữ, còn nếu để hai thuật ngữ khác nhau thì phải có nghĩa khác nhau để tránh sự nhầm lẫn. Ngoài ra, nếu nhà trường và giảng viên ký hợp đồng chuyển giao nhưng sau đó giảng viên không cộng tác với trường nữa thì trường thông qua hội đồng khoa học có được phép chỉnh sửa nội dung trong học liệu của giảng viên là tác giả của học liệu đó hay không. Tiếp theo, đối với hình thức giao việc cho giảng viên cơ hữu thì khi giảng viên thôi việc tại trường, nhà trường có được phép tự ý chỉnh sửa nội dung của học liệu này không. Theo quy định về quyền nhân thân thì nhà trường không được phép chỉnh sửa nội dung học liệu. Vậy, nếu hai bên thỏa thuận về quyền được chỉnh sửa nội dung học liệu nghĩa là chuyển giao một số quyền nhân thân của tác giả có được hay không. Đây là điểm vướng mắc mà giảng viên và nhà trường quan tâm, theo quan điểm của tác giả, Luật Sở hữu trí tuệ cần phải quy định các bên được quyền thỏa thuận chuyển giao một số quyền nhân thân trong những trường hợp cần thiết. Vì đây là quyền dân sự cho nên nếu các bên có thỏa thuận thì tôn trọng sự thỏa thuận này.

3. Kết luận

Việc chuyển giao quyền sở hữu quyền tác giả, quyền sử dụng quyền tác giả cần quy định thống nhất thành một thuật ngữ trong Luật Sở hữu trí tuệ theo cách hiểu là các bên được chuyển giao quyền sử dụng đối với tác phẩm (học liệu). Ngoài ra nên quy định trong Luật Sở hữu trí tuệ là nếu các bên có quyền thỏa thuận chuyển giao một số quyền nhân thân của tác giả thì vẫn cho phép chuyển nhượng. Với quy định bổ sung này sẽ tránh trường hợp giảng viên thôi việc, không làm việc theo hợp đồng làm việc thì nhà trường có thể chỉnh sửa học liệu linh động theo quy định chi tiết trong hợp đồng thỏa thuận chuyển giao quyền sử dụng đối với học liệu mà không vi phạm quyền tác giả của giảng viên.

TS. Lê Thị Tuyết Hà

Đại học Mở TP. Hồ Chí Minh



Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.
Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ tại Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Theo dõi chúng tôi trên: