Thứ ba 10/02/2026 07:50
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bản chất pháp lý của hợp đồng gia nhập theo pháp luật Việt NamBản chất pháp lý của hợp đồng gia nhập theo pháp luật Việt Nam

Hợp đồng gia nhập hiện đang được sử dụng khá phổ biến trong các lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội. Vì vậy, việc hiểu rõ bản chất, đặc điểm của loại hợp đồng này không chỉ có ý nghĩa đối với các bên giao kết, thực hiện hợp đồng, mà còn đối với cả các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền. Bài viết này phân tích, làm rõ đặc điểm pháp lý, một số nguyên tắc trong giao kết, thực hiện và hiệu lực của hợp đồng gia nhập.


1. Sự ghi nhận về hợp đồng gia nhập theo pháp luật Việt Nam

Ở Việt Nam, hợp đồng gia nhập mới chỉ xuất hiện trong mấy thập kỷ gần đây nhưng tần suất được sử dụng ngày một nhiều, đặc biệt là loại hợp đồng được giao kết giữa thương nhân với người tiêu dùng trong các lĩnh vực thiết yếu của đời sống xã hội như: Điện; nước; truyền hình trả tiền; điện thoại cố định; di động trả sau… Chính vì vậy, việc ghi nhận và luật hóa các quy định liên quan đến hợp đồng gia nhập đã được thực hiện nhằm quản lý, định hướng các hoạt động cung ứng hàng hóa, dịch vụ để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên tham gia hợp đồng cũng như duy trì sự ổn định, phát triển của các giao dịch dân sự.

Để cụ thể hóa tinh thần trên, ngay từ Bộ luật Dân sự năm 1995 đến Bộ luật Dân sự năm 2005 và hiện tại là Bộ luật Dân sự năm 2015[1] đều có những quy định về “hợp đồng theo mẫu”. Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 cũng có khá nhiều quy định liên quan đến loại hợp đồng này[2]. Bên cạnh đó, hợp đồng gia nhập và các vấn đề liên quan còn được quy định tại nhiều văn bản dưới luật khác như: Nghị định số 99/2011/NĐ-CP ngày 27/10/2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; Quyết định số 02/2012/QĐ-TTg ngày 13/01/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành danh mục hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phải đăng ký hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung; Thông tư số 10/2013/TT-BCT ngày 30/5/2013 của Bộ Công thương về việc ban hành mẫu đơn đăng ký hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung; Quyết định số 35/2015/QĐ-TTg ngày 20/8/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung Quyết định số 02/2012/QĐ-TTg ngày 13/01/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành danh mục hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phải đăng ký hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung... Đây chính là cơ sở pháp lý điều chỉnh các vấn đề liên quan đến hợp đồng gia nhập hiện nay tại Việt Nam.

2. Đặc điểm pháp lý của hợp đồng gia nhập

Thực tiễn cho thấy, mỗi quốc gia lại có cách tiếp cận và đưa ra khái niệm khác nhau về loại hợp đồng này. Một số quốc gia cho rằng đây là hợp đồng mẫu (standard form contract); một số quốc gia khác lại coi là hợp đồng gia nhập (adhesion contract); trong khi đó, tiếp cận hợp đồng ở tính ứng dụng của “nó” thì có quan niệm cho rằng đây là hợp đồng hàng loạt (boilerplate contract). Tuy nhiên, xét ở góc độ bản chất, “nó” đều mang những đặc điểm pháp lý như nhau và phản ánh cùng một đối tượng. Qua nghiên cứu, có thể thấy rằng, hợp đồng gia nhập bên cạnh đặc điểm chung của hợp đồng thông thường, thì nó còn có một số đặc điểm riêng như sau:

Thứ nhất, tính “gia nhập” và “tính áp dụng hàng loạt” là những đặc điểm nổi bật nhất của loại hợp đồng này. Tính gia nhập của hợp đồng gia nhập thể hiện ở chỗ các điều khoản của hợp đồng do một bên (thương nhân) soạn sẵn và đưa ra đề nghị giao kết với bên kia. Trong trường hợp bên được đề nghị chấp nhận các điều khoản của hợp đồng, hợp đồng sẽ được giao kết và khi đó, bên được đề nghị đã gia nhập hợp đồng, ví dụ: Hợp đồng cung cấp điện sinh hoạt; hợp đồng cung cấp nước sinh hoạt… Bên gia nhập hợp đồng ở đây chính là người mua, sử dụng điện, nước do thương nhân cung cấp. Trường hợp bên được đề nghị không chấp nhận các điều khoản của hợp đồng, lúc này, hợp đồng không được giao kết và đương nhiên bên được đề nghị không gia nhập hợp đồng.

Nếu như trong hợp đồng truyền thống, sự thỏa thuận ý chí của các bên trong quá trình đàm phán, thương lượng về các điều khoản của hợp đồng luôn được tôn trọng và đề cao, thì trong hợp đồng gia nhập, các điều khoản của hợp đồng đã được bên đề nghị soạn sẵn, bên được đề nghị không có quyền đàm phán, thương lượng, mà chỉ có quyền chấp nhận hoặc không chấp nhận việc giao kết hợp đồng. Trong hợp đồng gia nhập, sự tự do thương lượng bị thủ tiêu[3]. Về tính áp dụng hàng loạt, nếu như trong hợp đồng truyền thống, để giao kết hợp đồng, thương nhân phải đàm phán, thương lượng riêng rẽ với từng khách hàng về các điều khoản của hợp đồng và hệ quả của quá trình đàm phán, thương lượng đó sẽ tạo ra các hợp đồng có nội dung khác nhau để áp dụng riêng biệt cho từng khách hàng cụ thể; thì trong hợp đồng gia nhập, thương nhân soạn sẵn các điều khoản trong một mẫu hợp đồng và dùng mẫu hợp đồng đó áp dụng hàng loạt đối với những khách hàng khi họ mua, sử dụng cùng một loại hàng hóa, dịch vụ.

Thứ hai, sự thỏa thuận của các bên trong hợp đồng gia nhập bị hạn chế và sự ưng thuận trong giao kết hợp đồng chỉ là một thời điểm. Theo lý thuyết truyền thống, hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự[4]. Như vậy, khi nghiên cứu về hợp đồng nói chung và hợp đồng gia nhập nói riêng, chúng ta cần quan tâm đến hai yếu tố, đó là tự do ý chí và sự ưng thuận. Khi đề cập đến nguyên tắc tự do ý chí trong hợp đồng theo mẫu được quy định tại khoản 1 Điều 405 Bộ luật Dân sự năm 2015, nhà làm luật nhấn mạnh đến yếu tố các điều khoản của hợp đồng là do một bên đưa ra và bên kia chỉ có quyền ưng thuận - tức chấp nhận toàn bộ các điều khoản hợp đồng đó hoặc không ưng thuận. Cho nên, xuất phát từ tính chất đặc thù của hợp đồng gia nhập dẫn đến sự ưng thuận trong giao kết hợp đồng không diễn ra một cách hoàn chỉnh như trong hợp đồng truyền thống bởi bên được đề nghị chỉ có quyền chấp nhận hoặc không chấp nhận các điều khoản của hợp đồng do bên đề nghị đưa ra mà không có quyền đàm phán, thương lượng về các điều khoản đó. Sự ưng thuận trong giao kết hợp đồng gia nhập chỉ là một thời điểm và diễn ra khi người tiêu dùng chấp nhận hoặc không chấp nhận toàn bộ nội dung của hợp đồng[5].

Thứ ba, thông tin bất cân xứng trong giao kết và thực hiện hợp đồng gia nhập. Trong giao dịch truyền thống, sự chênh lệnh về vị thế của các bên giao kết hợp đồng không rõ ràng và thường là ngang bằng nhau. Do đó, nguyên tắc bình đẳng, công bằng trong giao kết và thực hiện hợp đồng có cơ sở đảm bảo. Tuy nhiên, trong giao dịch giữa một bên là cá nhân người tiêu dùng, một bên là nhà kinh doanh thì sự chênh lệnh này lại càng rõ ràng[6]. Thực tế cho thấy, bên đề nghị là bên có vị thế, tiềm lực tài chính cao hơn, đặc biệt là họ am hiểu về sản phẩm hàng hóa, dịch vụ cũng như các thông tin liên quan đến việc cung ứng hàng hóa, dịch vụ đó cho khách hàng. Ở phía ngược lại, bên được đề nghị thường có vị thế thấp hơn do bị hạn chế bởi khả năng tài chính, chuyên môn, đặc biệt là việc không nắm rõ các thông tin liên quan đến hàng hóa, dịch vụ mà mình dự định mua, sử dụng. Do đó, bên được đề nghị không thể sử dụng các yếu tố đó như một phương tiện hữu hiệu để đàm phán, thương lượng về các điều khoản của hợp đồng. Có thể thấy rõ điều này khi các bên giao kết hợp đồng cung cấp điện, cung cấp nước sinh hoạt. Chính vì vậy, thông tin bất cân xứng đã làm cho vị thế của các bên trong giao kết hợp đồng gia nhập không ngang bằng nhau và đây là một trong những đặc điểm của loại hình hợp đồng này.

Thứ tư, hình thức của hợp đồng gia nhập thông dụng và phù hợp là ở dạng văn bản. Theo lý thuyết truyền thống, hình thức của hợp đồng gồm: Văn bản; lời nói và hành vi cụ thể. Thực tiễn cho thấy, hợp đồng gia nhập thường được sử dụng dưới hình thức văn bản. Văn bản có thể được hiểu là phương tiện ghi nhận và thể hiện các ký tự trên bất kỳ dạng vật chất nào. Văn bản ở đây được hiểu là bất kỳ hình thức nào, bao gồm cả điện tín và telex cũng như các cách thức truyền thông khác dưới dạng văn bản có thể lưu giữ được thông tin và có khả năng được sao chép lại dưới dạng hữu hình[7]. Do hợp đồng gia nhập được sử dụng dưới hình thức văn bản nên các điều khoản của nó được thương nhân soạn thảo tỉ mỉ, chi tiết và đôi khi rất dài dòng để hướng tới mục đích chính là nhằm bao trùm tất cả các nội dung mà thương nhân muốn chuyển tải vào trong hợp đồng. Trong một số trường hợp, thương nhân còn làm phức tạp thêm nội dung của hợp đồng mà mục đích là để khách hàng khi đọc sẽ không thể hiểu hết các điều khoản đó trừ trường hợp là chuyên gia hoặc có đủ thời gian hợp lý để nghiên cứu. Điều này khiến cho người tiêu dùng rất ít khi đọc hợp đồng mặc dù không ít người trong số họ cũng là người am hiểu pháp luật và đã ý thức được việc không đọc, cũng như không hiểu gì về hợp đồng khi giao kết hợp đồng là có tính rủi ro pháp lý rất cao[8].

Thứ năm, nội dung của hợp đồng gia nhập phản ánh sự áp đặt, bảo vệ tối đa lợi ích của thương nhân. Thực tế cho thấy các điều khoản của hợp đồng gia nhập có nội dung rất dài, tỉ mỉ và thường được trình bày bằng ngôn ngữ chuyên môn khó hiểu khiến cho bên được đề nghị dù đọc đi đọc lại nhiều lần nhưng vẫn rất khó khăn để hiểu được hết ý nghĩa của câu, từ, nếu không muốn nói đến mục đích của bên đề nghị. Hơn nữa, tâm lý của bên được đề nghị khi mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ thường chỉ quan tâm đến các yếu tố cơ bản như: Giá cả; số lượng; chất lượng..., mà ít khi quan tâm đến các yếu tố khác liên quan. Chính vì vậy, trong một số trường hợp, sau khi đã được đại diện của thương nhân hứa hẹn, giải thích về các yếu tố nói trên, bên được đề nghị dễ dàng bỏ qua các yếu tố khác liên quan đến lợi ích của họ. Tâm lý của bên được đề nghị như vậy, vô hình trung làm cho nội dung hợp đồng gia nhập ít khi được đọc hoặc có chăng chỉ là các điều khoản chính chứa đựng các yếu tố kể trên. Trong khi đó, thực tiễn cho thấy là nhiều vụ tranh chấp xảy ra giữa các bên trong quan hệ hợp đồng gia nhập lại thường liên quan đến các vấn đề bên ngoài các yếu tố đã đề cập.

Từ phân tích các đặc điểm pháp lý ở trên, có thể đưa ra định nghĩa: “Hợp đồng gia nhập là hợp đồng mà các điều khoản của nó do một bên soạn sẵn dưới một hình thức nhất định nhằm mục đích giao kết với nhiều người mua, sử dụng cùng một loại hàng hóa, dịch vụ của họ. Bên được đề nghị có quyền trả lời trong một thời gian hợp lý; nếu bên được đề nghị trả lời chấp nhận, coi như chấp nhận toàn bộ nội dung hợp đồng mà bên đề nghị đã đưa ra”.

3. Một số nguyên tắc trong giao kết và thực hiện hợp đồng gia nhập

Một là, trong giao kết và thực hiện hợp đồng gia nhập, điều khoản không rõ ràng sẽ được giải thích theo hướng bất lợi cho bên đưa ra hợp đồng. Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Trường hợp hợp đồng theo mẫu có điều khoản không rõ ràng thì bên đưa ra hợp đồng theo mẫu phải chịu bất lợi khi giải thích điều khoản đó”[9]. Nguyên tắc này có ý nghĩa rất quan trọng mà mục đích chính là hạn chế việc thương nhân lợi dụng ưu thế về khả năng về tài chính, chuyên môn và địa vị xã hội vốn có của mình để “cài cắm” các điều khoản bất lợi cho người tiêu dùng. Nguyên tắc này cũng nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong quá trình giao kết, thực hiện hợp đồng gia nhập cũng như đảm bảo việc duy trì quan hệ hợp đồng ổn định và phát triển.

Hai là, khi thực hiện hợp đồng gia nhập, điều khoản miễn trách nhiệm của thương nhân, tăng trách nhiệm hoặc loại bỏ quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng mà có trong hợp đồng thì điều khoản này không có hiệu lực pháp luật. Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Trường hợp hợp đồng theo mẫu có điều khoản miễn trách nhiệm của bên đưa ra hợp đồng theo mẫu, tăng trách nhiệm hoặc loại bỏ quyền lợi chính đáng của bên kia thì điều khoản này không có hiệu lực, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”[10]. Về ý nghĩa, với nguyên tắc này, nhà làm luật muốn ngăn chặn thương nhân lợi dụng ưu thế về khả năng về tài chính, chuyên môn và địa vị xã hội vốn của của mình bằng việc đưa vào hợp đồng các điều khoản có lợi cho mình mà bất lợi cho người tiêu dùng. Mặt khác, nguyên tắc này cũng nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, hài hòa lợi ích của các bên trong quá trình giao kết, thực hiện hợp đồng gia nhập.

Ba là, chủ thể của hợp đồng gia nhập phải chịu trách nhiệm dân sự. Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Cá nhân, pháp nhân phải tự chịu trách nhiệm về việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự”[11]. Đối tượng của hợp đồng gia nhập liên quan đến các loại hàng hóa, dịch vụ thiết yếu của cuộc sống và ảnh hưởng trực tiếp đến người tiêu dùng và xã hội, do đó, việc chấp hành pháp luật của các bên tham gia hợp đồng gia nhập sẽ là nhân tố quan trọng mang lại hiệu quả trong việc thực hiện hợp đồng cũng như chất lượng của giao dịch giữa thương nhân và người tiêu dùng.

Bốn là, hợp đồng gia nhập được thực hiện trên tinh thần hợp tác, tôn trọng lợi ích hợp pháp của nhau. Trong quá trình thực hiện hợp đồng gia nhập, các bên phải hợp tác chặt chẽ với nhau. Sự hợp tác phải dựa trên tinh thần thiện chí, trung thực nhằm thực hiện đúng và đầy đủ các cam kết đã thỏa thuận trong hợp đồng. Nếu trong quá trình thực hiện gặp khó khăn, hai bên cần bàn bạc để cùng nhau khắc phục. Trong trường hợp hợp đồng bị vi phạm và có nguy cơ phá vỡ thì hai bên đều có trách nhiệm thông báo kịp thời cho nhau biết các thiệt hại có thể xảy ra để có phương án xử lý. Bên có nghĩa vụ phải cố gắng hoàn thành tốt nhất nghĩa vụ của mình. Còn bên có quyền cũng cần có sự hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi để bên có nghĩa vụ hoàn thành tốt nghĩa vụ của mình.

4. Hiệu lực của hợp đồng gia nhập

Tương tự như các hợp đồng thông dụng khác, hợp đồng gia nhập có hiệu lực kể từ thời điểm các bên giao kết hợp đồng. Hợp đồng gia nhập sẽ hết hiệu lực trong các trường hợp: Các bên thực hiện đúng và đầy đủ nghĩa vụ được qui định trong hợp đồng; khi sự kiện bất khả kháng xảy ra mà không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng; các trường hợp khác do các bên thỏa thuận trong hợp đồng đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của các bên mà không trái pháp luật. Hợp đồng gia nhập có thể bao gồm các phụ lục. Các phụ lục là bộ phận không thể tách rời của hợp đồng chính. Hợp đồng gia nhập sẽ bị vô hiệu khi thiếu một trong các điều kiện để một hợp đồng có hiệu lực. Trên thực tế, sẽ xuất hiện tình trạng hợp đồng gia nhập đã được giao kết, song chưa có hiệu lực, ví dụ: Bên tham gia giao dịch không có năng lực hành vi hoặc trái với các nguyên tắc đã nêu ở trên; mục đích và nội dung giao dịch vi phạm điều cấm của pháp luật và đạo đức xã hội.

Hợp đồng gia nhập vô hiệu khác với hợp đồng gia nhập mất hiệu lực. Việc mất hiệu lực có thể xảy ra ở bất kỳ thời điểm nào khi xuất hiện các điều kiện làm mất hiệu lực và không mang tính hiệu lực hồi tố. Trong khi đó, hợp đồng gia nhập vô hiệu kéo theo hệ quả là toàn bộ quan hệ hợp đồng được coi như không tồn tại từ thời điểm bắt đầu giao kết.

Tóm lại, kể từ khi ra đời cho đến nay, hợp đồng gia nhập đã và đang được các thương nhân sử dụng rộng rãi và phổ biến trong các hoạt động sản xuất, kinh doanh. Nền kinh tế phát triển dẫn đến hệ quả là hợp đồng gia nhập được sử dụng với tần xuất ngày càng nhiều, đa dạng về lĩnh vực điều chỉnh và phức tạp hơn về nội dung. Chính vì vậy, vấn đề hiểu đúng, đầy đủ bản chất pháp lý của hợp đồng gia nhập có ý nghĩa rất quan trọng không chỉ đối với các bên giao kết hợp đồng mà còn đối với cả các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

ThS. Ngô Văn Hiệp
Văn phòng Luật sư Hiệp và Liên danh
PGS.TS. Doãn Hồng Nhung
Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

[1]. Xem: Điều 405 Bộ luật Dân sự năm 2015, Nxb. Lao động, Hà Nội 2016, tr. 171, tr. 172.

[2]. Xem: Điều 3 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2011, tr. 9.

[3]. Ngô Huy Cương (2009), “Tài liệu giảng dạy cao học: Luật hợp đồng”, Trích trong đề tài đặc biệt cấp Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, tr. 32; tr. 162 - 170.

[4]. Xem: Điều 385 Bộ luật Dân sự năm 2015, Nxb. Lao động, Hà Nội 2016, tr. 164.

[5]. Ngô Văn Hiệp (2016), “Sự thỏa thuận trong giao kết hợp đồng gia nhập”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp - số 13 (317), tr. 28.

[6]. Doãn Hồng Nhung (Chủ biên), Hoàng Anh Dũng (2018), Pháp luật về giao kết và thực hiện hợp đồng theo mẫu trong mua bán căn hộ chung cư tại Việt Nam, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 25.

[7]. Viện thống nhất tư pháp quốc tế Roma - Italia (1999), Những nguyên tắc hợp đồng thương mại quốc tế, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 10.

[8]. Nguyễn Thị Ngọc Anh (2011), Pháp luật về hợp đồng dân sự theo mẫu trên thế giới - những kinh nghiệm đối với Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học, chuyên ngành Luật quốc tế, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 15.

[9]. Xem: Khoản 2 Điều 405 Bộ luật Dân sự năm 2015, Nxb. Lao động, Hà Nội, 2016, tr. 172.

[10]. Xem: Khoản 3 Điều 405 Bộ luật Dân sự năm 2015, Nxb. Lao động, Hà Nội, 2016, tr. 172.

[11]. Xem: Khoản 5 Điều 3 Bộ luật Dân sự năm 2015, Nxb. Lao động, Hà Nội, 2016, tr. 6.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Ngày 10/12/2025, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV thông qua Luật Bảo hiểm tiền gửi số 111/2025/QH15, thay thế Luật Bảo hiểm tiền gửi số 06/2012/QH13 với các quy định nhằm tạo hành lang pháp lý đầy đủ, rõ ràng để tổ chức bảo hiểm tiền gửi nâng cao năng lực tài chính và tham gia hiệu quả vào quá trình cơ cấu lại tổ chức tín dụng, qua đó bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền, bảo đảm duy trì sự ổn định của hệ thống tổ chức tín dụng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội theo định hướng tại Chiến lược phát triển bảo hiểm tiền gửi và Chiến lược ngành ngân hàng. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2026.
Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:

Theo dõi chúng tôi trên: