Thứ bảy 14/03/2026 16:37
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bản chất pháp lý của hợp đồng gia nhập theo pháp luật Việt NamBản chất pháp lý của hợp đồng gia nhập theo pháp luật Việt Nam

Hợp đồng gia nhập hiện đang được sử dụng khá phổ biến trong các lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội. Vì vậy, việc hiểu rõ bản chất, đặc điểm của loại hợp đồng này không chỉ có ý nghĩa đối với các bên giao kết, thực hiện hợp đồng, mà còn đối với cả các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền. Bài viết này phân tích, làm rõ đặc điểm pháp lý, một số nguyên tắc trong giao kết, thực hiện và hiệu lực của hợp đồng gia nhập.


1. Sự ghi nhận về hợp đồng gia nhập theo pháp luật Việt Nam

Ở Việt Nam, hợp đồng gia nhập mới chỉ xuất hiện trong mấy thập kỷ gần đây nhưng tần suất được sử dụng ngày một nhiều, đặc biệt là loại hợp đồng được giao kết giữa thương nhân với người tiêu dùng trong các lĩnh vực thiết yếu của đời sống xã hội như: Điện; nước; truyền hình trả tiền; điện thoại cố định; di động trả sau… Chính vì vậy, việc ghi nhận và luật hóa các quy định liên quan đến hợp đồng gia nhập đã được thực hiện nhằm quản lý, định hướng các hoạt động cung ứng hàng hóa, dịch vụ để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên tham gia hợp đồng cũng như duy trì sự ổn định, phát triển của các giao dịch dân sự.

Để cụ thể hóa tinh thần trên, ngay từ Bộ luật Dân sự năm 1995 đến Bộ luật Dân sự năm 2005 và hiện tại là Bộ luật Dân sự năm 2015[1] đều có những quy định về “hợp đồng theo mẫu”. Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 cũng có khá nhiều quy định liên quan đến loại hợp đồng này[2]. Bên cạnh đó, hợp đồng gia nhập và các vấn đề liên quan còn được quy định tại nhiều văn bản dưới luật khác như: Nghị định số 99/2011/NĐ-CP ngày 27/10/2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; Quyết định số 02/2012/QĐ-TTg ngày 13/01/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành danh mục hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phải đăng ký hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung; Thông tư số 10/2013/TT-BCT ngày 30/5/2013 của Bộ Công thương về việc ban hành mẫu đơn đăng ký hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung; Quyết định số 35/2015/QĐ-TTg ngày 20/8/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung Quyết định số 02/2012/QĐ-TTg ngày 13/01/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành danh mục hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phải đăng ký hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung... Đây chính là cơ sở pháp lý điều chỉnh các vấn đề liên quan đến hợp đồng gia nhập hiện nay tại Việt Nam.

2. Đặc điểm pháp lý của hợp đồng gia nhập

Thực tiễn cho thấy, mỗi quốc gia lại có cách tiếp cận và đưa ra khái niệm khác nhau về loại hợp đồng này. Một số quốc gia cho rằng đây là hợp đồng mẫu (standard form contract); một số quốc gia khác lại coi là hợp đồng gia nhập (adhesion contract); trong khi đó, tiếp cận hợp đồng ở tính ứng dụng của “nó” thì có quan niệm cho rằng đây là hợp đồng hàng loạt (boilerplate contract). Tuy nhiên, xét ở góc độ bản chất, “nó” đều mang những đặc điểm pháp lý như nhau và phản ánh cùng một đối tượng. Qua nghiên cứu, có thể thấy rằng, hợp đồng gia nhập bên cạnh đặc điểm chung của hợp đồng thông thường, thì nó còn có một số đặc điểm riêng như sau:

Thứ nhất, tính “gia nhập” và “tính áp dụng hàng loạt” là những đặc điểm nổi bật nhất của loại hợp đồng này. Tính gia nhập của hợp đồng gia nhập thể hiện ở chỗ các điều khoản của hợp đồng do một bên (thương nhân) soạn sẵn và đưa ra đề nghị giao kết với bên kia. Trong trường hợp bên được đề nghị chấp nhận các điều khoản của hợp đồng, hợp đồng sẽ được giao kết và khi đó, bên được đề nghị đã gia nhập hợp đồng, ví dụ: Hợp đồng cung cấp điện sinh hoạt; hợp đồng cung cấp nước sinh hoạt… Bên gia nhập hợp đồng ở đây chính là người mua, sử dụng điện, nước do thương nhân cung cấp. Trường hợp bên được đề nghị không chấp nhận các điều khoản của hợp đồng, lúc này, hợp đồng không được giao kết và đương nhiên bên được đề nghị không gia nhập hợp đồng.

Nếu như trong hợp đồng truyền thống, sự thỏa thuận ý chí của các bên trong quá trình đàm phán, thương lượng về các điều khoản của hợp đồng luôn được tôn trọng và đề cao, thì trong hợp đồng gia nhập, các điều khoản của hợp đồng đã được bên đề nghị soạn sẵn, bên được đề nghị không có quyền đàm phán, thương lượng, mà chỉ có quyền chấp nhận hoặc không chấp nhận việc giao kết hợp đồng. Trong hợp đồng gia nhập, sự tự do thương lượng bị thủ tiêu[3]. Về tính áp dụng hàng loạt, nếu như trong hợp đồng truyền thống, để giao kết hợp đồng, thương nhân phải đàm phán, thương lượng riêng rẽ với từng khách hàng về các điều khoản của hợp đồng và hệ quả của quá trình đàm phán, thương lượng đó sẽ tạo ra các hợp đồng có nội dung khác nhau để áp dụng riêng biệt cho từng khách hàng cụ thể; thì trong hợp đồng gia nhập, thương nhân soạn sẵn các điều khoản trong một mẫu hợp đồng và dùng mẫu hợp đồng đó áp dụng hàng loạt đối với những khách hàng khi họ mua, sử dụng cùng một loại hàng hóa, dịch vụ.

Thứ hai, sự thỏa thuận của các bên trong hợp đồng gia nhập bị hạn chế và sự ưng thuận trong giao kết hợp đồng chỉ là một thời điểm. Theo lý thuyết truyền thống, hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự[4]. Như vậy, khi nghiên cứu về hợp đồng nói chung và hợp đồng gia nhập nói riêng, chúng ta cần quan tâm đến hai yếu tố, đó là tự do ý chí và sự ưng thuận. Khi đề cập đến nguyên tắc tự do ý chí trong hợp đồng theo mẫu được quy định tại khoản 1 Điều 405 Bộ luật Dân sự năm 2015, nhà làm luật nhấn mạnh đến yếu tố các điều khoản của hợp đồng là do một bên đưa ra và bên kia chỉ có quyền ưng thuận - tức chấp nhận toàn bộ các điều khoản hợp đồng đó hoặc không ưng thuận. Cho nên, xuất phát từ tính chất đặc thù của hợp đồng gia nhập dẫn đến sự ưng thuận trong giao kết hợp đồng không diễn ra một cách hoàn chỉnh như trong hợp đồng truyền thống bởi bên được đề nghị chỉ có quyền chấp nhận hoặc không chấp nhận các điều khoản của hợp đồng do bên đề nghị đưa ra mà không có quyền đàm phán, thương lượng về các điều khoản đó. Sự ưng thuận trong giao kết hợp đồng gia nhập chỉ là một thời điểm và diễn ra khi người tiêu dùng chấp nhận hoặc không chấp nhận toàn bộ nội dung của hợp đồng[5].

Thứ ba, thông tin bất cân xứng trong giao kết và thực hiện hợp đồng gia nhập. Trong giao dịch truyền thống, sự chênh lệnh về vị thế của các bên giao kết hợp đồng không rõ ràng và thường là ngang bằng nhau. Do đó, nguyên tắc bình đẳng, công bằng trong giao kết và thực hiện hợp đồng có cơ sở đảm bảo. Tuy nhiên, trong giao dịch giữa một bên là cá nhân người tiêu dùng, một bên là nhà kinh doanh thì sự chênh lệnh này lại càng rõ ràng[6]. Thực tế cho thấy, bên đề nghị là bên có vị thế, tiềm lực tài chính cao hơn, đặc biệt là họ am hiểu về sản phẩm hàng hóa, dịch vụ cũng như các thông tin liên quan đến việc cung ứng hàng hóa, dịch vụ đó cho khách hàng. Ở phía ngược lại, bên được đề nghị thường có vị thế thấp hơn do bị hạn chế bởi khả năng tài chính, chuyên môn, đặc biệt là việc không nắm rõ các thông tin liên quan đến hàng hóa, dịch vụ mà mình dự định mua, sử dụng. Do đó, bên được đề nghị không thể sử dụng các yếu tố đó như một phương tiện hữu hiệu để đàm phán, thương lượng về các điều khoản của hợp đồng. Có thể thấy rõ điều này khi các bên giao kết hợp đồng cung cấp điện, cung cấp nước sinh hoạt. Chính vì vậy, thông tin bất cân xứng đã làm cho vị thế của các bên trong giao kết hợp đồng gia nhập không ngang bằng nhau và đây là một trong những đặc điểm của loại hình hợp đồng này.

Thứ tư, hình thức của hợp đồng gia nhập thông dụng và phù hợp là ở dạng văn bản. Theo lý thuyết truyền thống, hình thức của hợp đồng gồm: Văn bản; lời nói và hành vi cụ thể. Thực tiễn cho thấy, hợp đồng gia nhập thường được sử dụng dưới hình thức văn bản. Văn bản có thể được hiểu là phương tiện ghi nhận và thể hiện các ký tự trên bất kỳ dạng vật chất nào. Văn bản ở đây được hiểu là bất kỳ hình thức nào, bao gồm cả điện tín và telex cũng như các cách thức truyền thông khác dưới dạng văn bản có thể lưu giữ được thông tin và có khả năng được sao chép lại dưới dạng hữu hình[7]. Do hợp đồng gia nhập được sử dụng dưới hình thức văn bản nên các điều khoản của nó được thương nhân soạn thảo tỉ mỉ, chi tiết và đôi khi rất dài dòng để hướng tới mục đích chính là nhằm bao trùm tất cả các nội dung mà thương nhân muốn chuyển tải vào trong hợp đồng. Trong một số trường hợp, thương nhân còn làm phức tạp thêm nội dung của hợp đồng mà mục đích là để khách hàng khi đọc sẽ không thể hiểu hết các điều khoản đó trừ trường hợp là chuyên gia hoặc có đủ thời gian hợp lý để nghiên cứu. Điều này khiến cho người tiêu dùng rất ít khi đọc hợp đồng mặc dù không ít người trong số họ cũng là người am hiểu pháp luật và đã ý thức được việc không đọc, cũng như không hiểu gì về hợp đồng khi giao kết hợp đồng là có tính rủi ro pháp lý rất cao[8].

Thứ năm, nội dung của hợp đồng gia nhập phản ánh sự áp đặt, bảo vệ tối đa lợi ích của thương nhân. Thực tế cho thấy các điều khoản của hợp đồng gia nhập có nội dung rất dài, tỉ mỉ và thường được trình bày bằng ngôn ngữ chuyên môn khó hiểu khiến cho bên được đề nghị dù đọc đi đọc lại nhiều lần nhưng vẫn rất khó khăn để hiểu được hết ý nghĩa của câu, từ, nếu không muốn nói đến mục đích của bên đề nghị. Hơn nữa, tâm lý của bên được đề nghị khi mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ thường chỉ quan tâm đến các yếu tố cơ bản như: Giá cả; số lượng; chất lượng..., mà ít khi quan tâm đến các yếu tố khác liên quan. Chính vì vậy, trong một số trường hợp, sau khi đã được đại diện của thương nhân hứa hẹn, giải thích về các yếu tố nói trên, bên được đề nghị dễ dàng bỏ qua các yếu tố khác liên quan đến lợi ích của họ. Tâm lý của bên được đề nghị như vậy, vô hình trung làm cho nội dung hợp đồng gia nhập ít khi được đọc hoặc có chăng chỉ là các điều khoản chính chứa đựng các yếu tố kể trên. Trong khi đó, thực tiễn cho thấy là nhiều vụ tranh chấp xảy ra giữa các bên trong quan hệ hợp đồng gia nhập lại thường liên quan đến các vấn đề bên ngoài các yếu tố đã đề cập.

Từ phân tích các đặc điểm pháp lý ở trên, có thể đưa ra định nghĩa: “Hợp đồng gia nhập là hợp đồng mà các điều khoản của nó do một bên soạn sẵn dưới một hình thức nhất định nhằm mục đích giao kết với nhiều người mua, sử dụng cùng một loại hàng hóa, dịch vụ của họ. Bên được đề nghị có quyền trả lời trong một thời gian hợp lý; nếu bên được đề nghị trả lời chấp nhận, coi như chấp nhận toàn bộ nội dung hợp đồng mà bên đề nghị đã đưa ra”.

3. Một số nguyên tắc trong giao kết và thực hiện hợp đồng gia nhập

Một là, trong giao kết và thực hiện hợp đồng gia nhập, điều khoản không rõ ràng sẽ được giải thích theo hướng bất lợi cho bên đưa ra hợp đồng. Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Trường hợp hợp đồng theo mẫu có điều khoản không rõ ràng thì bên đưa ra hợp đồng theo mẫu phải chịu bất lợi khi giải thích điều khoản đó”[9]. Nguyên tắc này có ý nghĩa rất quan trọng mà mục đích chính là hạn chế việc thương nhân lợi dụng ưu thế về khả năng về tài chính, chuyên môn và địa vị xã hội vốn có của mình để “cài cắm” các điều khoản bất lợi cho người tiêu dùng. Nguyên tắc này cũng nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong quá trình giao kết, thực hiện hợp đồng gia nhập cũng như đảm bảo việc duy trì quan hệ hợp đồng ổn định và phát triển.

Hai là, khi thực hiện hợp đồng gia nhập, điều khoản miễn trách nhiệm của thương nhân, tăng trách nhiệm hoặc loại bỏ quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng mà có trong hợp đồng thì điều khoản này không có hiệu lực pháp luật. Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Trường hợp hợp đồng theo mẫu có điều khoản miễn trách nhiệm của bên đưa ra hợp đồng theo mẫu, tăng trách nhiệm hoặc loại bỏ quyền lợi chính đáng của bên kia thì điều khoản này không có hiệu lực, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”[10]. Về ý nghĩa, với nguyên tắc này, nhà làm luật muốn ngăn chặn thương nhân lợi dụng ưu thế về khả năng về tài chính, chuyên môn và địa vị xã hội vốn của của mình bằng việc đưa vào hợp đồng các điều khoản có lợi cho mình mà bất lợi cho người tiêu dùng. Mặt khác, nguyên tắc này cũng nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, hài hòa lợi ích của các bên trong quá trình giao kết, thực hiện hợp đồng gia nhập.

Ba là, chủ thể của hợp đồng gia nhập phải chịu trách nhiệm dân sự. Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Cá nhân, pháp nhân phải tự chịu trách nhiệm về việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự”[11]. Đối tượng của hợp đồng gia nhập liên quan đến các loại hàng hóa, dịch vụ thiết yếu của cuộc sống và ảnh hưởng trực tiếp đến người tiêu dùng và xã hội, do đó, việc chấp hành pháp luật của các bên tham gia hợp đồng gia nhập sẽ là nhân tố quan trọng mang lại hiệu quả trong việc thực hiện hợp đồng cũng như chất lượng của giao dịch giữa thương nhân và người tiêu dùng.

Bốn là, hợp đồng gia nhập được thực hiện trên tinh thần hợp tác, tôn trọng lợi ích hợp pháp của nhau. Trong quá trình thực hiện hợp đồng gia nhập, các bên phải hợp tác chặt chẽ với nhau. Sự hợp tác phải dựa trên tinh thần thiện chí, trung thực nhằm thực hiện đúng và đầy đủ các cam kết đã thỏa thuận trong hợp đồng. Nếu trong quá trình thực hiện gặp khó khăn, hai bên cần bàn bạc để cùng nhau khắc phục. Trong trường hợp hợp đồng bị vi phạm và có nguy cơ phá vỡ thì hai bên đều có trách nhiệm thông báo kịp thời cho nhau biết các thiệt hại có thể xảy ra để có phương án xử lý. Bên có nghĩa vụ phải cố gắng hoàn thành tốt nhất nghĩa vụ của mình. Còn bên có quyền cũng cần có sự hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi để bên có nghĩa vụ hoàn thành tốt nghĩa vụ của mình.

4. Hiệu lực của hợp đồng gia nhập

Tương tự như các hợp đồng thông dụng khác, hợp đồng gia nhập có hiệu lực kể từ thời điểm các bên giao kết hợp đồng. Hợp đồng gia nhập sẽ hết hiệu lực trong các trường hợp: Các bên thực hiện đúng và đầy đủ nghĩa vụ được qui định trong hợp đồng; khi sự kiện bất khả kháng xảy ra mà không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng; các trường hợp khác do các bên thỏa thuận trong hợp đồng đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của các bên mà không trái pháp luật. Hợp đồng gia nhập có thể bao gồm các phụ lục. Các phụ lục là bộ phận không thể tách rời của hợp đồng chính. Hợp đồng gia nhập sẽ bị vô hiệu khi thiếu một trong các điều kiện để một hợp đồng có hiệu lực. Trên thực tế, sẽ xuất hiện tình trạng hợp đồng gia nhập đã được giao kết, song chưa có hiệu lực, ví dụ: Bên tham gia giao dịch không có năng lực hành vi hoặc trái với các nguyên tắc đã nêu ở trên; mục đích và nội dung giao dịch vi phạm điều cấm của pháp luật và đạo đức xã hội.

Hợp đồng gia nhập vô hiệu khác với hợp đồng gia nhập mất hiệu lực. Việc mất hiệu lực có thể xảy ra ở bất kỳ thời điểm nào khi xuất hiện các điều kiện làm mất hiệu lực và không mang tính hiệu lực hồi tố. Trong khi đó, hợp đồng gia nhập vô hiệu kéo theo hệ quả là toàn bộ quan hệ hợp đồng được coi như không tồn tại từ thời điểm bắt đầu giao kết.

Tóm lại, kể từ khi ra đời cho đến nay, hợp đồng gia nhập đã và đang được các thương nhân sử dụng rộng rãi và phổ biến trong các hoạt động sản xuất, kinh doanh. Nền kinh tế phát triển dẫn đến hệ quả là hợp đồng gia nhập được sử dụng với tần xuất ngày càng nhiều, đa dạng về lĩnh vực điều chỉnh và phức tạp hơn về nội dung. Chính vì vậy, vấn đề hiểu đúng, đầy đủ bản chất pháp lý của hợp đồng gia nhập có ý nghĩa rất quan trọng không chỉ đối với các bên giao kết hợp đồng mà còn đối với cả các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

ThS. Ngô Văn Hiệp
Văn phòng Luật sư Hiệp và Liên danh
PGS.TS. Doãn Hồng Nhung
Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

[1]. Xem: Điều 405 Bộ luật Dân sự năm 2015, Nxb. Lao động, Hà Nội 2016, tr. 171, tr. 172.

[2]. Xem: Điều 3 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2011, tr. 9.

[3]. Ngô Huy Cương (2009), “Tài liệu giảng dạy cao học: Luật hợp đồng”, Trích trong đề tài đặc biệt cấp Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, tr. 32; tr. 162 - 170.

[4]. Xem: Điều 385 Bộ luật Dân sự năm 2015, Nxb. Lao động, Hà Nội 2016, tr. 164.

[5]. Ngô Văn Hiệp (2016), “Sự thỏa thuận trong giao kết hợp đồng gia nhập”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp - số 13 (317), tr. 28.

[6]. Doãn Hồng Nhung (Chủ biên), Hoàng Anh Dũng (2018), Pháp luật về giao kết và thực hiện hợp đồng theo mẫu trong mua bán căn hộ chung cư tại Việt Nam, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 25.

[7]. Viện thống nhất tư pháp quốc tế Roma - Italia (1999), Những nguyên tắc hợp đồng thương mại quốc tế, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 10.

[8]. Nguyễn Thị Ngọc Anh (2011), Pháp luật về hợp đồng dân sự theo mẫu trên thế giới - những kinh nghiệm đối với Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học, chuyên ngành Luật quốc tế, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 15.

[9]. Xem: Khoản 2 Điều 405 Bộ luật Dân sự năm 2015, Nxb. Lao động, Hà Nội, 2016, tr. 172.

[10]. Xem: Khoản 3 Điều 405 Bộ luật Dân sự năm 2015, Nxb. Lao động, Hà Nội, 2016, tr. 172.

[11]. Xem: Khoản 5 Điều 3 Bộ luật Dân sự năm 2015, Nxb. Lao động, Hà Nội, 2016, tr. 6.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: