Chủ nhật 16/08/2026 05:34
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về các giải pháp cơ bản nâng cao hiệu quả công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam

Doanh nghiệp nhỏ và vừa đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội ở hầu hết các quốc gia trên thế giới. ở nhiều quốc gia, doanh nghiệp nhỏ và vừa được xác định

Doanh nghiệp nhỏ và vừa đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội ở hầu hết các quốc gia trên thế giới. ở nhiều quốc gia, doanh nghiệp nhỏ và vừa được xác định là “động lực tăng trưởng”, là “xương sống” của nền kinh tế. Các quốc gia đã phát triển như Mỹ, Nhật Bản, Singapore, Liên minh Châu Âu (EU), Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) và các quốc gia đang phát triển trong khu vực như Malaysia, Thái Lan, Trung Quốc, ấn Độ… đều coi trọng doanh nghiệp nhỏ và vừa. Với vai trò đó, công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nói chung trong thời gian tới cần xác định trọng tâm là doanh nghiệp nhỏ và vừa (chiếm 97% tổng số doanh nghiệp Việt Nam). Đây được xem như một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp của quốc gia. Việt Nam đã ban hành Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017 nhằm thúc đẩy khu vực doanh nghiệp này đổi mới sáng tạo và phát triển, đóng góp ngày càng cao vào nền kinh tế. Thực tế các quốc gia khác cũng đã thể chế hóa hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa dưới hình thức đạo luật hoặc luật (Nhật Bản, Mỹ, Nga, Trung Quốc, Hàn Quốc, Thái Lan). Thậm chí ở một số quốc gia, việc bảo vệ, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa được quy định trong Hiến pháp như Hàn Quốc, Đài Loan.

Các quy định về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp được điều chỉnh, sửa đổi theo từng thời kỳ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, tập trung hỗ trợ pháp lý đúng và kịp thời cho các doanh nghiệp, trọng tâm là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Việc hoàn thiện quy định về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp thể hiện rõ trách nhiệm của Chính phủ trong việc đảm bảo các nguồn lực tổ chức thực hiện hỗ trợ doanh nghiệp.

Vì vậy, để giải quyết những hạn chế, bất cập hiện nay và xuất phát từ thông lệ của các quốc gia trên thế giới, khu vực trong hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, chúng ta xác định rõ trọng tâm là hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa thì việc nghiên cứu, hoàn thiện điều khoản về hỗ trợ pháp lý trong Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017 (khoản 3 Điều 14) trong thời gian tới là cần thiết, thống nhất đối tượng hỗ trợ pháp lý là doanh nghiệp nhỏ và vừa cho phù hợp với xu hướng chung của thế giới và thực tiễn của Việt Nam. Ngoài ra, đối tượng hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp khởi nghiệp, doanh nghiệp sáng tạo hay doanh nghiệp lớn cần được tách bạch rõ ràng, có nguồn lực, cách thức, hình thức hỗ trợ pháp lý cụ thể hơn phù hợp với nhu cầu hỗ trợ pháp lý và đối tượng hỗ trợ.

Nghiên cứu hoàn thiện khoản 3 Điều 14 Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017 theo hướng thống nhất đối tượng thụ hưởng công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp; làm rõ hơn quy định hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình trong việc hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Việc hoàn thiện quy định về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ khắc phục các hạn chế, khó khăn của công tác này trong thời gian tới như: Vấn đề quản lý nhà nước, vấn đề về nguồn lực kinh phí, tổ chức bộ máy và nhân sự làm công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp.

1. Nâng cao hiệu quả của các hình thức hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp

Về thông tin pháp lý cho doanh nghiệp, Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017 chỉ có một điều khoản quy định về thông tin, công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp. Văn bản dưới Luật có Nghị định của Chính phủ ban hành về công tác này, tuy nhiên, trên thực tế triển khai trong thời gian qua cho thấy, hiệu lực ở tầm văn bản Nghị định chưa thực sự mạnh mẽ và huy động sự vào cuộc của cả hệ thống chính quyền cho công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, công tác thực thi pháp luật của doanh nghiệp, vì vậy, cần hoàn chỉnh điều khoản về thông tin pháp lý cho doanh nghiệp trong Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017 (khoản 3 Điều 14) và Nghị định số 66/2008/NĐ-CP ngày 28/5/2008 của Chính phủ về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp theo hướng cụ thể, rõ ràng trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc cung cấp thông tin cho doanh nghiệp.

Việc xây dựng và khai thác thông tin hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp (trên cơ sở khoản 3 Điều 14 Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017 và Nghị định số 66/2008/NĐ-CP) cần được quy định theo hướng thiết kế một Trang thông tin hoặc Cổng thông tin chính thức về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp để doanh nghiệp dễ dàng cập nhật và tham khảo các thông tin pháp lý, các vướng mắc pháp lý trên thực tế đã được tháo gỡ, tránh tình trạng manh mún cơ quan nào cũng có chức năng, nhiệm vụ thực hiện công việc này nhưng khi doanh nghiệp muốn tiếp cận và thu thập thì rất khó khăn. Việc hoàn thiện và quảng bá Trang/Cổng thông tin này tới doanh nghiệp cũng cần được thực hiện bài bản và thường xuyên để tạo thói quen cho doanh nghiệp sử dụng.

Việc giải đáp pháp luật cho doanh nghiệp trong công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp (Điều 10 Nghị định số 66/2008/NĐ-CP) cần được xây dựng và thiết kế theo hướng các cơ quan nhà nước phải giải đáp các vướng mắc pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa trong áp dụng pháp luật (tương tự như các cơ quan thuế, hải quan vẫn đang thực hiện). Trên thực tế, các yêu cầu giải đáp pháp luật của doanh nghiệp chủ yếu liên quan đến những trường hợp cụ thể trong quá trình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, cần quan tâm xây dựng mạng lưới tư vấn pháp luật cho doanh nghiệp nhỏ và vừa trong thời gian tới. Nghiên cứu phương án xây dựng mạng lưới tư vấn pháp luật cho doanh nghiệp nhỏ và vừa theo hướng bổ sung việc Nhà nước hỗ trợ kinh phí cho công tác tư vấn pháp luật, tháo gỡ các vướng mắc pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa với các điều kiện, thủ tục cụ thể. Nhà nước bảo trợ cho việc hình thành mạng lưới tư vấn pháp lý chuyên nghiệp cho doanh nghiệp nhỏ và vừa thực hiện pháp luật[1]...

Trong chế định về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp cần quy định rõ: ủy ban nhân dân cấp tỉnh đẩy mạnh đối thoại pháp lý với doanh nghiệp thông qua việc tổ chức đối thoại pháp lý công khai định kỳ ít nhất hai lần/năm với cộng đồng doanh nghiệp, báo chí để kịp thời nắm bắt và tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp ở địa phương, hạn chế áp lực đẩy lên Trung ương xử lý. Củng cố, hoàn thiện đường dây nóng, hỏi đáp trực tuyến trên Cổng/Trang thông tin điện tử chính thức hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp để tiếp nhận phản ánh và hướng dẫn, giải đáp pháp lý cho doanh nghiệp.

Việc lấy ý kiến doanh nghiệp về hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến doanh nghiệp cần được tổ chức bài bản theo quy trình nhất định nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả trong công tác đóng góp ý kiến của doanh nghiệp và việc thu thập ý kiến của các cơ quan xây dựng pháp luật. Đề nghị làm rõ chức năng và quy định cho Bộ Tư pháp là cơ quan đầu mối trong việc lấy ý kiến góp ý của các cơ quan, tổ chức đối với các văn bản quy phạm pháp luật về doanh nghiệp.

Nghiên cứu bổ sung hình thức hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa khi tham gia tố tụng tại Tòa án, trọng tài nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp nhỏ và vừa (đây là nhóm đối tượng yếu thế trong kinh doanh cần được bảo vệ). Kinh nghiệm các nước như Singapore, Nhật Bản cho thấy, việc hỗ trợ trực tiếp cho doanh nghiệp nhỏ và vừa là hình thức hiệu quả và đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp nhất.

2. Đảm bảo kinh phí cần thiết cho công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp

Theo quy định, kinh phí hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp được cấp từ ngân sách nhà nước, bộ, cơ quan ngang bộ, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và hỗ trợ tự nguyện của các tổ chức, cá nhân trên cơ sở kế hoạch hoạt động được xây dựng hàng năm. Tuy nhiên, các văn bản hướng dẫn chi tiết định mức chi hiện nay có liên quan đến triển khai các hoạt động này còn nhiều bất cập. Cụ thể như sau:

Để triển khai tập huấn, hội nghị, tọa đàm theo Thông tư số 40/2017/TT-BTC ngày 28/4/2017 của Bộ Tài chính quy định chế độ về công tác phí, chế độ chi hội nghị thì mức chi rất hạn chế, không phù hợp với thực tế[2]. Theo kinh nghiệm từ Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, đơn vị thường xuyên tổ chức các hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giải đáp pháp luật và những vấn đề liên quan tới pháp luật cho doanh nghiệp, trong khi dự án được duyệt theo cơ chế phối hợp ngân sách nhà nước chiếm tỉ lệ 70% và thu đối ứng từ doanh nghiệp 30%, thì thực tế ngân sách chỉ đảm bảo từ 30% đến 50% so với tổng chi phí. Định mức chi được quy định cụ thể tại Thông tư liên tịch số 157/2010/TTLT-BTC-BTP ngày 12/10/2010 của Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp hướng dẫn việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước bảo đảm cho công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp có hướng dẫn một số nội dung chi chưa phù hợp với thực tiễn. Ví dụ: Mỗi văn bản giải đáp pháp luật cho doanh nghiệp được chi trả 400.000 đồng; tư vấn pháp luật cho doanh nghiệp: 20.000đồng/giờ...

Như vậy có thể thấy, định mức chi ngân sách thiếu tương thích với thực tế là một trong những trở ngại lớn nhất trong công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, ngay từ khâu lập kế hoạch ở các bộ, ngành và từng địa phương. Vì vậy, cần nghiên cứu để chỉnh sửa các định mức cho phù hợp với thực tiễn. Ngoài ra, để đảm bảo kinh phí dành cho công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp cần quy định rõ việc giao định mức ngân sách nhà nước cho công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp là khoản chi thường xuyên ngoài định mức để đảm bảo việc các bộ, ngành và địa phương quan tâm, bố trí kinh phí hàng năm dành cho công tác này, bởi nếu không quy định và thực hiện rõ thì hàng năm kinh phí cấp cho các cơ quan thực hiện công tác này vẫn được tính trong định mức thường xuyên nên dẫn đến kinh phí không đảm bảo cho việc thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp.

Ngoài ra, với quan điểm của Nhà nước là chủ yếu hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp thông qua việc tạo cơ chế để khuyến khích khu vực tư nhân, các tổ chức, cá nhân (luật gia, luật sư, tư vấn viên pháp luật) trong và ngoài nước tham gia vào hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, vì vậy, các văn bản quy phạm pháp luật về hỗ trợ pháp lý ban hành đều phải thống nhất nguyên tắc quy định: Nhà nước chỉ đảm bảo một phần nguồn lực để hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp; chú trọng tạo cơ chế thuận lợi và khuyến khích các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đóng góp, tham gia hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp theo các chính sách, chương trình hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước.

3. Nâng cao vai trò, trách nhiệm của các cơ quan nhà nước và các tổ chức đại diện cho doanh nghiệp trong công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp

Để công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp được thực hiện kịp thời, hiệu quả đòi hỏi phải có sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong quá trình triển khai các hình thức hỗ trợ pháp lý. Trên thực tế, việc triển khai các hình thức hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp trong những năm qua còn nhiều hạn chế, thiếu đồng bộ. Thực tế, hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp do các cơ quan nhà nước thực hiện chưa được coi trọng và chưa có hiệu quả. Điều này không những ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của doanh nghiệp mà còn làm gia tăng các vụ việc pháp lý, các tranh chấp trong kinh doanh cũng như các khiếu nại, tố cáo do chưa hiểu đúng các quy định pháp luật, ảnh hưởng đến môi trường đầu tư, kinh doanh của doanh nghiệp. Vì thế, cần quy định trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhất là việc thông tin đúng, kịp thời các thông tin pháp lý cho doanh nghiệp; thực hiện giải đáp pháp luật cho doanh nghiệp và tiếp nhận, xử lý các kiến nghị của doanh nghiệp về hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh doanh cho doanh nghiệp.

Tăng cường trách nhiệm của các cơ quan tư pháp, nhất là Bộ Tư pháp và các Sở Tư pháp trong việc hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp. Phát huy vai trò của pháp chế các bộ, ngành trong việc thông tin pháp luật cho doanh nghiệp (từ các bộ luật, luật, pháp lệnh, nghị định, thông tư, đến các quy định của chính quyền địa phương liên quan đến hoạt động đầu tư, kinh doanh của doanh nghiệp). Tăng cường trách nhiệm của các cơ quan đầu mối triển khai việc giải đáp pháp luật cho doanh nghiệp và tiếp nhận, xử lý các kiến nghị của doanh nghiệp trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh doanh từ Trung ương tới địa phương.

Đối với Bộ Tư pháp Việt Nam trong thời gian tới, cần nghiên cứu bổ sung các nhiệm vụ, quyền hạn liên quan đến quản lý nhà nước về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý trong thời kỳ mới và tăng cường vai trò đầu mối về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp. Với vai trò là cơ quan quản lý nhà nước về công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, Bộ Tư pháp cần tập trung thực hiện các nhiệm vụ sau đây: (i) Nghiên cứu, hoàn thiện các hình thức hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp theo các phương thức mới, hiện đại, hiệu quả, có trọng tâm, trọng điểm; (ii) Tổng hợp, đánh giá, báo cáo tình hình hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp trên phạm vi cả nước; (iii) Tổ chức, kiện toàn đầu mối hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp từ Trung ương tới địa phương (cấp tỉnh); (iv) Đầu tư cơ sở vật chất phục vụ hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp; (v) Xây dựng, vận hành hệ thống thông tin hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp tập trung một đầu mối hiệu quả, đáp ứng được nhu cầu thông tin pháp lý đúng, kịp thời, dễ áp dụng đối với doanh nghiệp; định kỳ công bố thông tin, thống kê về kết quả hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp và hiệu quả của nó.

Nhằm tăng cường vai trò của các tổ chức đại diện cho doanh nghiệp trong công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, ngoài quy định về vai trò bảo vệ quyền lợi pháp lý cho các doanh nghiệp thành viên, phản biện chính sách liên quan, tham gia thực hiện các kế hoạch, chương trình hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, quy định về công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp cần nghiên cứu bổ sung nhiệm vụ về cung cấp dịch vụ pháp lý công, dịch vụ hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp; đồng thời có biện pháp khuyến khích các tổ chức này phát huy vai trò về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp thành viên trong thời gian tới; có thể thí điểm mô hình việc Nhà nước hỗ trợ thông qua các hợp đồng giao việc hàng năm đối với các tổ chức đại diện cho doanh nghiệp để thành lập, duy trì các trung tâm tư vấn pháp luật, hỗ trợ pháp lý cho các doanh nghiệp hội viên của mình như việc tổ chức định kỳ các lớp bồi dưỡng, hội nghị đối thoại lấy ý kiến doanh nghiệp hội viên của các tổ chức đại diện cho doanh nghiệp, thực hiện khảo sát, lấy ý kiến cộng đồng doanh nghiệp về các thông tin, chỉ số để các cơ quan nhà nước phục vụ việc quản lý kinh tế - xã hội.

Trần Thị Thúy Hằng

Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An





[1]. Ví dụ:

- Doanh nghiệp siêu nhỏ được hỗ trợ 1/3 + cá nhân, đơn vị tư vấn pháp luật 1/3 + doanh nghiệp tự bỏ ra 1/3 chi phí giá trị hợp đồng tư vấn pháp luật, nhưng không quá 05 triệu đồng một năm;

- Doanh nghiệp nhỏ được hỗ trợ 1/3 + cá nhân, đơn vị tư vấn pháp luật 1/3 + doanh nghiệp tự bỏ ra 1/3 chi phí giá trị hợp đồng tư vấn pháp luật, nhưng không quá 08 triệu đồng một năm;

- Doanh nghiệp vừa được hỗ trợ 1/3 + cá nhân, đơn vị tư vấn pháp luật 1/3 + doanh nghiệp tự bỏ ra 1/3 chi phí giá trị hợp đồng tư vấn pháp luật, nhưng không quá 12 triệu đồng một năm.

[2]. Duyệt chi ngân sách ở mức từ 500.000 đồng cho diễn giả nhưng thực tế phải chi trả với mức cao hơn, phổ biến là 1.000.000 đồng tới 2.000.000 đồng.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Tóm tắt: Pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập là một bộ phận của pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật, có vai trò quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trên cơ sở làm rõ khái niệm, đặc trưng và các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện, nghiên cứu phân tích thực trạng pháp luật hiện hành, chỉ ra những kết quả đạt được và các hạn chế. Từ đó, nghiên cứu đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số cho người cao tuổi

Hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số cho người cao tuổi

Tóm tắt: Chuyển đổi số đặt ra yêu cầu cấp thiết cần đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật, nhất là đối với các nhóm đối tượng đặc thù có năng lực số hạn chế. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số trên cơ sở chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước và yêu cầu của chuyển đổi số; đánh giá thực trạng quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Thông qua trường hợp cảnh báo về “hợp đồng kỳ nghỉ”, nghiên cứu làm rõ những hạn chế trong việc tiếp cận thông tin pháp luật của người cao tuổi trên môi trường số, từ đó, chỉ ra những bất cập của pháp luật hiện hành. Trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các quy định pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số.
Nguyên tắc “6 rõ” trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Nguyên tắc “6 rõ” trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Trong đợt tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật năm 2026 - một nhiệm vụ trọng yếu được triển khai theo Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới - nguyên tắc “6 rõ” đã được xác lập như một chuẩn mực kỹ thuật và quản trị cốt lõi. Nội dung của nguyên tắc này bao gồm: rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền và rõ kết quả.
Nâng cao nhận thức, chung tay đẩy lùi tội phạm mua bán người

Nâng cao nhận thức, chung tay đẩy lùi tội phạm mua bán người

Ngày 30/7 hằng năm được Đại hội đồng Liên hợp quốc chọn là Ngày Thế giới phòng, chống mua bán người (World Day Against Trafficking in Persons) nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng về những hậu quả nghiêm trọng của tội phạm mua bán người, đồng thời kêu gọi các quốc gia tăng cường hợp tác, triển khai các giải pháp phòng ngừa, đấu tranh và bảo vệ nạn nhân.

Theo dõi chúng tôi trên: