Thứ tư 15/04/2026 23:28
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về căn cứ khởi tố vụ án, khởi tố bị can theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

Căn cứ khởi tố vụ án, khởi tố bị can là vấn đề quan trọng trong pháp luật tố tụng hình sự (TTHS). Việc nhận thức sâu sắc căn cứ khởi tố vụ án, khởi tố bị can là tiền đề để triển khai và áp dụng có hiệu quả trong thực tế chế định khởi tố vụ án, khởi tố bị can. Trong phạm vi bài viết này, tác giả tập trung trao đổi, bàn về căn cứ khởi tố vụ án, khởi tố bi can theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015[1].

Căn cứ khởi tố vụ án, khởi tố bị can là vấn đề quan trọng trong pháp luật tố tụng hình sự (TTHS). Việc nhận thức sâu sắc căn cứ khởi tố vụ án, khởi tố bị can là tiền đề để triển khai và áp dụng có hiệu quả trong thực tế chế định khởi tố vụ án, khởi tố bị can. Trong phạm vi bài viết này, tác giả tập trung trao đổi, bàn về căn cứ khởi tố vụ án, khởi tố bi can theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015[1].

1. Khởi tố vụ án là giai đoạn mở đầu của TTHS trong đó các chủ thể có thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự quy định kiểm tra thông tin, tài liệu thu được, xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm để ra quyết định khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án. Khởi tố bị can là hoạt động áp dụng pháp luật TTHS của cơ quan có thẩm quyền trong đó xác định một người, pháp nhânđã thực hiện tội phạm để bắt đầu tiến hành điều tra, áp dụng các biện pháp cưỡng chế theo trình tự, thủ tục của TTHS.

Căn cứ khởi tố vụ án, khởi tố bị can có vai trò quan trọng trong giai đoạn khởi tố. Việc tiến hành khởi tố chỉ được khởi động nếu xác định có căn cứ khởi tố. Việc khởi tố đúng pháp luật hay không phụ thuộc vào căn cứ khởi tố.

2. Căn cứ khởi tố vụ án được quy định tại Điều 143 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Từ quy định của điều luật trên có thể khẳng định về mặt pháp lý, căn cứ khởi tố vụ án hình sự đã được xác định là “dấu hiệu của tội phạm” nghĩa là chỉ được khởi tố khi đã xác định có dấu hiệu của tội phạm.

Mặc dù đã được quy định cụ thể trong Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, nhưng nhận thức và giải thích về căn cứ khởi tố vụ án hình sự hiện đang có nhiều ý kiến khác nhau: Có được những thông tin thực tế khác quan về hành vi phạm tội[2], có sự việc xảy ra và sự việc đó có dấu hiệu tội phạm[3]; căn cứ để xác định dấu hiệu của tội phạm[4]; có được những thông tin thực tế khách quan về hành vi phạm tội[5].

Theo tác giả, các nhà nghiên cứu đều xuất phát từ lý luận triết học về cặp phạm trù nội dung - hình thức để phân tích, lý giải căn cứ khởi tố, nhưng do đặt trong mối quan hệ khác nhau và phương diện tiếp cận khác nhau nên dẫn đến sự giải thích khác nhau. Trên cơ sở lý luận chứng cứ và đặt căn cứ khởi tố trong mối quan hệ với nguồn tài liệu chứa đựng phản ánh nó (theo quy định từ khoản 1 đến khoản 6 Điều 143 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015) thì căn cứ khởi tố được giải thích là chứng cứ chứng minh (xác định) có dấu hiệu tội phạm. Đặt trong mối quan hệ giữa Luật Hình sự và Luật Tố tụng hình sự thì căn cứ khởi tố được giải thích là dấu hiệu của tội phạm. Nếu đặt trong mối quan hệ giữa chứng cứ với đối tượng chứng minh thì nội dung quy định tại Điều 143 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cho thấy rằng, cơ sở khởi tố là nguồn chứng cứ, do đó, cái được rút ra từ nguồn chứng cứ phải là chứng cứ; dấu hiệu tội phạm (căn cứ khởi tố) là đối tượng chứng minh, là vấn đề mà chứng cứ có nhiệm vụ phải làm rõ.

Những quan điểm và cách giải thích trên chỉ có ý nghĩa về lý luận, học thuật. Trong thực tiễn, đối với hoạt động áp dụng pháp luật, hai cách giải thích trên đều có thể chấp nhận vì đều làm rõ được nội dung, bản chất của quy phạm pháp luật về căn cứ khởi tố và đều tạo cơ sở cho việc áp dụng đúng pháp luật. Dấu hiệu tội phạm được chứng cứ chứng minh (xác định) hay nói ngược lại có chứng cứ xác định dấu hiệu tội phạm, về bản chất được hiểu giống nhau. Trong quy định của luật về căn cứ khởi tố, nói đến chứng cứ không thể không nói đến đối tượng chứng minh của nó (là dấu hiệu tội phạm) vì nếu không có đối tượng chứng minh thì sẽ không có chứng cứ; ngược lại nói đến dấu hiệu tội phạm cũng không thể không đề cập đến chứng cứ xác định nó, vì dấu hiệu tội phạm không tự bộc lộ mà phải được xác định bằng chứng cứ. Khi giải thích về căn cứ khởi tố nếu tách dấu hiệu tội phạm ra khỏi mối quan hệ với chứng cứ xác định nó sẽ siêu hình, phiến diện.

Trong quy định về căn cứ khởi tố bị can, khoản 1 Điều 179 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã ghi rõ: “Khi có đủ căn cứ để xác định một người hoặc pháp nhân đã thực hiện hành vi mà Bộ luật Hình sự quy định là tội phạm thì Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố bị can”. Quy định trên phản ánh rõ hai khía cạnh của căn cứ khởi tố và mối quan hệ giữa chúng, đó là, chứng cứ (căn cứ để xác định đối tượng chứng minh…) và vấn đề cần làm rõ (đối tượng chứng minh - hành vi phạm tội).

Khi giải thích về căn cứ khởi tố vụ án thì vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng là hiểu đúng nội dung, phạm vi của quy định “dấu hiệu tội phạm”. Theo tác giả, dấu hiệu tội phạm trong căn cứ khởi tố vụ án quy định tại Điều 143 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 được hiểu không hoàn toàn giống các dấu hiệu của tội phạm trong khái niệm tội phạm và dấu hiệu của các yếu tố cấu thành tội phạm trong lý luận về cấu thành tội phạm.

Các dấu hiệu của tội phạm được rút ra từ khái niệm tội phạm (tính nguy hiểm cho xã hội, tính có lỗi, tính trái pháp luật hình sự, tính chịu hình phạt...) là những thuộc tính của tội phạm. Các dấu hiệu của tội phạm được rút ra từ khái niệm tội phạm thì một hành vi chỉ bị coi là tội phạm khi có đủ các dấu hiệu, thuộc tính này nếu thiếu một dấu hiệu nào đó không phải là tội phạm. Dấu hiệu trong cấu thành tội phạm được hiểu là một biểu hiện, một nội dung của các yếu tố cấu thành tội phạm (như dấu hiệu hành vi, dấu hiệu hậu quả... trong mặt khách quan; dấu hiệu lỗi, dấu hiệu động cơ, dấu hiệu mục đích... trong mặt chủ quan của tội phạm…). Trong lý luận về cấu thành tội phạm cũng phải đầy đủ các dấu hiệu trong cấu thành tội phạm không thể chỉ dựa vào một vài dấu hiệu trong cấu thành tội phạm để kết luận một chủ thể đã thực hiện tội phạm và phải chịu trách nhiệm hình sự.

Theo tác giả, “dấu hiệu tội phạm” trong căn cứ khởi tố vụ án quy định tại Điều 143 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 khác các dấu hiệu của tội phạm trong khái niệm tội phạm và dấu hiệu của các yếu tố cấu thành tội phạm trong lý luận về cấu thành tội phạm. Đối với dấu hiệu tội phạm với ý nghĩa là căn cứ khởi tố vụ án phải được hiểu theo nghĩa chung, khái quát. Đó là những biểu hiện, những “khía cạnh” của tội phạm được chứng minh, xác định bằng chứng cứ cụ thể. Sự khác nhau về dấu hiệu tội phạm trong căn cứ khởi tố vụ án hình sự với dấu hiệu tội phạm trong khái niệm tội phạm và dấu hiệu của các yếu tố cấu thành tội phạm trong lý luận về cấu thành tội phạm là ở tính đầy đủ chứ không phải tính khách quan. Khi khởi tố vụ án chỉ cần xác định biểu hiện tội phạm, chưa cần thiết phải xác định đầy đủ các dấu hiệu của tội phạm được rút ra từ khái niệm tội phạm và các dấu hiệu trong cấu thành tội phạm. Tại thời điểm ra quyết định khởi tố vụ án chưa yêu cầu xác định ngay người thực hiện tội phạm là ai, hành vi thực hiện tội phạm diễn ra như thế nào. Mặt khác, những biểu hiện của tội phạm trong căn cứ khởi tố là có thật, tồn tại khách quan và đã được xác định (chứng minh). Căn cứ khởi tố vụ án trả lời câu hỏi đặt ra là dựa vào đâu, vào cái gì để quyết định mở cuộc điều tra theo trình tự, thủ tục TTHS. Do đó, căn cứ khởi tố vụ án không thể cùng nội dung với căn cứ xác định có tội trong khái niệm tội phạm (xác định một hành vi là tội phạm) và trong cấu thành tội phạm.

Căn cứ khởi tố vụ án và căn cứ khởi tố bị can có mối liên hệ chặt chẽ. Việc xác định đúng căn cứ khởi tố bị can, trong nhiều trường hợp là yếu tố góp phần khắc phục những thiếu sót khi khởi tố vụ án hoặc góp phần làm cho nhiệm vụ của khởi tố được thực hiện đầy đủ (trường hợp thay đổi quyết định khởi tố, khởi tố bổ sung).

Khoản 1 Điều 179 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 quy định “Khi có đủ căn cứ để xác định một người hoặc pháp nhân đã thực hiện hành vi mà Bộ luật Hình sự quy định là tội phạm thì Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố bị can”.

Như vậy, khởi tố vụ án và khởi tố bị can có điểm giống nhau, đều là quyết định bắt đầu điều tra công khai theo trình tự thủ tục TTHS, nhưng khác nhau về thời điểm, yêu cầu và căn cứ khởi tố. Nếu như tại thời điểm ra quyết định khởi tố vụ án chưa yêu cầu xác định ngay người thực hiện tội phạm là ai, pháp nhân nào; hành vi thực hiện tội phạm diễn ra như thế nào thì khi quyết định khởi tố bị can phải xác định chính xác một người hoặc pháp nhân cụ thể đã thực hiện hành vi phạm tội. Khởi tố bị can không chỉ được tiến hành ở giai đoạn khởi tố vụ án mà còn được thực hiện trong giai đoạn điều tra hay trong giai đoạn truy tố nếu phát hiện có người thực hiện tội phạm.

3. Để có căn cứ khởi tố thì Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát phải thông qua các hoạt động kiểm tra, xác minh thu thập chứng cứ, đánh giá sơ bộ để xác định có hay không có một tội phạm tương ứng với một tội danh đã được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự xảy ra trên thực tế. Khi ra quyết định khởi tố vụ án hình sự thì không bắt buộc phải chứng minh đầy đủ các yếu tố cấu thành tội phạm. Thông thường, chỉ cần làm rõ khách thể trực tiếp của tội phạm, các dấu hiệu bắt buộc trong mặt khách quan và chủ quan của tội phạm. Vì thế khi xác định có dấu hiệu của tội phạm dù chưa rõ người thực hiện hành vi phạm tội là ai, pháp nhân nào… việc ra quyết định khởi tố vụ án hình sự vẫn được tiến hành.

Mặt khác, không phải tất cả các vụ việc sau khi đã xác định có dấu hiệu của tội phạm thì bắt buộc đều phải khởi tố vụ án hình sự. Tội phạm là một hiện tượng xã hội luôn gắn với một thời điểm, một hoàn cảnh cụ thể, do đó việc khởi tố hay không khởi tố phải gắn với rất nhiều các yếu tố như: chính sách hình sự của nhà nước, yêu cầu của công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm. Do vậy, khi khởi tố vụ án hình sự ngoài việc xác định các dấu hiệu của tội phạm, còn phải kết hợp với một số điều kiện như: Cơ sở của trách nhiệm hình sự (Điều 3); nguyên tắc xử lý (Điều 3); thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự (Điều 27); miễn trách nhiệm hình sự (Điều 29); tuổi chịu trách nhiệm hình sự (Điều 12) và một số quy định khác ở một số tội danh ở từng thời điểm cụ thể theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Để xác định căn cứ khởi tố được chính xác, khách quan, cơ quan có thẩm quyền khởi tố cần thận trọng cân nhắc, đối chiếu các dấu hiệu của tội phạm với các quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015[6] để xác định chính xác tội danh, hành vi phạm tội cần khởi tố để ra quyết định khởi tố vụ án hình sự. Để khắc phục tình trạng khởi tố vụ án hình sự không có căn cứ pháp lý, việc khởi tố kéo dài không chứng minh được tội phạm và người phạm tội dẫn đến việc bắt oan, bắt sai hoặc bỏ lọt tội phạm, người phạm tội, làm giảm uy tín của cơ quan có thẩm quyền khởi tố với công dân, thì các cơ quan có thẩm quyền khởi tố phải quán triệt nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa trong việc khởi tố. Việc khởi tố phải đảm bảo có căn cứ theo luật định, các quyết định khởi tố phải gửi đến Viện Kiểm sát để kiểm sát việc khởi tố. Ngoài ra, việc xác định căn cứ khởi tố vụ án, khởi tố bị can phải dựa trên các nguồn theo quy định tại Điều 143 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, cụ thể: Tố giác của cá nhân; tin báo của cơ quan, tổ chức, cá nhân; tin báo trên phương tiện thông tin đại chúng; kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước; cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm; người phạm tội tự thú.

ThS. Lưu Thanh Hùng

Trường Đại học An ninh nhân dân


[1] Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi) đã được thông qua tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa 13 ngày 27/11/2015. Bộ luật này chính thức có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2016.

[2] Xem: Viện nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật (1995), Tội phạm học, Luật Hình sự và Luật Tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 76.

[3] Xem: Viện Thông tin khoa học xã hội (1981), Sưu tập chuyên đề những vấn đề lý luận về Luật Hình sự, Luật Tố tụng hình sự và tội phạm học, Hà Nội, tr 154.

[4] Xem: Viện Khoa học pháp lý (1999), Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng Hình sự, Nxb. Thành phố HồChíMinh, tr.463.

[5] Xem: Viện khoa học pháp lý (2005), Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng Hình sự, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, tr 347.

[6] Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được thông qua tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa 13 ngày 27/11/2015. Bộ luật này chính thức có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2016.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.
Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Bài viết phân tích các vấn đề cốt lõi về hợp đồng tiếp thị liên kết, đánh giá thực tiễn áp dụng và chỉ ra những bất cập trong quy định pháp luật, đặc biệt liên quan đến khái niệm pháp lý, cơ chế giao kết và hiệu lực phụ lục hợp đồng. Trên cơ sở đó, bài viết đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hợp đồng tiếp thị liên kết, nhằm bảo đảm tính minh bạch, công bằng trong quan hệ hợp đồng và góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của hoạt động tiếp thị liên kết trong môi trường thương mại điện tử tại Việt Nam.
Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự gia tăng của quan hệ hôn nhân xuyên biên giới, vấn đề giải quyết xung đột pháp luật về điều kiện kết hôn ngày càng trở nên cấp thiết. Bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá quy định hiện hành về xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch (lex patriae). Qua đó, nhận diện một số bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thực thi nguyên tắc này tại Việt Nam hiện nay.
Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Tóm tắt: Ở Việt Nam, chế định Hội thẩm nhân dân là phương thức thể chế hóa quyền làm chủ của Nhân dân trong hoạt động xét xử. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy, chế định này tồn tại một số hạn chế, dẫn đến sự tham gia của Nhân dân trong nhiều trường hợp còn hình thức. Bài viết phân tích vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử, nhận diện những hạn chế trong quy định pháp luật hiện hành về cơ chế lựa chọn, phân công, tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm pháp lý; từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của Hội thẩm nhân dân, đáp ứng yêu cầu công cuộc cải cách tư pháp trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: