Thứ ba 25/08/2026 07:48
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về “chữ tâm” trong công tác thi hành án dân sự

Tính chất khó khăn, phức tạp của công tác thi hành án dân sự được thể hiện ở rất nhiều khía cạnh khác nhau như: Là giai đoạn trực tiếp liên quan đến quyền và lợi ích, tài sản của các bên đương sự, diễn ra ở nhiều lĩnh vực khác nhau, mà mỗi lĩnh vực đều có những quy định riêng, đặc thù (đất đai, nhà cửa, tháo dỡ công trình, quyền nhân thân như nuôi con…); tài sản chung, tài sản riêng, tài sản không rõ nguồn gốc, nhất là đất đai, bất động sản.

Thời gian qua, trên các diễn đàn, các phương tiện truyền thông đã có rất nhiều bài viết, phân tích, đánh giá, nhiều tư tưởng mới, sâu sắc về công tác cán bộ nói chung, về năng lực, về “chữ tầm”, “chữ tâm” của người cán bộ, công chức, đảng viên nói riêng. Trong bất cứ giai đoạn cách mạng nào, ở bất kỳ lĩnh vực, địa phương nào, công tác cán bộ bao giờ cũng đóng vai trò quyết định; không chỉ là khâu then chốt trong công tác xây dựng tổ chức bộ máy mà còn là mắt xích trọng yếu trong toàn bộ hoạt động của của bất kỳ tổ chức Đảng, chính quyền, cơ quan, đơn vị. Đặc biệt là, trong giai đoạn hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đang triển khai học tập và làm theo đạo đức, phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, trong đó có nhiều bài viết quan trọng của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng về công tác cán bộ, về năng lực, về “chữ tầm”, “chữ tâm” của người cán bộ, công chức, đảng viên trong tình hình mới, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.

Công tác cán bộ trong Hệ thống Thi hành án dân sự (THADS) nói chung và tỉnh Gia Lai nói riêng không nằm ngoài yêu cầu đó, cũng phải hết sức chú trọng việc xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng cả về “tâm” và “tầm”. Đòi hỏi chúng ta, ngoài việc nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ còn phải nghiêm túc, phát huy cao độ tinh thần trách nhiệm phụng sự, phục vụ nhân dân, phải là những người thực sự có tâm và có tài. Nói đến công tác THADS thì không ít người cho rằng, THADS là “cái nghề đòi nợ”. Đó là cách hiểu phiến diện, không đúng về ngành THADS, bởi công tác THADS không chỉ là thu hồi nợ. Thi hành án dân sự có thể hiểu một cách khái quát là việc tổ chức thi hành bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, bảo đảm quyền lợi hợp pháp, chính đáng của người được thi hành án, người phải thi hành án và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và mặt khác, bảo đảm việc thực hiện quyền tư pháp của Nhà nước, bảo đảm cho việc bản án, quyết định của Tòa án được thực thi trên thực tế.

Trong phạm vi bài viết này, tác giả đề cập đến một số khía cạnh về “chữ tâm” của người cán bộ, công chức trong lĩnh vực THADS như sau:

Trước hết, dưới góc độ chung, THADS như là một khâu trong tố tụng (dân sự, dân sự trong hình sự, thương mại, hành chính… ) và là một trong những nhiệm vụ, một bộ phận cơ cấu của Ngành Tư pháp. Đến nay, THADS đã trải qua hơn 75 năm hình thành và phát triển, thi hành án dân sự tạo ra những tiền đề quan trọng, góp phần không nhỏ vào sự nghiệp phát triển chung Ngành Tư pháp, xây dựng Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Không những vậy, 75 năm qua, điều lắng đọng lại mà không phải ai cũng có thể nhận thấy đó chính là cái “tâm” của đội ngũ những người làm công tác thi hành án dân sự nói chung và của chấp hành viên nói riêng. Khi xem thi hành án dân sự như là một khâu trong tố tụng thì đây là khâu cuối cùng và phải khẳng định rằng, đây là khâu quan trọng nhưng cũng khó khăn, phức tạp nhất trong tố tụng (dân sự, dân sự trong hình sự, thương mại, hành chính… ), liên quan trực tiếp đến quyền lợi, tài sản của đương sự nên dễ phát sinh căng thẳng, xung đột, thậm chí là đối diện với nguy cơ thương tích, án mạng.

Tính chất khó khăn, phức tạp của công tác thi hành án dân sự được thể hiện ở rất nhiều khía cạnh khác nhau như: Là giai đoạn trực tiếp liên quan đến quyền và lợi ích, tài sản của các bên đương sự, diễn ra ở nhiều lĩnh vực khác nhau, mà mỗi lĩnh vực đều có những quy định riêng, đặc thù (đất đai, nhà cửa, tháo dỡ công trình, quyền nhân thân như nuôi con…); tài sản chung, tài sản riêng, tài sản không rõ nguồn gốc, nhất là đất đai, bất động sản. Để xác minh tài sản của người phải thi hành án là việc làm không đơn giản đối với cơ quan thi hành án dân sự, các chấp hành viên, chưa kể đến những khó khăn từ phía đương sự, do rất nhiều đối tượng không cộng tác đối với cơ quan thi hành án dân sự, các chấp hành viên trực tiếp giải quyết vụ việc, như tẩu tán, che giấu tài sản nhằm trốn tránh nghĩa vụ thi hành án, thậm chí là chống đối, đe dọa tính mạng chấp hành viên trong quá trình tác nghiệp. Mặt khác, kết quả của hoạt động thi hành án dân sự, không chỉ đơn thuần phụ thuộc vào ý chí chủ quan của chấp hành viên, cơ quan thi hành án dân sự mà còn phụ thuộc rất nhiều vào hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng, vai trò của cơ quan điều tra, chức năng kiểm sát của Viện kiểm sát các cấp, chất lượng xét xử của thẩm phán. Trong thực tiễn, có rất nhiều bản án tuyên không rõ, không đúng thực tiễn, không đúng pháp luật, chưa thấu tình đạt lý thì việc giải quyết ở giai đoạn thi hành án dân sự là vô cùng khó khăn, phức tạp. Chính vì thế, để có thể thi hành bản án, quyết định của Tòa án hiệu quả trên thực tế, đòi hỏi chấp hành viên phải nghiên cứu kỹ, đối chiếu với rất nhiều quy định pháp luật; biết kết hợp hài hòa giữa “cái tình” và “cái lý”, không những phải vận dụng tất cả kỹ năng nghiệp vụ để giải quyết vụ việc trên cơ sở quy định của pháp luật mà còn phải bằng cả “cái tâm” tận lòng, tận tâm vì công việc, vì lợi ích của người dân thì việc thi hành án dân sự mới được giải quyết “thấu tình đạt lý”.

Bên cạnh đó, trong quá trình giải quyết vụ việc, đặc biệt là quá trình xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án, chấp hành viên có điều kiện tiếp xúc, gần gũi với người phải thi hành án. Vì thế, chấp hành viên không chỉ tiến hành xác minh về tài sản mà còn nắm bắt về nhân thân, về hoàn cảnh gia đình của họ. Bởi, trên thực tế cho thấy, rất nhiều người phải thi hành án thường có hoàn cảnh khó khăn về kinh tế, bất ổn về tinh thần, hoàn cảnh gia đình: Có trường hợp gia đình có 04 đứa con, chồng chết, có duy nhất một cái rẫy nhưng thế chấp ngân hàng vay vốn để canh tác nhưng mất mùa, tiêu chết, đến thời hạn không có tiền trả nợ, ngân hàng khởi kiện, án có hiệu lực buộc cơ quan thi hành án phải cưỡng chế thu hồi nợ (người mẹ và 03 người con cố thủ trong nhà rẫy nhiều ngày liền, với 1chai thuốc trừ sâu và một can xăng; phải vận động, thuyết phục nhiều ngày liền với nhiều ngành, nhiều cấp, vận động ngân hàng hỗ trợ thuê nhà, bảo đảm điều kiện sống cho 04 người trong một thời gian, họ mới chịu rời khỏi nhà, giao tài sản). Có trường hợp, đương sự chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương sinh sống thì đã ở độ tuổi ngoài 40, sức khỏe yếu, không có công ăn việc làm, họ bày tỏ: “Tôi tuổi cao mới ra tù sức yếu không ai thuê làm, không có tiền, người thân chẳng ai nhìn ngó thì sao mà có tiền thi hành án được, tôi chỉ muốn ở tù”. Trong những hoàn cảnh, điều kiện như vậy, đòi hỏi chấp hành viên, người làm công tác thi hành án phải hết sức lắng nghe, chia sẻ nỗi niềm cùng người phải thi hành án, động viên và phối hợp với các cơ quan liên quan, nhất là các ngân hàng (người được thi hành án) tạo điều kiện giúp đỡ họ ổn định chỗ ở, tìm công ăn việc làm, giúp họ ổn định cuộc sống và có điều kiện để thi hành án.

Ngược lại, bên cạnh nhiều người phải thi hành án thường có hoàn cảnh khó khăn về kinh tế, bất ổn về tinh thần, hoàn cảnh gia đình thì cũng có rất nhiều người phải thi hành án tìm mọi cách không chấp hành bản án, cố tình trì hoãn thi hành, khiếu nại, tố cáo khắp nơi, chửi bới, nhục mạ, thậm chí đe dọa, hành hung, gây thương tích, án mạng cho cán bộ, công chức cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên trực tiếp giải quyết vụ việc. Do đó, chấp hành viên phải tăng cường phối hợp với các cán bộ, công chức trong cơ quan và các cơ quan khác như công an, Viện kiểm sát, vận động, thuyết phục, kiên quyết thực hiện các biện pháp nghiệp vụ, đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý các đối tượng manh động, côn đồ, chống đối việc thực thi nhiệm vụ thi hành án.

Vì vậy, đối với từng vụ việc thi hành án cụ thể, chấp hành viên phải vận dụng linh hoạt các biện pháp, kỹ năng nghiệp vụ, đưa hết “cái tâm” trong sáng của mình để giải quyết, không thể rập khuôn, máy móc những biện pháp đã áp dụng ở vụ việc này vào việc giải quyết vụ việc khác. Thông qua quá trình suy luận chân thực, chấp hành viên phải tìm ra cách làm mới, biện pháp mới để giải quyết các vụ việc khác nhau. Đối với từng vụ việc cụ thể, chấp hành viên không những dựa trên cơ sở quy định của pháp luật mà còn phải bằng “cái tâm” của mình để có hướng xử lý hiệu quả mọi vấn đề có liên quan đến vụ việc.

Trong quá trình tổ chức thi hành án dân sự thì công tác vận động, thuyết phục đương sự tự nguyện thi hành án là phương pháp đầu tiên, đóng vai trò quan trọng được chấp hành viên sử dụng trong các vụ việc dù đơn giản hay phức tạp. Điều đó đòi hỏi chấp hành viên phải vận dụng rất nhiều kỹ năng nghiệp vụ, kỹ năng dân vận và cả “cái tâm”, tấm lòng chân thành để vận động, thuyết phục sự đồng lòng, hài hòa giữa quyền lợi và nghĩa vụ của các bên. Bởi, khi vận động thuyết phục, hòa giải thành công không chỉ mang lại lợi ích cho người được thi hành án mà người phải thi hành án cũng thoát khỏi những chi phí phát sinh (các chi phí cưỡng chế nếu phải dùng đến biện pháp cưỡng chế). Không những vậy, việc các đương sự hòa giải thành, tự nguyện thi hành án còn giúp cơ quan thi hành án dân sự hoàn thành công việc thuận lợi, nhanh chóng, tránh khỏi những gánh nặng về thời gian, công sức, kinh phí (giảm thực hiện các thủ tục thi hành án hoặc huy động nhiều lực lượng chức năng, phương tiện phục vụ cho công tác cưỡng chế…). Mặt khác, vận động, thuyết phục các đương sự tự nguyện thi hành án thì sẽ loại trừ được khả năng xảy ra chống đối, gây ảnh hưởng đến tình hình trật tự, an toàn xã hội tại địa phương cũng như các khiếu nại, tố cáo phức tạp sau này.

Tuy nhiên, công tác vận động, thuyết phục trong thi hành án dân sự không phải lúc nào cũng thuận lợi và thành công. Nhiều đương sự, nhất là người phải thi hành án, khi được cán bộ thi hành án, chấp hành viên giải thích, vận động đã có thái độ thiếu tôn trọng, không hợp tác, cố tình chây ỳ, tẩu tán tài sản, đi khỏi địa phương, khiếu nại vượt cấp, nhằm mục đích kéo dài việc thi hành án, chống đối quyết liệt việc cưỡng chế thi hành án. Trong trường hợp đó thì cưỡng chế thi hành án là biện pháp cần thiết để bản án, quyết định của Tòa án được thi hành triệt để, nhưng khi phải tổ chức cưỡng chế sẽ tốn kém thời gian, công sức, tiền của… Vì thế, chấp hành viên rất trăn trở và phải áp dụng các biện pháp “dân vận khéo”, vận động, thuyết phục, tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đương sự tự nguyện chấp hành bản án. Trên thực tế, mọi trường hợp không tự nguyện thi hành án đều có nhiều nguyên nhân (phần lớn là do không hiểu luật). Vấn đề đặt ra là, phải tìm cho ra nguyên nhân và xử lý dứt điểm, sẽ giải quyết thành công vụ việc, do đó, đòi hỏi chấp hành viên phải biết kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý và tình, giữa mềm mỏng và kiên quyết, giữa nguyên tắc và linh hoạt bằng một “cái tâm sáng”, khiến cho đương sự chuyển hóa từ bất hợp tác sang hợp tác, từ chống đối sang đồng thuận. Không chỉ gặp gỡ, làm việc riêng với đương sự mà nhiều khi chấp hành viên còn phải tác động đến người thân của đương sự, bàn bạc với chính quyền nơi đương sự cư trú, cơ quan nơi đương sự làm việc để cùng phối hợp vận động; không chỉ đơn thuần giữ cương vị của người tổ chức thi hành bản án, có lúc, người chấp hành viên còn phải đảm nhận vai trò người tư vấn để đương sự thực hiện nghĩa vụ thi hành án một cách thuận tiện và có lợi nhất. Trên thực tế, rất nhiều vụ việc bằng “cái tâm” mong muốn điều có lợi nhất cho đương sự mà chấp hành viên đã thuyết phục thành công, giúp chuyển hóa từ vụ việc phải cưỡng chế sang chấp thuận thi hành án, việc thi hành án đạt kết quả bảo đảm bản án được thực thi nghiêm túc và không ảnh hưởng đến quyền lợi của người dân.

Công tác thi hành án dân sự là một lĩnh vực hết sức khó khăn, phức tạp đòi hỏi đội ngũ chấp hành viên, công chức làm công tác thi hành án ngoài việc tinh thông nghiệp vụ, kỹ năng thi hành án cần phải có “cái tâm” với nghề, cái tâm với đương sự, với dân, phải nỗ lực hết mình, vượt qua mọi khó khăn, thử thách để tiếp tục xây dựng và phát triển hệ thống thi hành án dân sự nói chung và tỉnh Gia Lai nói riêng vững mạnh, luôn xứng đáng với danh hiệu “người con trung hiếu, vì nước quên thân, vì dân phục vụ” như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó. Có tài mà không có đức thì thành người vô dụng”.

Đào Trọng Giáp
Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.

Theo dõi chúng tôi trên: