Thứ bảy 15/08/2026 14:37
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bảo đảm thực hiện các nguyên tắc tiến hành tố tụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội

Bảo đảm thực hiện các nguyên tắc tiến hành tố tụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội

Tóm tắt: Trong phạm vi bài viết này, tác giả đề xuất và phân tích một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả bảo đảm thực hiện các nguyên tắc tiến hành tố tụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự ở Việt Nam hiện nay.

Abstract: Within the scope of this article, the author proposes and analyzes a number of solutions that contribute to improving the effectiveness of ensuring the implementation of the principles of conducting proceedings against offenders under the age of 18 in the process of resolving criminal cases in Vietnam today.

Nguyên tắc tiến hành tố tụng (THTT) đối với người dưới 18 tuổi (ND18T) lần đầu tiên được quy định thành một điều luật mới (Điều 414) trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (Bộ luật năm 2015). Điều luật đã quy định 07 nguyên tắc “có ý nghĩa bổ sung”[1] bên cạnh các nguyên tắc được quy định tại Chương II Bộ luật năm 2015. Trên cơ sở các chuẩn mực quốc tế, Bộ luật năm 2015 xây dựng các nguyên tắc này không những để bảo đảm sự tương thích với quy định của pháp luật quốc tế mà còn để phù hợp với điều kiện tình hình chính trị, xã hội, truyền thống pháp luật và tình hình tội phạm do ND18T thực hiện ở Việt Nam hiện nay.

Qua nghiên cứu các nguyên tắc này, bài viết phân tích những nội dung pháp luật liên quan và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành các nguyên tắc như sau:

1. Hoàn thiện quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

Bộ luật năm 2015 đã dành hẳn một điều luật riêng biệt quy định về các nguyên tắc THTT đối với ND18T nói chung, trong đó có ND18T phạm tội nói riêng, “tuy nhiên đó cũng chỉ là những quy định mang tính chung nhất chưa cụ thể và phù hợp với hoạt động tố tụng của các cơ quan và người THTT đối với ND18T phạm tội”[2]. Vì vậy, để bảo đảm thực hiện có hiệu quả các nguyên tắc này thì một trong những điều kiện quan trọng nhất đó là Bộ luật năm 2015 cần có những quy định thống nhất, đầy đủ, toàn diện hơn nữa về thủ tục tố tụng thân thiện đối với ND18T nói chung và ND18T phạm tội nói riêng. Do đó, tác giả có đề xuất:

1.1. Sửa đổi, bổ sung Điều 414 về nguyên tắc tiến hành tố tụng

Tác giả cho rằng, cần sắp xếp lại các nguyên tắc THTT được quy định tại Điều 414 Bộ luật năm 2015 theo một trật tự hợp lý, có nghĩa là sắp xếp theo hệ thống logic và tên gọi của các nguyên tắc còn “rườm rà” nên cần rút ngắn gọn và phải có quy định chi tiết nội dung cơ bản của các nguyên tắc là gì, được thể hiện như thế nào, cụ thể như sau:

“Điều 414. Nguyên tắc THTT đối với ND18T

1. Bảo đảm thủ tục tố tụng thân thiện đối với ND18T.

2. Bảo đảm lợi ích tốt nhất của ND18T.

3. Bảo đảm giải quyết nhanh chóng, kịp thời, đúng người, đúng pháp luật các vụ án hình sự liên quan đến ND18T.

4. Ưu tiên áp dụng các biện pháp giám sát, giáo dục.

5. Bảo đảm quyền bào chữa, quyền được trợ giúp pháp lý theo đúng quy định của pháp luật.

6. Bảo đảm giữ bí mật cá nhân của ND18T trong giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử.

7. Tôn trọng quyền được tham gia tố tụng, trình bày ý kiến cá nhân về những vấn đề liên quan đến vụ án hình sự.

8. Bảo đảm quyền tham gia tố tụng của người đại diện, nhà trường, tổ chức nơi ND18T sinh sống, học tập.

9. Bảo đảm các nguyên tắc xử lý của Bộ luật hình sự đối với ND18T phạm tội”.

Đặc biệt, cần tách nguyên tắc “bảo đảm thủ tục tố tụng thân thiện đối với ND18T” với tên gọi ngắn gọn như vậy và được đặt là nguyên tắc đầu tiên nhằm mục đích nền tảng chi phối và xuyên suốt quá trình thực hiện thủ tục tố tụng đối với ND18T.

1.2. Sửa đổi, bổ sung quy định liên quan đến người tiến hành tố tụng

Thứ nhất, tên gọi của Điều 415 Bộ luật năm 2015 quy định về “Người THTT” và Điều 5 Thông tư liên tịch số 06/2018/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP- BLĐTBXH ngày 21/12/2018 của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội về phối hợp thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thủ tục tố tụng đối với ND18T (Thông tư liên tịch số 06/2018) quy định về “Phân công người có thẩm quyền THTT”. Như vậy, ngay từ tên điều luật của hai văn bản này là chưa thống nhất. Do đó, cần thống nhất hai văn bản với tên gọi: “Người có thẩm quyền THTT”.

Thứ hai, Điều 415 Bộ luật năm 2015 quy định về tiêu chuẩn của người THTT mới chỉ có tính định tính, chưa định lượng được như thế nào là người có “kinh nghiệm, có hiểu biết cần thiết”. Việc chưa quy định cụ thể hay giải thích rõ những vấn đề này dễ khiến cho nhiều địa phương, nhiều người có những cách hiểu, cách áp dụng khác nhau vào thực tiễn, không bảo đảm được tính đồng bộ, thống nhất. Do đó, Bộ luật năm 2015 và văn bản hướng dẫn thi hành cần bổ sung quy định về tiêu chí đánh giá về kinh nghiệm điều tra, truy tố, xét xử vụ án liên quan đến ND18T và có hiểu biết cần thiết về tâm lý học, khoa học giáo dục đối với ND18T để tránh sự tùy tiện, cảm tính của cơ quan, người có thẩm quyền THTT.

Thứ ba, tại khoản 1 Điều 5 Thông tư liên tịch số 06/2018, cần bổ sung “kiểm tra viên, thẩm tra viên” là người THTT và phải có những tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định khi tham gia giải quyết vụ án hình sự có ND18T tham gia.

1.3. Sửa đổi quy định về việc tham gia tố tụng của người đại diện, nhà trường, tổ chức

Bộ luật năm 2015 mới chỉ có 01 điều (Điều 420) quy định về việc tham gia của người đại diện, nhà trường, tổ chức nhưng còn rất chung chung. Bộ luật này chưa có quy định riêng biệt về quyền và nghĩa vụ của người đại diện cho ND18T phạm tội và những người tham gia tố tụng khác. Trong khi đó, quyền và nghĩa vụ của người đại diện cho ND18T phạm tội được quy định tại nhiều điều khoản khác nhau trong Bộ luật năm 2015 (các điều 331, 418, 420, 421, 422, 423, 469, 470) và Điều 9 Thông tư liên tịch số 06/2018. Do vậy, để bảo đảm lợi ích tốt nhất cho ND18T phạm tội và áp dụng pháp luật thống nhất, tác giả đề xuất bổ sung 01 điều luật riêng quy định về quyền và nghĩa vụ của người đại diện, trong đó có người đại diện cho ND18T phạm tội.

- Đối với khoản 2 Điều 420, tác giả đề xuất thay từ “được” bằng từ “có quyền” tại khoản 2 Điều 420; bổ sung quyền của người đại diện của ND18T phạm tội trong giai đoạn truy tố tại Điều 420: “Trong giai đoạn truy tố, người đại diện cho ND18T phạm tội có quyền: Tham gia việc hỏi cung; đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu, khiếu nại, tố cáo; đọc, ghi chép, sao chụp tài liệu liên quan đến việc buộc tội ND18T của Viện kiểm sát”.

1.4. Bổ sung các quy định liên quan đến hoạt động lấy lời khai người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ; hỏi cung bị can, đối chất

Thứ nhất, khoản 1, khoản 2 Điều 421 Bộ luật năm 2015 và Điều 14 Thông tư liên tịch số 06/2018 chỉ quy định về việc lấy lời khai của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ là ND18T phạm tội tại nơi học tập, lao động và sinh hoạt của người đó hoặc nơi tiến hành điều tra, mà chưa có quy định cụ thể về trường hợp lấy lời khai của họ khi họ là người ở địa phương khác lại phạm tội ở địa phương không phải là nơi cư trú hoặc họ không còn cha mẹ, không có nơi cư trú rõ ràng hoặc là người lang thang, cơ nhỡ, không nơi nương tựa thì việc xác định địa chỉ và người đại diện để tiến hành lấy lời khai là như thế nào.

Do đó, để bảo đảm tính thống nhất trong áp dụng pháp luật, tránh sự tùy tiện, vi phạm tố tụng, Bộ luật năm 2015 cần có những hướng dẫn chi tiết, cụ thể hơn nữa về vấn đề này.

Thứ hai, Điều 421 Bộ luật năm 2015 chỉ đề cập đến hoạt động lấy lời khai, hỏi cung bị can, đối chất, trong khi đó, những hoạt động điều tra khác lại không được đề cập đến như nhận dạng, nhận biết giọng nói, khám xét người, xem xét dấu vết trên thân thể và các biện pháp điều tra khác. Những hoạt động điều tra này khi áp dụng ảnh hưởng không nhỏ đến tâm lý ND18T phạm tội. Nếu Bộ luật năm 2015 không có quy định riêng về trình tự áp dụng, cách thức áp dụng các biện pháp ngăn chặn này mà áp dụng giống như đối với người thành niên thì không thể bảo đảm được lợi ích tốt nhất của ND18T phạm tội, không phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý, lứa tuổi nên chưa bảo đảm được mục đích của việc quy định thủ tục đặc biệt này trong Bộ luật Tố tụng hình sự.

Do đó, tác giả đề xuất sửa đổi tên Điều 421 thành “Lấy lời khai người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị hại, người làm chứng; hỏi cung bị can, đối chất, nhận dạng, khám xét người, xem xét dấu vết trên thân thể và các hoạt động điều tra khác”. Đồng thời, xây dựng và ban hành văn bản hướng dẫn chi tiết về trình tự, thủ tục điều tra thân thiện đối với ND18T, trong đó có quy định riêng phù hợp với đặc điểm về thể chất, tâm lý, khả năng nhận thức của ND18T phạm tội.

1.5. Quy định xét xử kín tất cả các vụ án có bị cáo là người dưới 18 tuổi phạm tội

Điều 423 Bộ luật năm 2015 quy định: “Trường hợp đặc biệt cần bảo vệ bị cáo, bị hại là ND18T thì Tòa án có thể quyết định xét xử kín”. Tuy nhiên, theo Điều 25 Bộ luật năm 2015 thì mặc dù Tòa án xét xử kín nhưng vẫn phải tuyên án công khai; đồng thời Điều 327 Bộ luật năm 2015 có quy định “trường hợp xét xử kín thì chỉ đọc phần quyết định trong bản án”. Vấn đề đặt ra là, liệu các thông tin cá nhân ND18T có được giữ bí mật một cách tuyệt đối hay không? Trong khi pháp luật chỉ quy định đơn thuần là tuyên công khai phần quyết định của bản án, mà phần quyết định của bản án lại có đầy đủ họ tên của bị cáo và như vậy, những người tham dự phiên tòa vẫn có thể xác định được danh tính của bị cáo dưới 18 tuổi. Do đó, cần phải có những hướng dẫn cụ thể để bảo đảm lợi ích tốt nhất đối với bị cáo dưới 18 tuổi.

Mặt khác, Bộ luật năm 2015 chưa làm rõ nội hàm “trường hợp đặc biệt”, gây khó khăn cho công tác thực thi pháp luật, chưa bảo đảm tốt nhất quyền và lợi ích của ND18T. Vì vậy, khoản 2 Điều 423 cần bỏ cụm từ “trường hợp đặc biệt” và sửa đổi theo hướng “phiên tòa xét xử bị cáo, bị hại là ND18T được xét xử kín” nhằm bảo đảm và phù hợp với nguyên tắc “bảo đảm giữ bí mật cá nhân của ND18T”.

1.6. Quy định cụ thể về trình tự, thủ tục xét hỏi tại phiên tòa

Quy định của Bộ luật năm 2015 về trình tự, thủ tục xét hỏi tại phiên tòa là chưa phù hợp với chức năng của các bên và Tòa án trong tố tụng hình sự. Để bảo đảm quyền tiếp cận công lý trong xét xử vụ án hình sự mà ở đây là những người chưa đủ 18 tuổi, cần sửa đổi, bổ sung quy định theo hướng tuyệt đối tuân thủ nguyên tắc suy đoán vô tội; lấy xét xử là trung tâm, tranh tụng là đột phá; bảo đảm tố tụng tư pháp dân chủ, công bằng, văn minh, pháp quyền, hiện đại, nghiêm minh, dễ tiếp cận, bảo đảm và bảo vệ quyền con người, quyền công dân nói chung và quyền của ND18T phạm tội nói riêng. Theo đó, Tòa án là người điều khiển các bên, điều khiển quá trình xét hỏi. Việc xét hỏi của các thành viên hội đồng xét xử chỉ mang tính chất bổ sung, hỗ trợ cho các bên khi cần thiết để làm sáng tỏ các tình tiết của vụ án mà vì lý do nào đó các bên không làm rõ được. Có như vậy, hội đồng xét xử, nhất là chủ tọa phiên tòa mới có điều kiện tập trung theo dõi, giám sát quá trình tranh tụng giữa các bên và xem xét, đánh giá các tình tiết cũng như các chứng cứ về vụ án một cách khách quan, toàn diện, đầy đủ. Kết quả tranh tụng tại phiên tòa là căn cứ để ra phán quyết đúng đắn và chính xác về vụ án.

2. Nâng cao năng lực cho đội ngũ người có thẩm quyền tiến hành tố tụng chuyên trách

Hiện nay, mặc dù Bộ luật năm 2015 đã có những quy định về các điều kiện của người THTT đối với ND18T phạm tội, song chúng ta chưa có đội ngũ những người THTT riêng biệt, vẫn chưa có đơn vị, bộ phận chuyên trách và các cán bộ chuyên trách được trang bị kiến thức cần thiết để nắm bắt và hiểu biết về tâm lý học, khoa học giáo dục khi giải quyết các vụ án hình sự có ND18T phạm tội. Đặc biệt, có những trường hợp các thẩm phán khi xét xử đối với ND18T phạm tội cũng áp dụng thủ tục xét xử như đối với người thành niên, “trong cùng một phiên tòa có khi vừa xử vụ án đặc biệt nghiêm trọng đối với người thành niên song lại tiếp tục xét xử đối với ND18T dẫn đến tình trạng thẩm phán đó vẫn dùng nguyên thái độ khi xét xử như đối với người thành niên… đẩy bị cáo là ND18T vào trạng thái sợ hãi, căng thẳng và có cảm giác bị kỳ thị dẫn đến tình trạng tiêu cực từ phí bị cáo”[3]. Do vậy, yêu cầu đặt ra là cần phải có những cán bộ chuyên trách trong tất các các giai đoạn tố tụng từ khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử để nâng cao chất lượng giải quyết vụ án.

Bên cạnh đó, cần tập trung, quan tâm việc đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, kiến thức pháp luật, tâm lý học, phương pháp tiếp cận đối tượng phạm tội là ND18T cho đội ngũ người THTT gồm điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán để giải quyết các vụ án do ND18T phạm tội. Từ đó, thiết lập các đội, phòng, ban chuyên trách giải quyết các vụ án có ND18T phạm tội. Tăng cường công tác tập huấn chuyên môn sâu nâng cao nghiệp vụ, kỹ năng giải quyết các vụ việc theo chủ đề; kỹ năng giải quyết các vụ án hình sự, kỹ năng giải quyết các biện pháp xử lý chuyển hướng…

3. Tiếp tục hoàn thiện và tổ chức triển khai thống nhất thành lập Tòa gia đình và người chưa thành niên

Hiện nay, Tòa án nhân dân tối cao đã thành lập 38 Tòa gia đình và người chưa thành niên tại các Tòa án nhân dân cấp tỉnh[4] để xét xử với mô hình phòng xét xử thân thiện là một phương án có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc. Tuy nhiên, để hoạt động có hiệu quả và đạt được những yêu cầu đề ra thì cần phải tiếp tục hoàn thiện và tổ chức triển khai thành lập mô hình Tòa gia đình và người chưa thành niên rộng khắp trên cả nước. Đồng thời, cần đầu tư cơ sở vật chất - trang thiết bị, kỹ thuật phù hợp phục vụ cho hoạt động tố tụng bảo đảm môi trường tố tụng thân thiện, phù hợp với tâm sinh lý của lứa tuổi và tính cách của ND18T phạm tội.

Thời gian tới, Bộ Công an cần nhanh chóng triển khai phòng điều tra thân thiện rộng khắp. Theo đó, cách sắp xếp, trang trí phòng điều tra khi tiến hành hỏi cung, lấy lời khai đối với ND18T bảo đảm được sự ấm áp, gần gũi; để bảo đảm tính khách quan, tránh các hành vi vi phạm từ phía cơ quan có thẩm quyền THTT, củng cố giá trị nguồn chứng cứ từ hoạt động hỏi cung bị can thì bên trong phòng điều tra thân thiện lắp đặt thiết bị ghi âm, ghi hình có âm thanh theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, phòng này còn trang bị tủ sách thiếu nhi, tủ đồ chơi, tranh ảnh… để giúp bị can ổn định tâm lý, thoải mái trong việc khai báo, cung cấp thông tin.

ThS. Đinh Thị Hải Yến

Khoa Luật, Trường Đại học Kỹ thuật - Hậu cần Công an nhân dân

[1]. Nguyễn Hải Ninh, Pháp luật tố tụng hình sự với việc bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội dưới 18 tuổi, Nghiên cứu lập pháp, http://lapphap.vn/Pages/tintuc/tinchitiet.aspx?tintucid=210301.

[2]. Phạm Minh Tuyên (2021), Bình luận các vướng mắc trong lĩnh vực hình sự và tố tụng hình sự, Nxb. Thanh niên, Hà Nội, tr. 445.

[3]. Phạm Minh Tuyên, Phòng ngừa ND18T phạm tội thông qua hoạt động xét xử của Tòa án - Hạn chế và kiến nghị, https://tapchitoaan.vn/phong-ngua-nguoi-duoi-18-tuoi-pham-toi-thong-qua-hoat-dong-xet-xu-cua-toa-an-han-che-va-kien-nghi.

[4]. Vân Khánh - Mạnh Dũng, Tòa án nhân dân tối cao đã thành lập 38 Tòa gia đình và người chưa thành niên, https://baodansinh.vn/toa-an-nhan-dan-toi-cao-da-thanh-lap-38-toa-gia-dinh-va-nguoi-chua-thanh-nien-20201106093522989.htm.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 382), tháng 6/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Tóm tắt: Pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập là một bộ phận của pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật, có vai trò quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trên cơ sở làm rõ khái niệm, đặc trưng và các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện, nghiên cứu phân tích thực trạng pháp luật hiện hành, chỉ ra những kết quả đạt được và các hạn chế. Từ đó, nghiên cứu đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số cho người cao tuổi

Hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số cho người cao tuổi

Tóm tắt: Chuyển đổi số đặt ra yêu cầu cấp thiết cần đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật, nhất là đối với các nhóm đối tượng đặc thù có năng lực số hạn chế. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số trên cơ sở chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước và yêu cầu của chuyển đổi số; đánh giá thực trạng quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Thông qua trường hợp cảnh báo về “hợp đồng kỳ nghỉ”, nghiên cứu làm rõ những hạn chế trong việc tiếp cận thông tin pháp luật của người cao tuổi trên môi trường số, từ đó, chỉ ra những bất cập của pháp luật hiện hành. Trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các quy định pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số.
Nguyên tắc “6 rõ” trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Nguyên tắc “6 rõ” trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Trong đợt tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật năm 2026 - một nhiệm vụ trọng yếu được triển khai theo Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới - nguyên tắc “6 rõ” đã được xác lập như một chuẩn mực kỹ thuật và quản trị cốt lõi. Nội dung của nguyên tắc này bao gồm: rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền và rõ kết quả.
Nâng cao nhận thức, chung tay đẩy lùi tội phạm mua bán người

Nâng cao nhận thức, chung tay đẩy lùi tội phạm mua bán người

Ngày 30/7 hằng năm được Đại hội đồng Liên hợp quốc chọn là Ngày Thế giới phòng, chống mua bán người (World Day Against Trafficking in Persons) nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng về những hậu quả nghiêm trọng của tội phạm mua bán người, đồng thời kêu gọi các quốc gia tăng cường hợp tác, triển khai các giải pháp phòng ngừa, đấu tranh và bảo vệ nạn nhân.

Theo dõi chúng tôi trên: