Thứ sáu 13/03/2026 17:38
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bảo đảm thực thi phán quyết của Tòa hành chính

Bên cạnh những khó khăn khi giải quyết án hành chính, đặc biệt là án hành chính tại địa phương, thì việc thực thi phán quyết của Tòa Hành chính cũng gặp phải nhiều vướng mắc, ảnh hưởng không nhỏ đến tính nghiêm minh của pháp luật.

Để bảo đảm thực thi phán quyết của Tòa Hành chính thì cần phải giải quyết một số vấn đề như: Cần xác định rõ trong phán quyết của Tòa về định mức thiệt hại gây ra và định mức bồi thường; không được để yếu tố chính trị bị lạm dụng làm chỗ dựa cho trốn tránh trách nhiệm tư pháp hành chính; bảo đảm tính thống nhất, khả thi của văn bản pháp luật; pháp luật cần quy định cụ thể, rõ ràng về thủ tục thực thi phán quyết; việc tổ chức thi hành không chỉ dừng lại ở tự nguyện, đôn đốc mà khi cần thì phải thực hiện cưỡng chế… Bài viết này đưa ra một số yếu tố ảnh hưởng đến sự bảo đảm thực thi phán quyết của Tòa Hành chính và giải pháp nhằm bảo đảm cho việc thi hành án hành chính thống nhất và toàn diện, phán quyết có tính khả thi, bảo đảm được quyền và lợi ích của người thi hành án.

Việc thi hành các bản án, quyết định của Tòa Hành chính về khiếu kiện hành chính là giai đoạn cuối trong quá trình giải quyết vụ án hành chính, cũng là giai đoạn có tính chất quyết định đến việc đưa các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án vào đời sống xã hội. Tuy nhiên, trên thực tế, việc thực thi phán quyết của Tòa Hành chính vẫn còn nhiều vướng mắc, nhiều bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật nhưng chưa được thi hành dẫn đến tình trạng người dân bức xúc, hoài nghi về tính nghiêm minh của pháp luật. Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã chỉ rõ: “Xây dựng cơ chế bảo đảm cho mọi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật phải được thi hành, các cơ quan hành chính vi phạm bị xử lý theo phán quyết của Tòa án phải nghiêm chỉnh chấp hành”.

1. Các yếu tố ảnh hưởng đến thực thi phán quyết của Tòa Hành chính

Trước đây, Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1996 thiếu những quy định cụ thể về cơ chế bảo đảm thi hành bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành chính dẫn đến việc thi hành các bản án, quyết định của Tòa án chưa được bảo đảm. Có nhiều bản án, quyết định không được thi hành hoặc thi hành không đúng đã ảnh hưởng lớn đến quyền và lợi ích hợp pháp của người được thi hành cũng như không bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định trong thực tế. Do vậy, yêu cầu xây dựng cơ chế thi hành các phán quyết của Tòa Hành chính là việc làm hết sức quan trọng bởi việc thi hành các phán quyết của Tòa án khi giải quyết các vụ án hành chính có những điểm đặc thù so với các lĩnh vực tố tụng hình sự, tố tụng dân sự. Luật Tố tụng hành chính năm 2010 đã dành hẳn một chương riêng quy định về “thủ tục thi hành bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành chính” (Chương XVI) đã thiết lập được cơ chế bảo đảm cho mọi bản án, quyết định của Tòa Hành chính có hiệu lực pháp luật phải được thi hành. Mặc dù vậy, công tác thi hành án hành chính thời gian qua vẫn chưa thực sự hiệu quả bởi sự tác động của nhiều yếu tố khác nhau với những vướng mắc cần được tiếp tục giải quyết. Một số yếu tố ảnh hưởng đến sự bảo đảm thực thi phán quyết của Tòa Hành chính có thể kể đến như sau:

Thứ nhất, yếu tố kinh tế. Khi lợi ích kinh tế hợp pháp của cá nhân, tổ chức bị cơ quan hành chính nhà nước hay người có thẩm quyền xâm hại bằng một quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính, lúc này bằng phán quyết đúng pháp luật của Tòa Hành chính được bảo đảm thực thi thì quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức được bảo vệ, bảo đảm. Ngoài ra, nếu quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính gây thiệt hại về vật chất cho cá nhân, tổ chức thì trên cơ sở quy định của pháp luật, theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, Nhà nước xác định trách nhiệm bồi thường cho cá nhân, tổ chức bị thiệt hại về vật chất, tổn thất về tinh thần do lỗi của người thi hành công vụ gây ra trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ được Nhà nước giao. Cơ sở của chế định bồi thường nhà nước chính là dựa trên các quyền của công dân, các quyền này được pháp luật ghi nhận, bảo hộ và được bảo đảm thực hiện bởi Nhà nước. Tuy nhiên, trên thực tế đã rất khó xác định thiệt hại gây ra và định mức bồi thường đúng quy định của pháp luật được thể hiện trong bản án, quyết định có hiệu lực thì việc thực thi phần bản án, quyết định này lại càng khó hơn. Vì vậy, để bảo đảm thực thi phán quyết của Tòa Hành chính thì việc định mức thiệt hại gây ra và định mức bồi thường cần phải được xác định rất rõ ràng ngay trong pháp quyết của Tòa.

Thứ hai, yếu tố chính trị. Bằng hệ thống các thiết chế bảo vệ quyền con người, quyền công dân, quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức, Nhà nước tạo ra môi trường chính trị thuận lợi để các công dân, tổ chức tồn tại và phát triển trong mối quan hệ với toàn bộ hệ thống chính trị đó. Một chế độ chính trị, xã hội đề cao giá trị con người, coi con người là mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội thì mỗi thành viên trong chế độ đó được Nhà nước bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp. Thế nhưng, một cơ quan hành chính nhà nước hay một cá nhân có thẩm quyền nếu là đối tượng phải thi hành án hành chính thì sẽ ảnh hưởng rất lớn không chỉ tới uy tín của cá nhân, của tập thể đó mà còn ảnh hưởng tới tính hiệu lực, hiệu quả của hoạt động quản lý hành chính nhà nước. Do đó, họ thường có tâm lý “né tránh” ngay từ khi bị khởi kiện và nếu thua kiện thì họ thường viện nhiều lý do khách quan nhằm kéo dài thời gian thi hành án hoặc để vụ án bị rơi vào quên lãng. Để bảo đảm thực thi phán quyết của Tòa Hành chính thì các yếu tố chính trị và quyền lực cần phải được “bóc tách” rõ ràng, không thể để chính trị bị lạm dụng làm chỗ dựa cho trốn tránh trách nhiệm tư pháp hành chính.

Thứ ba, các yếu tố pháp lý. Các yếu tố pháp lý có ảnh hưởng lớn tới việc bảo đảm thực thi phán quyết của Tòa Hành chính, các yếu tố đó được thể hiện ở các khía cạnh như:

- Tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của hệ thống pháp luật tố tụng hành chính trong hệ thống pháp luật và tính khả thi của Luật Tố tụng hành chính. Để bảo đảm tính thống nhất chung của hệ thống pháp luật, mỗi văn bản pháp luật được ban hành phải bảo đảm yêu cầu hợp hiến, hợp pháp, đồng thời không mâu thuẫn với các văn bản pháp luật khác có liên quan. Bảo đảm trình tự và thủ tục tố tụng hành chính dân chủ, công khai, đơn giản, công bằng, thuận lợi cho người tham gia tố tụng thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình; đề cao vai trò, trách nhiệm của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong hoạt động tố tụng hành chính, đặc biệt là cá nhân, tổ chức trong việc thực thi nghiêm bản án, quyết định của Tòa đã có hiệu lực pháp luật. Hiện nay, các quy định của pháp luật về thi hành án hành chính nằm rải rác ở các văn bản khác nhau như Luật Tố tụng hành chính năm 2015, Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014), các văn bản hướng dẫn thi hành... Một phán quyết có hiệu lực pháp luật của Tòa án được thực hiện theo các văn bản pháp luật khác nhau và do các chủ thể khác nhau tổ chức thực hiện (cơ quan thi hành án dân sự, Tòa Hành chính, thủ trưởng cơ quan cấp trên của người phải thi hành án) thì người dân khó có thể tiếp cận và tự bảo vệ quyền được thi hành án của mình. Để bảo đảm thực thi phán quyết của Tòa Hành chính thì hành lang pháp lý phải bảo đảm thống nhất, đồng bộ, có hiệu lực cao để “mọi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật phải được thi hành, các cơ quan hành chính vi phạm bị xử lý theo phán quyết của Tòa án phải nghiêm chỉnh chấp hành”.

- Thủ tục thực thi các phán quyết hành chính phải bảo đảm thực hiện quyền con người, quyền công dân được pháp luật quy định. Pháp luật tố tụng hành chính đã quy định cụ thể như: Xác định những bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành chính được thi hành: Bản án, quyết định hoặc phần bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đã có hiệu lực pháp luật; bản án, quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm; quyết định giám đốc thẩm hoặc tái thẩm của Tòa án [1]... Đồng thời, xác định rõ cơ chế tự nguyện thi hành án [2] như: Trong thời hạn tự nguyện thi hành là 30 ngày kể từ ngày nhận được bản án, quyết định của Tòa án, người phải thi hành án phải thi hành ngay bản án, quyết định. Cơ quan phải thi hành bản án, quyết định của Tòa án phải thông báo kết quả thi hành án bằng văn bản cho Tòa án đã xét xử sơ thẩm và cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp. Nếu quá thời hạn này mà người phải thi hành án không thi hành thì người được thi hành án có quyền gửi đơn đến Tòa án đã xét xử sơ thẩm ra quyết định buộc thi hành bản án, quyết định của Tòa án. Đây là một điểm mới so với các quy định về thi hành án tại Luật Tố tụng hành chính năm 2010, theo đó, nếu người phải thi hành án không thi hành án thì người được thi hành án có quyền yêu cầu người phải thi hành án thi hành ngay bản án, quyết định của Tòa án; trường hợp người phải thi hành án không thi hành bản án, quyết định của Tòa án thì trong thời hạn pháp luật quy định thì người được thi hành án có quyền gửi đơn đề nghị cơ quan thi hành án dân sự nơi Tòa án đã xét xử sơ thẩm đôn đốc việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án. Tuy nhiên, có thể thấy, mặc dù Luật Tố tụng hành chính năm 2015 đã có bổ sung quan trọng về cơ chế tự nguyện thi hành án và quyền của người được thi hành án trong trường hợp người phải thi hành án không thi hành án, đó là quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định buộc thi hành án, đồng thời xác định trách nhiệm kiểm tra, đôn đốc và xử lý trách nhiệm của thủ trưởng cơ quan cấp trên trực tiếp đối với người phải thi hành án, nhưng những quy định này mới chỉ dừng lại ở Luật, việc xác định trách nhiệm kiểm tra, đôn đốc, xử lý chưa cụ thể và thời hạn thi hành án kể từ ngày nhận được quyết định buộc thi hành án của Tòa án cũng chưa được xác định.

- Bảo đảm kiểm sát việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Viện kiểm sát thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan đến việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án nhằm bảo đảm việc thi hành bản án, quyết định kịp thời, đầy đủ, đúng pháp luật. Trong trường hợp cần thiết, Viện kiểm sát có quyền kiến nghị với cá nhân, cơ quan, tổ chức có nghĩa vụ thi hành án hành chính và cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức phải chấp hành bản án, quyết định của Tòa án để có biện pháp tổ chức thi hành nghiêm chỉnh bản án, quyết định của Tòa án. Tuy nhiên, trên thực tế, những kiến nghị đó có thể chỉ dừng lại ở việc đôn đốc, nhắc nhở.

- Về việc xử lý vi phạm trong thi hành án hành chính: Trong trường hợp các cơ quan, tổ chức, cá nhân phải thi hành án cố ý không chấp hành bản án, quyết định của Tòa án thì tùy từng trường hợp phải bị xử phạt vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự. Người lợi dụng chức vụ, quyền hạn cố ý cản trở việc thi hành án thì tùy từng trường hợp mà bị xử phạt vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, thực tiễn thi hành án hành chính cho thấy, việc kiểm tra, đôn đốc thi hành của cơ quan thi hành án hay của cơ quan cấp trên đối với cấp dưới đã không mấy hiệu quả, vẫn còn buông lỏng, nể nang. Đồng thời, việc chưa có quy định xác định rõ các hình thức xử lý kỷ luật như cơ quan nào ra quyết định kỷ luật, hình thức, chế tài như thế nào thì vẫn còn chưa được xác định cụ thể gây khó khăn cho thực thi phán quyết của Tòa hành chính.

Thứ tư, những yếu tố về tổ chức thực hiện các phán quyết.

Luật Tố tụng hành chính năm 2010 quy định việc tổ chức thực hiện thực thi phán quyết của Tòa án theo ba cách thức. Một là, người phải thi hành án tự thi hành. Sau khi thi hành án xong, người phải thi hành án phải thông báo bằng văn bản về kết quả thi hành án cho cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp với Tòa án đã xét xử sơ thẩm vụ án đó [3]. Hai là, thi hành án theo thủ tục thi hành án dân sự về phần tài sản trong bản án, quyết định của Tòa án. Ba là, đôn đốc thi hành án hành chính theo đơn đề nghị của người được thi hành án gửi cơ quan thi hành án dân sự nơi Tòa án đã xét xử sơ thẩm. Cơ quan thi hành án dân sự có trách nhiệm đôn đốc người phải thi hành án thi hành án và thông báo bằng văn bản với cấp trên trực tiếp của người phải thi hành án để chỉ đạo việc thi hành án4. Thực tế thực hiện pháp luật tố tụng hành chính thời gian qua cho thấy, với ba cách thức trên đây thì việc bảo đảm thực thi phán quyết của Tòa Hành chính còn nhiều vấn đề nổi cộm và vướng mắc. Mặc dù các cơ chế hiện nay có mục đích nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, cơ quan trước những khả năng có thể bị xâm phạm bởi các quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan công quyền, nhưng công tác thi hành án hành chính chưa được triển khai đầy đủ, tình trạng nhiều bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành chính chưa được thi hành nghiêm túc ngày càng nhiều, trong khi đó số lượng án hành chính vẫn ngày càng tăng. Việc tổ chức thi hành án hành chính hầu như chỉ dừng lại ở việc tự nguyện, đôn đốc chứ chưa mang tính cưỡng chế thi hành. Người phải thi hành án có tự nguyện thi hành hay không thì chưa có hình thức nào để cưỡng chế hay xử lý trách nhiệm.

Thực tế này xuất phát từ nguyên nhân: Do những hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước là những hành vi đơn phương mà cơ quan quản lý nhà nước áp đặt đối với người bị quản lý là các cá nhân, tổ chức - đây vốn là quan hệ quản lý không bình đẳng. Việc người dân đứng ra khởi kiện trước Tòa những hành vi vi phạm hành chính của cơ quan quản lý nhà nước trên thực tế cũng là quan hệ không bình đẳng. Chủ thể bị khởi kiện hành chính là các cơ quan quản lý hành chính nhà nước hoặc người đứng đầu các cơ quan này thường rất khó thừa nhận sai phạm. Mặc khác, do tính chất phức tạp của công tác thi hành án hành chính, đặc biệt khi chính cơ quan quản lý hành chính nhà nước và người đứng đầu đó lại là đối tượng phải thi hành án hành chính thì sự nhận thức về tính nghiêm chỉnh chấp hành bản án, quyết định của Tòa Hành chính có hiệu lực pháp luật hay nhận thức về công tác thi hành án hành chính của các cấp, các ngành còn hạn chế. Chẳng hạn như, ở một số địa phương, các cấp chính quyền chưa thực sự quan tâm chỉ đạo thực hiện công tác này; tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ, công chức cơ quan thi hành án dân sự chưa được kiện toàn, đào tạo và bồi dưỡng kịp thời, cơ sở vật chất, trang thiết bị và phương tiện làm việc chưa được đầu tư tương xứng với nhiệm vụ mới được giao dẫn đến tình trạng nhiều bản án hành chính có hiệu lực không được thi hành, nhất là trong trường hợp chính quyền địa phương không tự nguyện thi hành án; hết thời hạn tự nguyện, theo Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014), cơ quan thi hành án được quyền cưỡng chế (phần tài sản), nhưng cưỡng chế đối với người đứng đầu chính quyền địa phương sẽ gặp rất nhiều áp lực và vô cùng khó khăn.

2. Kiến nghị và đề xuất

Những vướng mắc, bất cập về thi hành án hành chính thời gian qua đã được Luật Tố tụng hành chính năm 2015 sửa đổi, bổ sung những quy định mới nhằm bảo đảm hiệu lực và tính khả thi trong việc thi hành các phán quyết của Tòa Hành chính như về thời hạn tự nguyện thi hành án; Tòa án đã xét xử sơ thẩm ra quyết định buộc thi hành án hành chính theo đơn đề nghị của người được thi hành án; thủ trưởng cơ quan cấp trên trực tiếp của người phải thi hành án có trách nhiệm kiểm tra, đôn đốc, xử lý trách nhiệm của người phải thi hành án. Cơ quan thi hành án dân sự nơi Tòa án đã xét xử sơ thẩm chỉ có trách nhiệm theo dõi việc thi hành án hành chính theo quyết định của Tòa án. Như vậy, có thể thấy, Luật Tố tụng hành chính năm 2015 cũng chưa có quy định cụ thể về thời hạn, trình tự, thủ tục thi hành án; chưa xác định rõ các hình thức xử lý trách nhiệm của cơ quan cấp trên trực tiếp đối với người không thi hành án án, quyết định của Tòa án. Do đó, để bảo đảm cho việc thi hành án hành chính thống nhất và toàn diện, phán quyết của Tòa hành chính có tính khả thi, bảo đảm được quyền và lợi ích của người được thi hành án thì cần một số giải pháp như sau:

Một là, cần sớm có văn bản quy định cụ thể về trình tự, thủ tục thi hành án hành chính và xử lý trách nhiệm đối với người không thi hành bản án, quyết định của Tòa án. Trong đó, xác định rõ trách nhiệm, các hình thức buộc người phải thi hành án thi hành nghiêm bản án, quyết định của Tòa hành chính. Đồng thời, xác định rõ trách nhiệm của cấp trên trực tiếp của người phải thi hành án trong việc chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc cấp dưới thi hành án... Đối với cá nhân người có thẩm quyền phải thi hành án, cần xác định rõ các hình thức xử lý trách nhiệm trong trường hợp cố tình “chây ì”, không tự nguyện thi hành án.

Hai là, cần có các giải pháp đổi mới công tác thi hành án như kiện toàn tổ chức bộ máy và quản lý công tác thi hành án thống nhất trong cả nước, đặc biệt là công tác thi hành án hành chính. Theo quy định hiện hành thì cơ quan thi hành án dân sự thực hiện quản lý nhà nước về thi hành án hành chính, việc thi hành án hành chính về phần tài sản trong bản án, quyết định của Tòa án được thi hành theo pháp luật về thi hành án dân sự; còn các nội dung khác trong bản án, quyết định thì chỉ theo dõi để quản lý. Do đó, phương hướng đổi mới quản lý công tác thi hành án cần xác định rõ vai trò, trách nhiệm của Tòa án trong việc ra quyết định buộc thi hành án như tăng cường vai trò, trách nhiệm của Tòa án trong việc theo dõi, kiểm soát, thống kê, giải thích, đính chính các bản án, quyết định đã được Tòa án ra quyết định thi hành. Đồng thời, thực hiện phân cấp và xác định rõ trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong tổ chức, quản lý công tác thi hành án trên phạm vi địa phương.

Ba là, tiếp tục hoàn thiện hệ thống thể chế về thi hành án hành chính, đặc biệt là xây dựng Luật Thi hành án hành chính nhằm bảo đảm sự thống nhất và toàn diện về mọi mặt từ trình tự, thủ tục, thẩm quyền, trách nhiệm của các cá nhân, cơ quan liên quan trong việc thi hành án hành chính

Dương Thị Tươi

Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh

Tài liệu tham khảo:

[1]. Điều 309 Luật Tố tụng hành chính năm 2015.

[2]. Khoản 2 Điều 311 Luật Tố tụng hành chính năm 2015.

[3]. Điều 243 Luật Tố tụng hành chính năm 2010.

[4]. Điều 244 Luật Tố tụng hành chính năm 2010.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: