Thứ hai 09/03/2026 06:53
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc - Thực tiễn áp dụng và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Nghị định số 13/2016/NĐ-CP ngày 30/10/2016 của Chính phủ đã bổ sung một số điều của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định về chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

1. Đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

Căn cứ tại khoản 1 Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 thì đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn mà vẫn còn nghiện hoặc chưa bị áp dụng biện pháp này, nhưng không có nơi cư trú ổn định.

Nghị định số 13/2016/NĐ-CP ngày 30/10/2016 của Chính phủ đã bổ sung một số điều của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định về chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, đã quy định chi tiết hơn về các đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc[1].

Tuy nhiên, hiện nay, thực tiễn áp dụng tại Tòa án gặp rất nhiều trường hợp là người đã từng bị Tòa án ra quyết định áp dụng biện pháp xử phạt vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc khi vừa mới chấp hành xong bản án của Tòa án quay về địa phương sinh sống tái nghiện nhưng có nơi cư trú ổn định có thuộc đối tượng áp dụng hay không? Hiện nay có các quan điểm như sau:

Quan điểm thứ nhất: Trường hợp này không thuộc đối tượng áp dụng biện pháp xử phạt vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc bởi vì đương sự có nơi cư trú ổn định. Do đó, cần ra quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma túy nhằm giảm tải áp lực cho các trung tâm cai nghiện.

Quan điểm thứ hai: Tòa án áp dụng biện pháp xử phạt vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Mặc dù đương sự có nơi cư trú ổn định nhưng do đương sự này đã từng bị Tòa án áp dụng 01 lần đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nhưng vẫn tái nghiện nên cần đưa vào cơ sở cai nghiện để nâng cao hiệu quả cai nghiện.

Tác giả đồng ý với quan điểm thứ hai, trong trường hợp này là ra quyết định áp dụng biện pháp xử phạt vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với đương sự, bởi vì, mặc dù luật không quy định cụ thể nhưng chúng ta có thể thấy quy định tại khoản 1 Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 30/10/ 2016. Có thể so sánh hiệu quả giữa áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma túy và áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc chắc chắn thấy rằng nếu như cai nghiện tại cơ sở vẫn không chấm dứt hành vi nghiện ma túy thì nay áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn sẽ không hiệu quả. Do đó, tác giả đồng ý trong trường hợp này cần đưa đối tượng vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Theo tác giả thì Tòa án nhân dân tối cao nên ban hành văn bản hướng dẫn khoản 1 Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 theo hướng đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc đã bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc mà vẫn còn nghiện hoặc chưa bị áp dụng biện pháp này nhưng không có nơi cư trú ổn định.

2. Thẩm quyền quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân

Về thẩm quyền đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Điều 3 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân, theo đó: “Tòa án có thẩm quyền xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính là Tòa án nhân dân cấp huyện nơi cơ quan đề nghị có trụ sở”. Tuy nhiên, thực tiễn phát sinh nhiều vấn đề cần được hướng dẫn cụ thể như sau: Hiện nay các cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc thường nằm cách rất xa trụ sở Tòa án trước khi chuyển hồ sơ đến Tòa án có nhiều trường hợp nghiện ma túy nặng (ngáo đá) phải đưa vào cơ sở nghiện ma túy bắt buộc trước để cắt cơn giải độc, sau đó cơ quan lập hồ sơ và cơ quan đề nghị mới chuyển toàn bộ hồ sơ cho Tòa án xem xét, thông thường thời gian rất ngắn từ khi thụ lý đến khi Tòa án ra quyết định áp dụng có 15 ngày trong khi đó khoảng cách về địa lý rất xa trụ sở Tòa án (có nơi hàng trăm km) và Tòa án phải tống đạt nhiều văn bản (thông báo thụ lý hồ sơ, thông báo mở phiên họp vv…) cho đương sự dẫn đến rất khó khăn cho Tòa án. Hiện nay, Tòa án phải vào tận trụ sở cơ sở cai nghiện bắt buộc để mở phiên họp dẫn tới tình trạng rất khó khăn và dễ vi phạm về mặt thời gian và thẩm quyền xét xử của Tòa án.

Theo chúng tôi, Tòa án nhân dân Tối cao nên ban hành văn bản hướng dẫn theo hướng cần trích xuất đương sự nghiện ma túy về trụ sở Tòa án để mở phiên họp áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc như vậy sẽ đảm bảo thẩm quyền xét xử của Tòa án và sẽ giải quyết được nhanh chóng hạn chế tối đa kinh phí cho Tòa án và đảm bảo đúng quy định pháp luật.

3. Kiểm sát viên tham gia phiên họp

Theo điểm g khoản 2 Điều 20 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội thì “kiểm sát viên tham gia phiên họp phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính”. Tuy nhiên, theo quan điểm của chúng tôi để thống nhất và tương thích với các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Luật Tố tụng hành chính năm 2015 cụ thể: Điều 262 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định về phát biểu của kiểm sát viên “sau khi những người tham gia tố tụng phát biểu tranh luận và đối đáp xong, kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của thẩm phán, hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án.

Ngay sau khi kết thúc phiên tòa, kiểm sát viên phải gửi văn bản phát biểu ý kiến cho Tòa án để lưu vào hồ sơ vụ án”.

Điều 190 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 quy định về phát biểu của kiểm sát viên: “Sau khi những người tham gia tố tụng tranh luận và đối đáp xong, kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của thẩm phán, hội thẩm nhân dân, thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án.

Ngay sau khi kết thúc phiên tòa, kiểm sát viên phải gửi văn bản phát biểu ý kiến cho Tòa án để lưu vào hồ sơ vụ án”.

Do đó, khi kiểm sát viên tham gia phiên tòa và phiên họp không chỉ phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật mà còn phát biểu ý kiến về mặt nội dung giải quyết vụ việc. Việc phát biểu ý kiến của kiểm sát viên về nội dung áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là điều cần thiết sẽ giúp Tòa án hiểu rõ vấn đề để tìm ra chân lý khi giải quyết vụ việc, quy định cho phép kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án là hoàn toàn phù hợp. Ngoài ra, việc quy định như trên sẽ thống nhất với nội dung trách nhiệm và quyền hạn của kiểm sát viên trong Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 và Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014.

Phát biểu của kiểm sát viên cũng chỉ mang tính chất tham khảo để giúp thẩm phán có sự phân tích, đánh giá đầy đủ hơn về vấn đề. Từ đó, Tòa án chỉ giải quyết căn cứ theo pháp luật còn các chủ thể khác sẽ kiểm tra, giám sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án.

Ngoài ra, để đảm bảo nhanh chóng, khách quan công khai minh bạch cần quy định thêm vào Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về trách nhiệm cho kiểm sát viên đó là ngay sau khi kết thúc phiên họp, kiểm sát viên phải gửi văn bản phát biểu ý kiến cho Tòa án để lưu vào hồ sơ áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Một vấn đề khác đó là: Theo quy định tại khoản 1 Điều 19 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khi tham gia phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính: “Người tham gia phiên họp quy định tại khoản 2 Điều 17 của Pháp lệnh này phải có mặt tại phiên họp; trường hợp đại diện cơ quan đề nghị, kiểm sát viên vắng mặt thì phải hoãn phiên họp”. Pháp luật đã quy định cho cơ quan Viện kiểm sát và kiểm sát viên chức năng kiểm sát. Do đó, chủ thể này phải có trách nhiệm thực hiện đầy đủ chức năng nhiệm vụ được giao theo đúng quy định pháp luật nếu không thực hiện đúng thì phải chịu trách nhiệm trước pháp luật. Điều đó có nghĩa là không thể vì bất kỳ lý do gì mà sự vắng mặt của kiểm sát viên có thể là làm trì hoãn việc xem xét áp dụng biện pháp xử phạt hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Do đó, việc quy định kiểm sát viên vắng mặt thì phải hoãn phiên họp là điều không cần thiết nhằm đảm bảo cho việc giải quyết việc xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc được nhanh chóng kịp thời, đề cao trách nhiệm của kiểm sát viên, Viện kiểm sát.

Một số kiến nghị:

Thứ nhất, Tòa án nhân dân tối cao nên ban hành văn bản hướng dẫn điểm g khoản 2 Điều 20 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội theo hướng kiểm sát viên tham gia phiên họp phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật và nội dung trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính.

Ngay sau khi kết thúc phiên họp, kiểm sát viên phải gửi văn bản phát biểu ý kiến cho Tòa án để lưu vào hồ sơ áp dụng biện pháp xử phạt hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Thứ hai, Tòa án nhân dân tối cao nên ban hành văn bản hướng dẫn khoản 1 Điều 19 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội theo hướng khi kiểm sát viên vắng mặt tại phiên họp áp dụng biện pháp xử phạt hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộcthì òa án vẫn tiến hành phiên họp.

4. Việc xác định người nghiện không có nơi cư trú ổn định

Theo Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên, không có nơi cư trú ổn định là đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Căn cứ vào khoản 1 Điều 2 Nghị định số 221/2013 của Chính phủ ngày 30/12/2013 quy định chế độ áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thì nơi cư trú ổn định là nơi người vi phạm thường trú hoặc tạm trú nhưng phải là nơi người đó hiện thường xuyên sinh sống.

Theo quy định tại Điều 12 của Luật Cư trú năm 2006 thì nơi cư trú của công dân được xác định như sau:

(i) Nơi cư trú của công dân là chỗ ở hợp pháp mà người đó thường xuyên sinh sống. Nơi cư trú của công dân là nơi thường trú hoặc nơi tạm trú.

Chỗ ở hợp pháp là nhà ở, phương tiện hoặc nhà khác mà công dân sử dụng để cư trú. Chỗ ở hợp pháp có thể thuộc quyền sở hữu của công dân hoặc được cơ quan, tổ chức, cá nhân cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ theo quy định của pháp luật.

Nơi thường trú là nơi công dân sinh sống thường xuyên, ổn định, không có thời hạn tại một chỗ ở nhất định và đã đăng ký thường trú.

Nơi tạm trú là nơi công dân sinh sống ngoài nơi đăng ký thường trú và đã đăng ký tạm trú.

(ii) Trường hợp không xác định được nơi cư trú của công dân theo quy định tại khoản 1 Điều này thì nơi cư trú của công dân là nơi người đó đang sinh sống.

Còn theo quy định Điều 40 của Bộ luật Dân sự năm 2015 về nơi cư trú của cá nhân thì:

- Nơi cư trú của cá nhân là nơi người đó thường xuyên sinh sống.

- Trường hợp không xác định được nơi cư trú của cá nhân theo quy định tại khoản 1 Điều này thì nơi cư trú của cá nhân là nơi người đó đang sinh sống.

- Trường hợp một bên trong quan hệ dân sự thay đổi nơi cư trú gắn với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ thì phải thông báo cho bên kia biết về nơi cư trú mới.

Theo quy định tại khoản 5 Điều 1 của Nghị định số 56/2016/NĐ-CP ngày 29/6/2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 111/2013/NĐ-CP ngày 30/09/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã phường, thị trấn quy định: “Nơi cư trú ổn định là nơi đối tượng thường trú hoặc tạm trú, nhưng phải là nơi người đó hiện đang thường xuyên sinh sống hoặc phần lớn thời gian sinh sống.

Không có nơi cư trú ổn định là trường hợp không xác định được nơi đăng ký thường trú hoặc nơi đăng ký tạm trú của người vi phạm và người đó thường xuyên đi lang thang, không ở một nơi cố định hoặc trường hợp xác định được nơi đăng ký thường trú hoặc nơi đăng ký tạm trú của người vi phạm nhưng người đó thường xuyên đi lang thang, không ở một nơi cố định”.

Vấn đề là hiện nay chưa có tiêu chí cụ thể xác định như thế nào là “thường xuyên sinh sống” dẫn đến cách hiểu, áp dụng khác nhau ở nhiều địa phương hoặc nhiều trường hợp khi xác minh, địa phương trả lời chung chung, mâu thuẫn, gây khó khăn trong công tác lập hồ sơ.

Theo tác giả, Tòa án nhân dân tối cao nên nghiên cứu, ban hành văn bản hướng dẫn xác định rõ như thế nào là không có nơi cư trú ổn định để thống nhất trong thực tiễn áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc./.

ThS. Lý Văn Toán

Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang

Lâm Thị Minh Hiếu

Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang


[1]Khoản 1 Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 30/10/2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.
Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Trong hành trình chăm sóc sức khỏe người dân, có một mắt xích âm thầm nhưng vô cùng quan trọng: bảo quản thuốc. Chất lượng của từng viên thuốc, từng lọ vaccine hay mỗi loại dược liệu đều phụ thuộc tuyệt đối vào môi trường chúng được gìn giữ. Chỉ một biến động nhỏ về nhiệt độ, độ ẩm hay ánh sáng cũng đủ ảnh hưởng đến hiệu lực điều trị và an toàn của sản phẩm.
EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

Năng lượng không chỉ là “đầu vào” của sản xuất, mà còn là hạ tầng nền tảng quan trọng quyết định sức cạnh tranh quốc gia, chất lượng sống của người dân và năng lực tự chủ của nền kinh tế đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng cao, biến động nguồn cung nhiên liệu toàn cầu, áp lực chuyển dịch xanh và yêu cầu vận hành hệ thống an toàn, minh bạch, đặt ra bài toán lớn đối với ngành điện: vừa phải bảo đảm đủ điện cho phát triển nhanh và bền vững, vừa phải thiết kế lại cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư, phát triển thị trường và tăng năng lực quản trị.
Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

An toàn thực phẩm tại bếp ăn trường học luôn là nỗi trăn trở của các bậc phụ huynh và nhà quản lý giáo dục. Trước bài toán này, thay vì quản lý bằng giấy tờ, Công ty TNHH Hương Việt Sinh đã có bước đi tiên phong, xây dựng hệ sinh thái số, thiết lập tiêu chuẩn mới về sự minh bạch và an toàn trong lĩnh vực cung cấp suất ăn bán trú.
Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Trong giai đoạn đất nước chuyển mình mạnh mẽ, mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045 đặt ra yêu cầu ngày càng lớn đối với hệ thống năng lượng, đặc biệt là điện lực. Việc bảo đảm đủ điện cho sản xuất, kinh doanh và đời sống của Nhân dân không chỉ là nhiệm vụ kinh tế mà còn là vấn đề an ninh quốc gia. Trong bối cảnh đó, công tác điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050 (QHĐ VIII) nhận được sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ, các bộ ngành và cộng đồng doanh nghiệp.
LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước (Nghị quyết số 79-NQ/TW) được ban hành không chỉ khẳng định vai trò chủ đạo, dẫn dắt của doanh nghiệp nhà nước, mà còn đặt ra yêu cầu cao hơn về hiệu quả, năng lực cạnh tranh và khả năng làm chủ công nghệ. Trong dòng chảy đó, Tổng công ty Lắp máy Việt Nam - LILAMA đang cho thấy những nỗ lực rõ nét nhằm bứt phá, tái định vị từ một doanh nghiệp lắp máy truyền thống thành lực lượng tiên phong trong chế tạo, tổng thầu và làm chủ công nghệ công nghiệp - năng lượng.

Theo dõi chúng tôi trên: