Thứ tư 22/04/2026 15:50
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc - Thực tiễn áp dụng và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Nghị định số 13/2016/NĐ-CP ngày 30/10/2016 của Chính phủ đã bổ sung một số điều của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định về chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

1. Đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

Căn cứ tại khoản 1 Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 thì đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn mà vẫn còn nghiện hoặc chưa bị áp dụng biện pháp này, nhưng không có nơi cư trú ổn định.

Nghị định số 13/2016/NĐ-CP ngày 30/10/2016 của Chính phủ đã bổ sung một số điều của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định về chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, đã quy định chi tiết hơn về các đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc[1].

Tuy nhiên, hiện nay, thực tiễn áp dụng tại Tòa án gặp rất nhiều trường hợp là người đã từng bị Tòa án ra quyết định áp dụng biện pháp xử phạt vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc khi vừa mới chấp hành xong bản án của Tòa án quay về địa phương sinh sống tái nghiện nhưng có nơi cư trú ổn định có thuộc đối tượng áp dụng hay không? Hiện nay có các quan điểm như sau:

Quan điểm thứ nhất: Trường hợp này không thuộc đối tượng áp dụng biện pháp xử phạt vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc bởi vì đương sự có nơi cư trú ổn định. Do đó, cần ra quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma túy nhằm giảm tải áp lực cho các trung tâm cai nghiện.

Quan điểm thứ hai: Tòa án áp dụng biện pháp xử phạt vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Mặc dù đương sự có nơi cư trú ổn định nhưng do đương sự này đã từng bị Tòa án áp dụng 01 lần đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nhưng vẫn tái nghiện nên cần đưa vào cơ sở cai nghiện để nâng cao hiệu quả cai nghiện.

Tác giả đồng ý với quan điểm thứ hai, trong trường hợp này là ra quyết định áp dụng biện pháp xử phạt vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với đương sự, bởi vì, mặc dù luật không quy định cụ thể nhưng chúng ta có thể thấy quy định tại khoản 1 Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 30/10/ 2016. Có thể so sánh hiệu quả giữa áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma túy và áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc chắc chắn thấy rằng nếu như cai nghiện tại cơ sở vẫn không chấm dứt hành vi nghiện ma túy thì nay áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn sẽ không hiệu quả. Do đó, tác giả đồng ý trong trường hợp này cần đưa đối tượng vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Theo tác giả thì Tòa án nhân dân tối cao nên ban hành văn bản hướng dẫn khoản 1 Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 theo hướng đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc đã bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc mà vẫn còn nghiện hoặc chưa bị áp dụng biện pháp này nhưng không có nơi cư trú ổn định.

2. Thẩm quyền quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân

Về thẩm quyền đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Điều 3 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân, theo đó: “Tòa án có thẩm quyền xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính là Tòa án nhân dân cấp huyện nơi cơ quan đề nghị có trụ sở”. Tuy nhiên, thực tiễn phát sinh nhiều vấn đề cần được hướng dẫn cụ thể như sau: Hiện nay các cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc thường nằm cách rất xa trụ sở Tòa án trước khi chuyển hồ sơ đến Tòa án có nhiều trường hợp nghiện ma túy nặng (ngáo đá) phải đưa vào cơ sở nghiện ma túy bắt buộc trước để cắt cơn giải độc, sau đó cơ quan lập hồ sơ và cơ quan đề nghị mới chuyển toàn bộ hồ sơ cho Tòa án xem xét, thông thường thời gian rất ngắn từ khi thụ lý đến khi Tòa án ra quyết định áp dụng có 15 ngày trong khi đó khoảng cách về địa lý rất xa trụ sở Tòa án (có nơi hàng trăm km) và Tòa án phải tống đạt nhiều văn bản (thông báo thụ lý hồ sơ, thông báo mở phiên họp vv…) cho đương sự dẫn đến rất khó khăn cho Tòa án. Hiện nay, Tòa án phải vào tận trụ sở cơ sở cai nghiện bắt buộc để mở phiên họp dẫn tới tình trạng rất khó khăn và dễ vi phạm về mặt thời gian và thẩm quyền xét xử của Tòa án.

Theo chúng tôi, Tòa án nhân dân Tối cao nên ban hành văn bản hướng dẫn theo hướng cần trích xuất đương sự nghiện ma túy về trụ sở Tòa án để mở phiên họp áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc như vậy sẽ đảm bảo thẩm quyền xét xử của Tòa án và sẽ giải quyết được nhanh chóng hạn chế tối đa kinh phí cho Tòa án và đảm bảo đúng quy định pháp luật.

3. Kiểm sát viên tham gia phiên họp

Theo điểm g khoản 2 Điều 20 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội thì “kiểm sát viên tham gia phiên họp phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính”. Tuy nhiên, theo quan điểm của chúng tôi để thống nhất và tương thích với các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Luật Tố tụng hành chính năm 2015 cụ thể: Điều 262 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định về phát biểu của kiểm sát viên “sau khi những người tham gia tố tụng phát biểu tranh luận và đối đáp xong, kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của thẩm phán, hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án.

Ngay sau khi kết thúc phiên tòa, kiểm sát viên phải gửi văn bản phát biểu ý kiến cho Tòa án để lưu vào hồ sơ vụ án”.

Điều 190 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 quy định về phát biểu của kiểm sát viên: “Sau khi những người tham gia tố tụng tranh luận và đối đáp xong, kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của thẩm phán, hội thẩm nhân dân, thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án.

Ngay sau khi kết thúc phiên tòa, kiểm sát viên phải gửi văn bản phát biểu ý kiến cho Tòa án để lưu vào hồ sơ vụ án”.

Do đó, khi kiểm sát viên tham gia phiên tòa và phiên họp không chỉ phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật mà còn phát biểu ý kiến về mặt nội dung giải quyết vụ việc. Việc phát biểu ý kiến của kiểm sát viên về nội dung áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là điều cần thiết sẽ giúp Tòa án hiểu rõ vấn đề để tìm ra chân lý khi giải quyết vụ việc, quy định cho phép kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án là hoàn toàn phù hợp. Ngoài ra, việc quy định như trên sẽ thống nhất với nội dung trách nhiệm và quyền hạn của kiểm sát viên trong Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 và Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014.

Phát biểu của kiểm sát viên cũng chỉ mang tính chất tham khảo để giúp thẩm phán có sự phân tích, đánh giá đầy đủ hơn về vấn đề. Từ đó, Tòa án chỉ giải quyết căn cứ theo pháp luật còn các chủ thể khác sẽ kiểm tra, giám sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án.

Ngoài ra, để đảm bảo nhanh chóng, khách quan công khai minh bạch cần quy định thêm vào Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về trách nhiệm cho kiểm sát viên đó là ngay sau khi kết thúc phiên họp, kiểm sát viên phải gửi văn bản phát biểu ý kiến cho Tòa án để lưu vào hồ sơ áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Một vấn đề khác đó là: Theo quy định tại khoản 1 Điều 19 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khi tham gia phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính: “Người tham gia phiên họp quy định tại khoản 2 Điều 17 của Pháp lệnh này phải có mặt tại phiên họp; trường hợp đại diện cơ quan đề nghị, kiểm sát viên vắng mặt thì phải hoãn phiên họp”. Pháp luật đã quy định cho cơ quan Viện kiểm sát và kiểm sát viên chức năng kiểm sát. Do đó, chủ thể này phải có trách nhiệm thực hiện đầy đủ chức năng nhiệm vụ được giao theo đúng quy định pháp luật nếu không thực hiện đúng thì phải chịu trách nhiệm trước pháp luật. Điều đó có nghĩa là không thể vì bất kỳ lý do gì mà sự vắng mặt của kiểm sát viên có thể là làm trì hoãn việc xem xét áp dụng biện pháp xử phạt hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Do đó, việc quy định kiểm sát viên vắng mặt thì phải hoãn phiên họp là điều không cần thiết nhằm đảm bảo cho việc giải quyết việc xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc được nhanh chóng kịp thời, đề cao trách nhiệm của kiểm sát viên, Viện kiểm sát.

Một số kiến nghị:

Thứ nhất, Tòa án nhân dân tối cao nên ban hành văn bản hướng dẫn điểm g khoản 2 Điều 20 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội theo hướng kiểm sát viên tham gia phiên họp phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật và nội dung trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính.

Ngay sau khi kết thúc phiên họp, kiểm sát viên phải gửi văn bản phát biểu ý kiến cho Tòa án để lưu vào hồ sơ áp dụng biện pháp xử phạt hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Thứ hai, Tòa án nhân dân tối cao nên ban hành văn bản hướng dẫn khoản 1 Điều 19 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội theo hướng khi kiểm sát viên vắng mặt tại phiên họp áp dụng biện pháp xử phạt hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộcthì òa án vẫn tiến hành phiên họp.

4. Việc xác định người nghiện không có nơi cư trú ổn định

Theo Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên, không có nơi cư trú ổn định là đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Căn cứ vào khoản 1 Điều 2 Nghị định số 221/2013 của Chính phủ ngày 30/12/2013 quy định chế độ áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thì nơi cư trú ổn định là nơi người vi phạm thường trú hoặc tạm trú nhưng phải là nơi người đó hiện thường xuyên sinh sống.

Theo quy định tại Điều 12 của Luật Cư trú năm 2006 thì nơi cư trú của công dân được xác định như sau:

(i) Nơi cư trú của công dân là chỗ ở hợp pháp mà người đó thường xuyên sinh sống. Nơi cư trú của công dân là nơi thường trú hoặc nơi tạm trú.

Chỗ ở hợp pháp là nhà ở, phương tiện hoặc nhà khác mà công dân sử dụng để cư trú. Chỗ ở hợp pháp có thể thuộc quyền sở hữu của công dân hoặc được cơ quan, tổ chức, cá nhân cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ theo quy định của pháp luật.

Nơi thường trú là nơi công dân sinh sống thường xuyên, ổn định, không có thời hạn tại một chỗ ở nhất định và đã đăng ký thường trú.

Nơi tạm trú là nơi công dân sinh sống ngoài nơi đăng ký thường trú và đã đăng ký tạm trú.

(ii) Trường hợp không xác định được nơi cư trú của công dân theo quy định tại khoản 1 Điều này thì nơi cư trú của công dân là nơi người đó đang sinh sống.

Còn theo quy định Điều 40 của Bộ luật Dân sự năm 2015 về nơi cư trú của cá nhân thì:

- Nơi cư trú của cá nhân là nơi người đó thường xuyên sinh sống.

- Trường hợp không xác định được nơi cư trú của cá nhân theo quy định tại khoản 1 Điều này thì nơi cư trú của cá nhân là nơi người đó đang sinh sống.

- Trường hợp một bên trong quan hệ dân sự thay đổi nơi cư trú gắn với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ thì phải thông báo cho bên kia biết về nơi cư trú mới.

Theo quy định tại khoản 5 Điều 1 của Nghị định số 56/2016/NĐ-CP ngày 29/6/2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 111/2013/NĐ-CP ngày 30/09/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã phường, thị trấn quy định: “Nơi cư trú ổn định là nơi đối tượng thường trú hoặc tạm trú, nhưng phải là nơi người đó hiện đang thường xuyên sinh sống hoặc phần lớn thời gian sinh sống.

Không có nơi cư trú ổn định là trường hợp không xác định được nơi đăng ký thường trú hoặc nơi đăng ký tạm trú của người vi phạm và người đó thường xuyên đi lang thang, không ở một nơi cố định hoặc trường hợp xác định được nơi đăng ký thường trú hoặc nơi đăng ký tạm trú của người vi phạm nhưng người đó thường xuyên đi lang thang, không ở một nơi cố định”.

Vấn đề là hiện nay chưa có tiêu chí cụ thể xác định như thế nào là “thường xuyên sinh sống” dẫn đến cách hiểu, áp dụng khác nhau ở nhiều địa phương hoặc nhiều trường hợp khi xác minh, địa phương trả lời chung chung, mâu thuẫn, gây khó khăn trong công tác lập hồ sơ.

Theo tác giả, Tòa án nhân dân tối cao nên nghiên cứu, ban hành văn bản hướng dẫn xác định rõ như thế nào là không có nơi cư trú ổn định để thống nhất trong thực tiễn áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc./.

ThS. Lý Văn Toán

Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang

Lâm Thị Minh Hiếu

Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang


[1]Khoản 1 Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 30/10/2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.

Theo dõi chúng tôi trên: