Thứ hai 24/08/2026 11:13
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Các biện pháp hạn chế nguy cơ trở thành nạn nhân của tội chống người thi hành công vụ

Tội chống người thi hành công vụ ở nước ta trong những năm gần đây đã gây ra nhiều hậu quả xấu đối với các nạn nhân của tội phạm này và toàn xã hội. Tội chống người thi hành công vụ là loại tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính, xâm phạm đến hoạt động bình thường của cơ quan nhà nước và tổ chức xã hội trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước thông qua việc tác động trực tiếp đến người thi hành công vụ đang thực hiện công vụ được giao.

Tội chống người thi hành công vụ ở nước ta trong những năm gần đây đã gây ra nhiều hậu quả xấu đối với các nạn nhân của tội phạm này và toàn xã hội. Tội chống người thi hành công vụ là loại tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính, xâm phạm đến hoạt động bình thường của cơ quan nhà nước và tổ chức xã hội trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước thông qua việc tác động trực tiếp đến người thi hành công vụ đang thực hiện công vụ được giao.

Khi nghiên cứu về tội chống người thi hành công vụ, vấn đề có tính đặc thù của tội phạm này mà người nghiên cứu cần phân tích, làm rõ là vấn đề nạn nhân của tội chống người thi hành công vụ. Nạn nhân của tội chống người thi hành công vụ là người thi hành công vụ, tức là họ có thẩm quyền thực hiện công vụ nhất định và họ đã thực sự thực hiện công vụ đó - tiến hành các hoạt động quản lý nhà nước đúng pháp luật. Nạn nhân của tội chống người thi hành công vụ với những đặc điểm đặc biệt mà khi phân tích cụ thể, toàn diện các đặc điểm này có thể cho phép chúng ta đánh giá khách quan về tính nguy hiểm của tội chống người thi hành công vụ, xác định được các yếu tố góp phần vào việc làm phát sinh tội chống người thi hành công vụ cũng như xác định một số biện pháp cần thiết để phòng ngừa có hiệu quả đối với tội chống người thi hành công vụ ở Việt Nam hiện nay. Nạn nhân của tội chống người thi hành công vụ có nhiều đặc điểm khác nhau, nhưng trong bài này, chúng tôi chỉ tập trung đi sâu phân tích những đặc điểm "nổi bật" của nạn nhân của tội chống người thi hành công vụ - những đặc điểm liên quan đến các yếu tố làm hình thành nguyên nhân của tội chống người thi hành công vụ cũng như có ý nghĩa đối với việc xác định các biện pháp cần thiết để phòng ngừa tội chống người thi hành công vụ.

1. Các đặc điểm về nạn nhân của tội chống người thi hành công vụ ở Việt Nam

Để nghiên cứu các đặc điểm về nạn nhân của tội chống người thi hành công vụ, tác giả đã sử dụng phương pháp thống kê các bản án đã xét xử về tội chống người thi hành công vụ (số lượng bản án thống kê là 100 bản án đã xét xử từ năm 2005 đến 2015) hoặc qua phân tích số liệu của các cơ quan có thẩm quyền cung cấp.

Trong số 100 vụ án về tội chống người thi hành công vụ mà tác giả nghiên cứu, tác giả thống kê được có 187 nạn nhân. Như vậy, trung bình có 1,87 nạn nhân trên một bản án, nghĩa là cứ một bản án xét xử về tội chống người thi hành công vụ thì có tới gần 2 nạn nhân. Con số này đã phần nào thể hiện thái độ coi thường sức khỏe, tính mạng của những người phạm tội đối với lực lượng thi hành công vụ.

Thứ nhất, đặc điểm về nhân thân của nạn nhân

(i) Về giới tính của nạn nhân: Qua thống kê 100 bản án chống người thi hành công vụ có 187 nạn nhân thì số nạn nhân là nam chiếm tỷ lệ khá cao có 185 nạn nhân/187 nạn nhân (chiếm tỉ lệ 98,9%); chỉ có 2 nạn nhân là nữ giới (chiếm tỉ lệ 1,1%). Sở dĩ có thực tế trên là bởi lẽ chủ thể của công vụ có thể là người có thẩm quyền ban hành các quyết định cá biệt (ban hành văn bản áp dụng quy phạm pháp luật), là người có thẩm quyền thi hành các quyết định cá biệt đó hoặc là người có thẩm quyền tiến hành các hoạt động khác mang tính chất pháp lý mà không cần ban hành văn bản áp dụng quy phạm pháp luật(1). Tuy nhiên, trên thực tế, người ban hành các quyết định cá biệt rất ít khi bị chống lại; bởi vì, quyết định cá biệt được ban hành nhưng chưa thi hành thì chưa tác động đến lợi ích của người phạm tội. Do đó, nạn nhân của tội chống người thi hành công vụ đa phần là người thi hành các quyết định cá biệt hoặc người tiến hành các hoạt động khác mang tính chất pháp lý mà không cần ban hành văn bản áp dụng quy phạm pháp luật (như kiểm tra giấy phép lái xe, kiểm tra việc đăng ký tạm trú…) - những người trực tiếp tác động đến lợi ích của người phạm tội. Trong khi đó, việc thi hành các quyết định cá biệt hoặc tiến hành các hoạt động mang tính chất pháp lý mà không cần ban hành văn bản quy phạm pháp luật chủ yếu do người thi hành công vụ là nam giới thực hiện. Mặt khác, cách cư xử của người thi hành công vụ là nữ giới thường nhẹ nhàng, mềm mỏng hơn nam giới. Do đó, họ ít khi bị chống lại hơn nam giới.

(ii) Về nghề nghiệp của nạn nhân: Qua thống kê 100 vụ chống người thi hành công vụ thì có 76 vụ (chiếm tỉ lệ 76%) là chống lại lực lượng Công an; có 24 vụ (chiếm tỉ lệ 24%) là chống lại các lực lượng đang thi hành công vụ khác. Như vậy, có thể thấy, lực lượng Công an là đối tượng bị người phạm tội chống người thi hành công vụ chống đối lại nhiều nhất. Sở dĩ Công an là lực lượng bị chống đối lại nhiều nhất; bởi vì, Công an là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội. Để thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao, lực lượng Công an phải trực tiếp đấu tranh với các loại tội phạm và các vi phạm pháp luật về an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội. Phạm vi hoạt động của Công an nhân dân rất rộng, liên quan đến nhiều lĩnh vực và trực tiếp giải quyết những việc liên quan đến quyền và lợi ích của người dân.

Trong 76 vụ chống lại lực lượng Công an thống kê được có: Chống lại Công an xã có 26 vụ (chiếm tỉ lệ 26 %); chống lại Công an phường có 25 vụ (chiếm tỉ lệ 25%); chống lại Công an huyện có 3 vụ (chiếm tỉ lệ 3%); chống lại Cảnh sát giao thông, Cảnh sát cơ động có 18 vụ (chiếm tỉ lệ 18%); chống lại Cảnh sát điều tra, Công an thành phố có 4 vụ (chiếm tỉ lệ 4%). Nhìn vào số liệu trên chúng ta thấy rằng, các đối tượng chống lại lực lượng Công an xã, phường chiếm một tỷ lệ khá lớn (chống lại Công an xã 26 vụ và Công an phường 25 vụ), bởi họ là những người thường xuyên tiếp xúc với dân, xử lý những hành vi vi phạm pháp luật của một bộ phận nhân dân, ảnh hưởng đến quyền lợi của một số ít người nên đã tạo tâm lý không thiện cảm của số ít người. Hơn nữa, kiến thức về nghiệp vụ, trang bị công cụ hỗ trợ còn thiếu và chưa đồng bộ nên thường bị các đối tượng có hành vi vi phạm tấn công, chống đối gây cản trở. Bên cạnh đó, việc chống lại lực lượng Cảnh sát giao thông và Cảnh sát cơ động cũng chiếm một tỷ lệ không nhỏ 18% (18 vụ/100 vụ). Các đối tượng khi bị Cảnh sát giao thông xử lý lỗi vi phạm thường không tuân theo mà còn chửi bới, mạt sát, kích động thậm chí còn tấn công gây thương tích cho lực lượng Cảnh sát.

Trong 24 vụ chống lại lực lượng thi hành công vụ khác tác giả thống kê được: Chống lại đoàn cưỡng chế thi hành án, cưỡng chế giải phóng mặt bằng có 12 vụ (chiếm tỉ lệ 12%); chống lại nhân viên Ủy ban nhân dân có 1 vụ (chiếm tỉ lệ 1%); chống lại Bộ đội biên phòng có 3 vụ (chiếm tỉ lệ 3%); chống lại lực lượng Kiểm lâm có 4 vụ (chiếm tỉ lệ 4%); chống lại Đội chống buôn lậu có 2 vụ (chiếm tỉ lệ 2%); chống lại lực lượng hải quan có 02 vụ (chiếm tỉ lệ 2%). Như vậy, nhìn vào những số liệu trên, chúng ta thấy rằng các vụ chống đối lại các lực lượng khác như bộ đội biên phòng, kiểm lâm, cán bộ cơ quan thi hành án, lực lượng cưỡng chế… cũng chiếm tỉ lệ cao 24 vụ (chiếm tỉ lệ 24%). Điều này phần nào thể hiện sự xuống cấp về mặt đạo đức cũng như ý thức chấp hành pháp luật của những người có hành vi vi phạm.

(iii) Về trình độ, năng lực chuyên môn của người thi hành công vụ: Qua nghiên cứu trình độ, năng lực chuyên môn của lực lượng Cảnh sát giao thông - lực lượng thường xuyên bị các đối tượng chống lại khi thi hành nhiệm vụ cho thấy: Trong tổng số 12.940 cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát giao thông trên toàn quốc, có 515 người được bồi dưỡng nghiệp vụ (chiếm 3,97%), 780 người có trình độ sơ cấp (chiếm 6,02%), 6.825 người có trình độ trung cấp (chiếm 52,7%), 2.702 người có trình độ cao đẳng, đại học (chiếm 20,8%), 09 người có trình độ trên đại học (chiếm 0,07%), 560 người chưa học nghiệp vụ Công an (chiếm 4,3%). Trong số 206 cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát giao thông bị hi sinh và thương tật do tội phạm chống người thi hành công vụ trong hoạt động bảo đảm trật tự, an toàn giao thông từ năm 2005 đến 2010 cũng cho thấy, có 73 người có trình độ sơ cấp (chiếm 35,5%), 97 người có trình độ trung cấp (chiếm 47,1%), 36 người có trình độ cao đẳng, đại học (chiếm 17,4%)(2).

Các con số nêu trên tuy không phản ánh đầy đủ toàn bộ bức tranh về trình độ, năng lực chuyên môn của những người thi hành công vụ, nhưng cũng cho thấy một bộ phận cán bộ thi hành công vụ có trình độ, năng lực chuyên môn thấp, có trường hợp còn chưa được học nghiệp vụ. Đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến sai phạm, không làm đúng quy trình công tác của người thi hành công vụ.

Thứ hai, về tình huống trở thành nạn nhân của người thi hành công vụ

Trong 100 bản án xét xử về tội chống người thi hành công vụ, có thể thống kê được các tình huống trở thành nạn nhân như sau: Khi giải quyết các vụ vi phạm trật tự công cộng có 12 vụ (chiếm tỉ lệ 12%); khi giải quyết các vụ vi phạm giao thông có 21 vụ (chiếm tỉ lệ 21%); khi giải quyết các vụ đánh nhau, gây rối trật tự công cộng có 22 vụ (chiếm tỉ lệ 22%); khi làm nhiệm vụ tuần tra, giữ gìn trật tự xã hội có 6 vụ (chiếm tỉ lệ 5%); khi làm nhiệm vụ giải quyết các vụ việc tranh chấp, khiếu kiện liên quan đến vấn đề đất đai, đền bù giải phóng mặt bằng có 16 vụ (chiếm tỉ lệ 15%); khi làm nhiệm vụ cưỡng chế thi hành án, cưỡng chế thi hành lệnh bắt, lệnh khám xét, cưỡng chế đi cai nghiện có 8 vụ (chiếm tỉ lệ 8%); khi làm nhiệm vụ xử lý việc buôn lậu có 5 vụ (chiếm tỉ lệ 5%); làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát rừng, xử lý việc vận chuyển gỗ trái phép có 4 vụ (chiếm tỉ lệ 2%); khi đang thực hiện công vụ khác có 6 vụ (chiếm tỉ lệ 6%).

Với những phân tích trên, chúng ta thấy rằng, tình huống trở thành nạn nhân của người thi hành công vụ đều là khi thi hành các quyết định cá biệt hoặc là khi tiến hành các hoạt động khác mang tính chất pháp lý mà không cần ban hành văn bản áp dụng quy phạm pháp luật như tuần tra, giữ gìn trật tự xã hội, tuần tra, kiểm soát rừng…; không có trường hợp nào trở thành nạn nhân của tội chống người thi hành công vụ khi ban hành các quyết định cá biệt. Điều này phản ánh một thực tế rằng, hoạt động thi hành công vụ càng tác động trực tiếp đến quyền, lợi ích của người dân thì càng dễ nảy sinh tình huống chống người thi hành công vụ. Mặt khác, các tình huống thi hành công vụ độc lập, đơn lẻ, không có sự phối hợp, hỗ trợ lực lượng để đối phó với các hành vi chống đối cũng dễ nảy sinh hành vi chống người thi hành công vụ.

Thứ ba, người thi hành công vụ có lỗi/không có lỗi

Khi nghiên cứu 100 bản án về tội chống người thi hành công vụ, chúng tôi nhận thấy số vụ chống người thi hành công vụ mà người thi hành công vụ cũng có lỗi chiếm tỉ lệ tương đối đáng kể (17/100 = 17%). Cụ thể là:

- Số vụ mà người thi hành công vụ có thái độ hách dịch, cửa quyền (như quát tháo, nói xẵng, không trả lời khi đương sự hỏi, đuổi không tiếp đương sự…) có 8 vụ, chiếm tỉ lệ 8%. Những người thi hành công vụ thuộc nhóm này rất đa dạng như Công an phường, xã, Cảnh sát giao thông, cán bộ địa chính, kiểm lâm…

- Số vụ mà người thi hành công vụ có hành vi sai trái trong đền bù, giải phóng mặt bằng, thu hồi đất nông nghiệp để xây dựng các khu công nghiệp hoặc đô thị mới, sân golf hoặc giao đất (như áp sai mức đền bù đất nông nghiệp; áp đặt, ép người dân nhận tiền đền bù giá rẻ, lừa dân ký hợp đồng giao đất, giao đất không đúng thẩm quyền, không đúng đối tượng…) có 5 vụ chiếm tỉ lệ 5%.

- Số vụ mà người thi hành công vụ có thái độ không cương quyết, không khách quan trong giải quyết tranh chấp, xung đột trong nhân dân (trong đó có tranh chấp đất đai, tài sản thừa kế) là 4 vụ chiếm tỉ lệ 4%.

Qua khảo sát riêng đối với lực lượng Công an xã cũng cho thấy, một bộ phận Công an xã thiếu rèn luyện tu dưỡng, vi phạm phẩm chất đạo đức của người Công an nhân dân, cửa quyền, hách dịch, ức hiếp quần chúng, tham nhũng… nên đã vi phạm pháp luật, vi phạm quyền dân chủ của nhân dân (hàng năm, tỷ lệ vi phạm của Công an xã bị kỷ luật và bị xử lý theo pháp luật chiếm tỷ lệ từ 0,56% - 0,65%, tương đương 64 - 74 người trên tổng số 115.036 Công an xã). Theo báo cáo của Công an các địa phương từ năm 1999 - 2007, toàn quốc có 750 trường hợp vi phạm phải xử lý; trong đó có 89 trường hợp bị truy tố trước pháp luật, 661 trường hợp bị xử lý kỷ luật từ khiển trách đến cảnh cáo(3). Chính việc người thi hành công vụ cũng có lỗi đã tác động xấu đến người dân khiến họ phản ứng, bức xúc và có hành vi chống đối người thi hành công vụ.

Thứ tư, về trang bị vũ khí, công cụ hỗ trợ cho người thi hành công vụ

Qua nghiên cứu việc trang bị vũ khí và công cụ hỗ trợ cho lực lượng Công an xã cho thấy: Với tổng số 115.036 Công an xã trên toàn quốc nhưng lực lượng này mới được trang bị 1.502 khẩu súng ngắn (trong đó, 1.367 khẩu cấp trực tiếp cho Trưởng Công an xã, 71 khẩu cấp cho Phó trưởng Công an xã, 64 khẩu cấp cho Công an viên thường trực); 1.392 khẩu súng dài (trong đó 750 khẩu cấp cho Trưởng Công an xã; 313 khẩu cấp cho Phó trưởng Công an xã; 194 khẩu cấp cho Công an viên thường trực và 135 khẩu cấp cho Công an viên thôn, ấp, bản, làng); 4.637 dùi cui điện (trong đó, 3.092 chiếc cấp cho Trưởng Công an xã, 897 chiếc cấp cho Phó trưởng Công an xã, 384 chiếc cấp cho Công an viên thường trực và 264 chiếc cấp cho Công an viên thôn, ấp, bản, làng); 26.032 gậy cao su; 14.476 khóa số 8 và 11.916 các loại công cụ, phương tiện khác như còi, đèn pin…(4). Các số liệu trên cho thấy, việc trang bị vũ khí, công cụ hỗ trợ cho lực lượng Công an xã nói riêng và cho một bộ phận người thi hành công vụ nói chung còn ít, chưa đáp ứng được yêu cầu công tác và chiến đấu.

2. Các biện pháp hạn chế nguy cơ trở thành nạn nhân của tội chống người thi hành công vụ

Việc phòng ngừa tội phạm nói chung, tội chống người thi hành công vụ nói riêng có thể được đặt ra với các đối tượng khác nhau như: Đối với người phạm tội (người có khả năng thực hiện tội phạm), đối với mọi người dân trong xã hội (cộng đồng xã hội) và đối với nạn nhân của tội phạm (người có nguy cơ trở thành nạn nhân của tội phạm).

Trong các nguyên nhân của tội chống người thi hành công vụ thì có nguyên nhân thuộc về nạn nhân của tội phạm. Vì vậy, việc phòng ngừa tội chống người thi hành công vụ đối với các nạn nhân của tội phạm nhằm mục đích là "tăng cường các biện pháp làm khó hơn cho việc thực hiện tội phạm"; "khắc phục tình trạng vô tình tạo điều kiện cho việc phạm tội của người khác đối với chính mình"(5) là rất cần thiết. Việc phòng ngừa tội chống người thi hành công vụ đối với các nạn nhân của tội phạm, theo chúng tôi cần thực hiện các biện pháp cụ thể sau:

Một là, tăng cường hơn nữa vai trò lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc, nhắc nhở nhằm chủ động phát hiện, xử lý kịp thời các sai phạm, thiếu sót trong quá trình thi hành công vụ của người được giao thực thi công vụ

Như đã phân tích ở phần trên cho thấy, 17% số vụ chống người thi hành công vụ là có lỗi của người thi hành công vụ. Công tác kiểm tra, chỉ đạo của các cấp lãnh đạo có vai trò rất quan trọng trong việc hạn chế sai phạm, thiếu sót trong quá trình thi hành công vụ, từ đó cũng góp phần phòng ngừa với tình trạng chống người thi hành công vụ. Qua công tác kiểm tra, không những biểu dương những người có thành tích trong thi hành công vụ mà còn phát hiện kịp thời những sai phạm của người thi hành công vụ để kịp thời sửa chữa, khắc phục. Đặc điểm của hoạt động thi hành công vụ là thường làm việc theo tổ, nhóm độc lập, rất dễ bị những tác động từ cám dỗ xung quanh. Đây là một trong những điều kiện dễ xảy ra tình trạng chống người thi hành công vụ. Vì vậy, lãnh đạo các cơ quan, đơn vị phải có kế hoạch cụ thể để kiểm tra, đôn đốc kịp thời. Đồng thời, qua công tác kiểm tra có sự phân công lực lượng, phương tiện hợp lý, đảm bảo hiệp đồng tác chiến, hỗ trợ lẫn nhau khi có vụ chống người thi hành công vụ xảy ra. Lãnh đạo các cơ quan, đơn vị cần thực hiện nghiêm túc, chặt chẽ việc kiểm tra và duyệt các phương án, kế hoạch tuần tra, sổ sách, chương trình công tác do những người thi hành công vụ báo cáo; đồng thời, thực hiện nghiêm chế độ thông tin, báo cáo kết quả hoạt động thi hành công vụ gồm báo cáo ngày, báo cáo tuần, báo cáo tháng, báo cáo đột xuất về các vụ việc phức tạp và báo cáo theo chuyên đề mà người thi hành công vụ thực hiện. Kiểm tra, đôn đốc, chấn chỉnh cán bộ, chiến sĩ thuộc quyền thực hiện tốt nhiệm vụ được giao, làm việc đúng quy trình công tác và chấn chỉnh ngay cả phong cách, thái độ, lời nói của từng cán bộ, chiến sĩ khi giao tiếp với nhân dân để giảm thiểu các sai phạm xảy ra của cán bộ, chiến sĩ khi thực hiện nhiệm vụ.

Hai là, tăng cường công tác bồi dưỡng nâng cao phẩm chất đạo đức, năng lực chuyên môn của người thi hành công vụ

Người thi hành công vụ là người trực tiếp, thường xuyên tiếp xúc với nhân dân, một mặt phải đụng chạm đến quyền lợi của cá nhân người vi phạm, mặt khác lại chịu tác động từ mặt trái cơ chế thị trường và nhiều cám dỗ. Một bộ phận người thi hành công vụ ý thức tổ chức kỷ luật kém, không tự giác trong tu dưỡng, rèn luyện bản thân, có thái độ cửa quyền, sách nhiễu, không khéo léo trong xử lý tình huống. Vì vậy, thực tế đòi hỏi cơ quan, đơn vị quản lý người thi hành công vụ thường xuyên làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho họ, thường xuyên nhắc nhở, chấn chỉnh kịp thời các biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống. Đồng thời, thủ trưởng cơ quan, đơn vị phải động viên, khuyến khích, tạo điều kiện cho người thi hành công vụ học tập nâng cao trình độ, xây dựng cho người thi hành công vụ có ý thức tổ chức kỷ luật cao, phẩm chất đạo đức tốt, trung thực, liêm khiết, vững vàng trước những tiêu cực của đời sống xã hội; có tư thế, tác phong, thái độ đúng mực, có quan điểm quần chúng tốt, luôn tận tụy với nhiệm vụ được giao. Người thi hành công vụ phải nắm chắc quy trình công tác, biết cách sử dụng linh hoạt các công cụ, phương tiện và các nguyên tắc, phương pháp, chiến thuật trong khi thi hành công vụ; rèn luyện kỹ năng thực hành, thao tác, xử trí linh hoạt các phương án đấu tranh với tình trạng chống người thi hành công vụ, rèn luyện bản lĩnh khi thi hành nhiệm vụ và giải quyết các vụ chống người thi hành công vụ, không bị lúng túng, sơ hở, vi phạm pháp luật trong khi thi hành công vụ.

Ba là, thực hiện tốt quy chế phối hợp lực lượng nhằm phục vụ tốt yêu cầu đấu tranh, trấn áp các đối tượng chống người thi hành công vụ

Đối với các lực lượng thi hành công vụ thường xuyên phải độc lập tác chiến, tự mình xử lý tình huống, đấu tranh với các đối tượng quá khích, thậm chí là tấn công của người vi phạm và những người xung quanh như Cảnh sát giao thông, Cảnh sát cơ động, Công an xã…, việc tăng cường thêm lực lượng cho họ khi làm nhiệm vụ là rất cần thiết, có thể giải tỏa đám đông quá khích, tạo thế cân bằng lực lượng với các đối tượng quá khích, chống đối, tạo sự vững vàng về tinh thần cho người thi hành công vụ khi làm nhiệm vụ. Qua phân tích tình huống trở thành nạn nhân của người thi hành công vụ ở phần trên cho thấy, trong nhiều trường hợp người thi hành công vụ trở thành nạn nhân của tội chống người thi hành công vụ khi thi hành nhiệm vụ độc lập, đơn lẻ, không có sự phối hợp, hỗ trợ lực lượng để xử lý các hành vi chống đối như khi giải quyết các vụ vi phạm giao thông (chiếm tỉ lệ 21%); khi giải quyết các vụ đánh nhau, gây rối trật tự công cộng (chiếm tỉ lệ 22%). Do đó, lực lượng thực thi hành công vụ phải phối hợp với các lực lượng nghiệp vụ có liên quan từ việc điều tra, nắm tình hình địa bàn, hỗ trợ trấn áp, truy đuổi, bắt giữ đối tượng… cho đến việc thu thập tài liệu, củng cố hồ sơ, xử lý đối tượng chống người thi hành công vụ; thường xuyên trao đổi thông tin giữa các lực lượng nghiệp vụ có liên quan, phối hợp và cơ động trong việc triển khai lực lượng tiến hành các biện pháp nghiệp vụ.

Bốn là, đầu tư trang thiết bị kỹ thuật, vũ khí, phương tiện, công cụ hỗ trợ phục vụ tốt yêu cầu thi hành công vụ

Các trang thiết bị kỹ thuật, vũ khí, phương tiện, công cụ hỗ trợ trang bị cho lực lượng thi hành công vụ phải đáp ứng được yêu cầu đủ cả về số lượng cũng như chất lượng, bảo đảm yêu cầu ngăn chặn kịp thời mọi hành vi chống đối của các loại đối tượng, bảo vệ tuyệt đối an toàn cho lực lượng thi hành công vụ. Các biện pháp trên đây có quan hệ chặt chẽ với nhau, qua đó giúp người thi hành công vụ phòng ngừa có hiệu quả đối với tội chống người thi hành công vụ trong những năm tiếp theo.

ThS. Trần Ngọc Đường

Cục Pháp chế và cải cách hành chính, tư pháp

Bộ Công an


(1). Xem: GS.TS. Nguyễn Ngọc Hòa, "Vấn đề thi hành công vụ và chế định phòng vệ chính đáng trong luật hình sự Việt Nam", Tạp chí Luật học số 2/2012, tr.27.

(2). Đề tài khoa học cấp cơ sở "Tội phạm chống người thi hành công vụ trong công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ - Thực trạng và giải pháp phòng ngừa, ngăn chặn của lực lượng Cảnh sát giao thông", Chủ nhiệm đề tài: Nguyễn Văn Chức, Hà Nội, 2010, tr 34, 35.

(3). Xem: Bộ Công an, Báo cáo số 154/BC-BCA(X28) ngày 18/4/2008 tổng kết 9 năm thực hiện Nghị định số 40/1999/NĐ-CP về Công an xã.

(4). Xem: Bộ Công an, Kỷ yếu hội thảo khoa học "Chống người thi hành công vụ trong công tác bảo đảm an ninh, trật tự của lực lượng Công an nhân dân - Thực trạng và giải pháp", Hà Nội, tháng 10/2008, tr.294, 295.

(5). Xem: GS.TS. Nguyễn Ngọc Hòa, "Phòng ngừa tội phạm trong tội phạm học", Tạp chí luật học số 6/2007, tr.31.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.

Theo dõi chúng tôi trên: