Thứ ba 25/08/2026 19:56
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Các căn cứ trả lại đơn khởi kiện trong vụ án hành chính

Khởi đầu của quá trình giải quyết vụ án hành chính là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức nộp đơn khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp khi có căn cứ cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm bởi các khiếu kiện. Tuy nhiên, không phải lúc nào kết quả của quá trình xem xét đơn khởi kiện cũng là việc Tòa án thụ lý đơn để giải quyết vụ việc vì nếu rơi vào những trường hợp luật định thì Tòa án phải trả lại đơn khởi kiện. Luật Tố tụng hành chính năm 2015 đã có những quy định cụ thể liên quan đến việc trả lại đơn khởi kiện nhưng có một số quy định về các trường hợp trả lại đơn khởi kiện chưa rõ ràng và còn bỏ sót một số trường hợp phải trả lại đơn khởi kiện. Bài viết sẽ phân tích các căn cứ, hạn chế và một số kiến nghị hoàn thiện các căn cứ trả lại đơn khởi kiện trong vụ án hành chính.


1. Các căn cứ trả lại đơn khởi kiện trong Luật Tố tụng hành chính năm 2015

Theo quy định tại khoản 1 Điều 123 Luật Tố tụng hành chính năm 2015, khi rơi vào các trường hợp sau thì Tòa án phải trả lại đơn khởi kiện:

Thứ nhất, người khởi kiện không có quyền khởi kiện. Theo quy định của pháp luật, không phải bất kỳ chủ thể nào cũng có quyền khởi kiện vụ án hành chính mà chỉ những cá nhân, cơ quan, tổ chức bị tác động trực tiếp bởi các quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, danh sách cử tri (sau đây gọi chung là các khiếu kiện) mới có quyền khởi kiện. Do đó, người khởi kiện không có quyền khởi kiện là trường hợp cá nhân, cơ quan, tổ chức thực hiện việc khởi kiện không bị tác động trực tiếp bởi các khiếu kiện. Đối với cá nhân, cơ quan, tổ chức chỉ bị ảnh hưởng mà không chịu tác động trực tiếp bởi các khiếu kiện này thì họ không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, khi xem xét đơn khởi kiện và tài liệu kèm theo mà phát hiện cá nhân, cơ quan, tổ chức không có quyền khởi kiện thì Tòa án sẽ trả lại đơn khởi kiện.

Thứ hai, người khởi kiện không có năng lực hành vi tố tụng hành chính đầy đủ. Để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho mình trước sự xâm phạm bởi các khiếu kiện trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó thì điều kiện tiên quyết là cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện phải chứng minh mình có đủ năng lực hành vi tố tụng hành chính. Năng lực hành vi tố tụng hành chính bao gồm năng lực về độ tuổi và năng lực hành vi dân sự. Không có năng lực hành vi tố tụng hành chính được hiểu là trường hợp cá nhân dưới 18 tuổi và người từ đủ 18 tuổi trở lên nhưng mất năng lực hành vi dân sự. Nếu phát hiện cá nhân, cơ quan, tổ chức không có năng lực hành vi tố tụng hành chính thì Tòa án sẽ trả lại đơn khởi kiện.

Thứ ba, trường hợp pháp luật có quy định về điều kiện khởi kiện nhưng người khởi kiện đã khởi kiện đến Tòa án khi còn thiếu một trong các điều kiện đó. Khi xem xét đơn khởi kiện vụ án hành chính mà phát hiện cá nhân, cơ quan, tổ chức chưa có đủ điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp luật thì Tòa án trả lại đơn khởi kiện cho họ.

Thứ tư, sự việc đã được giải quyết bằng bản án hoặc quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Đối với những sự việc đã được giải quyết bằng bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án thì cá nhân, cơ quan, tổ chức liên quan không được quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án thụ lý giải quyết lại vụ việc đó (trừ trường hợp Tòa án đã ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 144). Trường hợp không đồng ý với bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật thì cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan chỉ có quyền kiến nghị với chủ thể có thẩm quyền yêu cầu xem xét lại bản án, quyết định này theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.

Thứ năm, sự việc không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Thẩm quyền xét xử vụ án hành chính của Tòa án nhân dân được chia thành ba loại, đó là thẩm quyền theo loại việc, thẩm quyền theo lãnh thổ và thẩm quyền theo cấp Tòa án. Do vậy, có thể xem các trường hợp sau là trường hợp sự việc không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án: (i) Trường hợp vụ việc được khởi kiện không thuộc thẩm quyền của hệ thống Tòa án nói chung. Tức là không thuộc thẩm quyền giải quyết của bất cứ Tòa nào trong toàn hệ thống Tòa án. (ii) Trường hợp vụ việc khởi kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của hệ thống Tòa án nói chung nhưng đây không phải là vụ án hành chính. (iii) Trường hợp sự việc được khởi kiện thuộc thẩm quyền xét xử vụ án hành chính của hệ thống Tòa án nói chung được quy định tại Điều 30 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 nhưng không thuộc thẩm quyền của Tòa án nhận đơn mà lại thuộc thẩm quyền của một Tòa khác trong hệ thống Tòa án (có thể cùng cấp hoặc không cùng cấp).

Thứ sáu, người khởi kiện lựa chọn giải quyết vụ việc theo thủ tục giải quyết khiếu nại. Trường hợp vừa có đơn khiếu nại vừa có đơn khởi kiện được hiểu là trường hợp sự việc khởi kiện chưa được xác lập thẩm quyền giải quyết, tức là, tại thời điểm khiếu nại và khởi kiện, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại chưa thụ lý giải quyết khiếu nại và Tòa án cũng chưa thụ lý giải quyết vụ việc. Trong trường hợp người khởi kiện có đơn khởi kiện đồng thời có đơn khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại mà họ lựa chọn giải quyết vụ việc theo thủ tục giải quyết khiếu nại thì Tòa án sẽ trả lại đơn khởi kiện.

Thứ bảy, đơn khởi kiện không có đủ nội dung do luật định. Đơn khởi kiện phải có đủ nội dung như: Ngày, tháng, năm làm đơn; Tòa án được yêu cầu giải quyết vụ án hành chính; tên, địa chỉ, số điện thoại, số fax, địa chỉ thư điện tử (nếu có) của người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; nội dung quyết định hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, nội dung giải quyết khiếu nại về danh sách cử tri hoặc tóm tắt diễn biến của hành vi hành chính; nội dung quyết định giải quyết khiếu nại (nếu có); yêu cầu đề nghị Tòa án giải quyết; cam đoan về việc không đồng thời khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại. Nếu đơn khởi kiện thiếu các nội dung này mà không được người khởi kiện sửa đổi, bổ sung khi đã được thẩm phán thông báo bằng văn bản và nêu rõ những vấn đề cần sửa đổi, bổ sung cho người khởi kiện sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày người khởi kiện nhận được thông báo của Tòa án thì Tòa án sẽ trả lại đơn khởi kiện.

Thứ tám, cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện không đóng tiền tạm ứng án phí. Cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện không đóng tiền tạm ứng án phí khi đã hết thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được thông báo nộp tiền tạm ứng án phí thì Tòa án sẽ trả lại đơn khởi kiện trừ trường hợp người khởi kiện được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, không phải nộp tiền tạm ứng án phí hoặc có lý do chính đáng.

2. Hạn chế và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định về các căn cứ trả lại đơn khởi kiện trong Luật Tố tụng hành chính năm 2015

2.1. Các hạn chế trong quy định về việc trả lại đơn khởi kiện

- Các căn cứ trả lại đơn khởi kiện còn chưa rõ ràng: Khoản 1 Điều 123 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 không quy định rõ thế nào là trường hợp người khởi kiện không có quyền khởi kiện; trường hợp pháp luật có quy định về điều kiện khởi kiện nhưng người khởi kiện đã khởi kiện đến Tòa án khi còn thiếu một trong các điều kiện đó.

- Bỏ sót một số trường hợp phải trả lại đơn khởi kiện: Khoản 1 Điều 123 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 đã bỏ sót một số căn cứ cần phải trả lại đơn khởi kiện như trong trường hợp hết thời hiệu khởi kiện hoặc trong trường hợp người khởi kiện vừa khởi kiện vừa khiếu nại nhưng lại không lựa chọn một trong hai cơ quan giải quyết vụ việc.

2.2. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định về các căn cứ trả lại đơn khởi kiện

Một là, luật hay các văn bản hướng dẫn thi hành nên quy định rõ thế nào là trường hợp người khởi kiện không có quyền khởi kiện. Theo tác giả, trường hợp người khởi kiện không có quyền khởi kiện là các trường hợp sau đây:

- Trường hợp người khởi kiện không có quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm trực tiếp bởi các khiếu kiện. Việc khởi kiện vụ án hành chính phụ thuộc vào ý chí chủ quan của chủ thể khởi kiện, không một ai hoặc cơ quan nào có quyền ép buộc hay cản trở cá nhân, cơ quan, tổ chức thực hiện quyền của mình. Mặt khác, cơ sở của việc thực hiện quyền khởi kiện là nhận thức chủ quan của chủ thể khởi kiện vụ án hành chính về tính trái pháp luật của quyết định hành chính, hành vi hành chính xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Chính vì vậy, việc khởi kiện chỉ phát sinh khi cá nhân, cơ quan tổ chức cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm bởi các khiếu kiện và người có quyền khởi kiện chỉ trở thành người khởi kiện khi họ tiến hành làm đơn khởi kiện vụ án hành chính trên thực tế. Tuy nhiên, không phải bất cứ chủ thể nào cũng có quyền khởi kiện vụ án hành chính, cũng như có thể tham gia thực hiện quyền tố tụng hành chính đó trước Tòa án. Vì chỉ có những ai bị xâm phạm trực tiếp bởi các khiếu kiện mới được khởi kiện vụ án hành chính. Hiện nay, Luật Tố tụng hành chính năm 2015 và các văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành không có quy định nào nói về việc người khởi kiện phải là người bị “tác động trực tiếp” bởi quyết định hành chính, hành vi hành chính. Tuy nhiên, theo tác giả thì “thực tiễn áp dụng pháp luật và thưc tiễn giải quyết vụ án hành chính cho thấy chỉ có những cá nhân, cơ quan, tổ chức bị tác động trực tiếp bởi các quyết định hành chính, hành vi hành chính mới có quyền khởi kiện vụ án hành chính”[1]. Nếu người tiến hành khởi kiện không bị tác động trực tiếp bởi các khiếu kiện hành chính thì họ được xem như không có quyền khởi kiện và Tòa án sẽ không thụ lý giải quyết vụ án mà phải trả lại đơn khởi kiện theo đúng quy định của pháp luật.

- Trường hợp người khởi kiện xác định sai tư cách chủ thể của người bị kiện. Theo quy định tại khoản 9 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 thì cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, danh sách cử tri bị khởi kiện”. Có thể hiểu, trường hợp người khởi kiện xác định sai tư cách của người bị kiện là trường hợp người khởi kiện xác định người bị kiện là chủ thể không có thẩm quyền ban hành hoặc thực hiện các khiếu kiện. Cụ thể, thẩm quyền ban hành quyết định hành chính hoặc thực hiện hành vi hành chính thuộc về cá nhân nhưng người khởi kiện lại xác định đó là tập thể hoặc ngược lại. Điều 2 Nghị quyết số 02/2011/NQ-HĐTP ngày 29/7/2011 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Tố tụng hành chính thì người bị kiện trong vụ án hành chính được xác định như sau:

+ Để xác định đúng người bị kiện khi nào là cá nhân, khi nào là cơ quan, tổ chức thì phải căn cứ vào quy định của pháp luật về thẩm quyền giải quyết vụ việc đó. Trường hợp có nhiều luật cùng quy định thẩm quyền ra quyết định hành chính hoặc thực hiện hành vi hành chính về một lĩnh vực quản lý thì việc xác định thẩm quyền của người bị kiện khi nào là cá nhân, khi nào là cơ quan, tổ chức phải căn cứ vào luật chuyên ngành.

+ Về cách xác định ai là người chịu trách nhiệm đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính: Nếu quyết định, hành vi đó được pháp luật quy định cho cơ quan hay chức danh cụ thể, thì trách nhiệm đối với quyết định hay hành động hoặc không hành động thực hiện hành vi đó luôn thuộc cơ quan hay chức danh cụ thể đã được pháp luật quy định, mà không phụ thuộc việc cơ quan hay người được pháp luật trao quyền đã ủy quyền cho cơ quan hay người cụ thể khác thực hiện[2].

Hai là, quy định rõ thế nào là trường hợp Tòa án trả lại đơn khởi kiện trong trường hợp pháp luật có quy định về điều kiện khởi kiện nhưng người khởi kiện đã khởi kiện đến Tòa án khi còn thiếu một trong các điều kiện đó. Theo tác giả, nội hàm của điều kiện khởi kiện trong cụm từ “chưa có đủ điều kiện khởi kiện vụ án hành chính” không được hiểu bao gồm tổng thể các điều kiện trên. Trường hợp “chưa có đủ điều kiện khởi kiện vụ án hành chính” được hiểu là trường hợp chưa khiếu nại trước khi khởi kiện:

- Trường hợp cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện vụ án hành chính đối với các quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc khi chưa nhận được quyết định giải quyết khiếu nại của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại mà còn trong thời hạn giải quyết khiếu nại theo quy định của pháp luật.

- Trường hợp cá nhân khởi kiện vụ án hành chính quyết định danh sách cử tri mà chưa thực hiện việc khiếu nại trước. Hoặc trường hợp cá nhân khởi kiện vụ án hành chính về danh sách cử tri khi đã khiếu nại với người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại mà chưa được giải quyết và chưa hết thời hạn giải quyết khiếu nại theo quy định của pháp luật[3].

Ba là, bổ sung một số căn cứ trả lại đơn khởi kiện

- Tòa án trả lại đơn khởi kiện do thời hiệu khởi kiện đã hết mà không có lý do chính đáng. Mặc dù pháp luật quy định quyền khởi kiện và đảm bảo thực hiện quyền này của cá nhân, cơ quan, tổ chức nhưng không có nghĩa là quyền khởi kiện được thực hiện bất cứ lúc nào. Theo quy định, người khởi kiện phải bị giới hạn trong một khung thời gian nhất định hay còn gọi là giới hạn về thời hiệu khởi kiện. Theo quy định của pháp luật hiện hành thì thời hiệu khởi kiện được hiểu là thời hạn mà cá nhân, cơ quan, tổ chức được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án hành chính bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm. Nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện. Do vậy, Tòa án trả lại đơn khởi kiện nếu việc khởi kiện này là hết thời hiệu khởi kiện được xem là một quy định hợp lý.

- Tòa án trả lại đơn khởi kiện trong trường hợp người khởi kiện không lựa chọn cơ quan giải quyết khi vừa có đơn khởi kiện, vừa có đơn khiếu nại. Khi có tranh chấp hành chính phát sinh, chủ thể bị tác động bởi các tranh chấp hành chính là các cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền khiếu nại đến chính cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền đã ban hành các khiếu kiện hành chính dẫn đến tranh chấp hoặc khởi kiện ra Tòa án nhân dân có thẩm quyền. Tuy nhiên, nhiều trường hợp, cá nhân, cơ quan và tổ chức lựa chọn giải pháp an toàn là có đơn khởi kiện tại Tòa án có thẩm quyền đồng thời có đơn khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại. Đây là điểm tạo nên khác biệt với trường hợp pháp luật có quy định về điều kiện khởi kiện nhưng người khởi kiện đã khởi kiện đến Tòa án khi còn thiếu một trong các điều kiện đó tại điểm c khoản 1 Điều 123 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 - trường hợp cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện vụ án hành chính khi đã được người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại thụ lý giải quyết, tức là đã được xác định thẩm quyền. Khi nhận được đơn khởi kiện đồng thời khiếu nại sự việc đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại thì Tòa án yêu cầu người khởi kiện làm văn bản lựa chọn cơ quan giải quyết; trường hợp người khởi kiện không làm được văn bản lựa chọn thì Tòa án phải lập biên bản về việc người khởi kiện lựa chọn cơ quan giải quyết. Luật Tố tụng hành chính năm 2015 quy định quyền quyết định trong trường hợp này thuộc về người khởi kiện là phù hợp với nguyên tắc quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự (trừ trường hợp ngoại lệ là sự việc có liên quan đến nhiều người, trong đó có người lựa chọn con đường giải quyết bằng khiếu nại, có người là khiếu kiện; quyền lợi và nghĩa vụ của người khiếu kiện và người khiếu nại không độc lập với nhau thì Tòa án được xác định là cơ quan có thẩm quyền xét xử theo thủ tục chung). Có thể thấy, việc Luật Tố tụng hành chính năm 2015 không cho phép một vụ việc hành chính nhưng lại được giải quyết đồng thời bởi hai cơ quan nhà nước khác nhau về thẩm quyền và lĩnh vực hoạt động là phù hợp, tránh mất thời gian của đương sự cũng như cơ quan nhà nước có thẩm quyền… Do đó, việc Tòa án trả lại đơn khởi kiện trong trường hợp này là cần thiết để đảm bảo pháp luật được tuân thủ một cách nghiêm chỉnh.

Pháp luật quy định các trường hợp trả lại đơn khởi kiện sẽ giảm gánh nặng của Tòa án trong việc giải quyết tất cả các vụ việc nhận được, loại bỏ những vụ việc khởi kiện không có căn cứ; có cơ sở để từ chối thụ lý đối với những trường hợp không được giải quyết, tránh mất thời gian và công sức để tiến hành thủ tục giải quyết một vụ án không có kết quả. Ngoài ra, việc quy định các trường hợp trả lại đơn khởi kiện cũng giúp đương sự tiết kiệm thời gian và công sức, không tiếp tục tham gia tố tụng trong những trường hợp không mang lại hiệu quả giải quyết. Vì nếu rơi vào trường hợp trả lại đơn khởi kiện mà Tòa án vẫn tiếp tục giải quyết, thì bản án hay quyết định được ban hành sẽ không được thi hành do Tòa án cấp trên sẽ tuyên hủy bản án hoặc quyết định này. Do đó, theo tác giả, Luật Tố tụng hành chính năm 2015 cần có những quy định cụ thể liên quan đến vấn đề này để tạo ra sự thống nhất trong việc áp dụng pháp luật cũng như thực tiễn xét xử của Tòa án.

Nguyễn Thanh Quyên

Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh


[1] Lê Việt Sơn, 2013, “Bàn về người khởi kiện và người bị kiện trong vụ án hành chính”, Tạp chí Khoa học pháp lý, (04), tr. 29.

[2] Nguyễn Cửu Việt (2013), “Phạm vi các loại khiếu kiện hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp (số 2+3), tr. 93 - 102.

[3] Thời hạn giải quyết khiếu nại về danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân là 05 ngày.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.

Theo dõi chúng tôi trên: