Thứ năm 25/06/2026 08:32
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Cần hiểu đúng về bản chất của hoạt động chào bán chứng khoán riêng lẻ

Chào bán chứng khoán ra công chúng và chào bán chứng khoán riêng lẻ là các phương thức huy động vốn trên thị trường chứng khoán. Mỗi phương thức huy động vốn đều có ưu điểm nhất định và đều chứng tỏ là phương thức thu hút vốn đầu tư hiệu quả.

Theo tổng hợp của Vụ Quản lý Phát hành chứng khoán, Ủy ban Chứng khoán nhà nước (nay là Vụ Quản lý chào bán chứng khoán) trong bài viết “Phát hành chứng khoán - Nguồn cung hàng hóa chủ yếu cho thị trường chứng khoán Việt Nam” ghi nhận, giá trị phát hành chứng khoán từ việc phát hành cổ phiếu riêng lẻ và phát hành cổ phiếu ra công chúng của năm 2012, năm 2013 và 06 tháng đầu năm 2014 lần lượt là 17.778 tỷ đồng, 52.545 tỷ đồng và 10.942 tỷ đồng. Có thể thấy, đây là những con số không hề nhỏ trong bối cảnh nền kinh tế đang có dấu hiệu chững lại hiện nay.

Pháp luật Việt Nam hiện hành có sự phân biệt giữa việc thực hiện chào bán cổ phiếu riêng lẻ và chào bán cổ phiếu ra công chúng thông qua điều kiện cũng như cách thức thực hiện. Theo đó, khái niệm chào bán chứng khoán riêng lẻ được ghi nhận tại khoản 12a Điều 6 Luật Chứng khoán năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2010, sau đây gọi chung là Luật Chứng khoán) như sau: “Chào bán chứng khoán riêng lẻ là việc tổ chức chào bán chứng khoán cho dưới một trăm nhà đầu tư, không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp và không sử dụng phương tiện thông tin đại chúng hoặc Internet”. Dấu hiệu nhận biết chào bán chứng khoán riêng lẻ thể hiện ở các yếu tố sau: (i) Số lượng nhà đầu tư dưới một trăm người và không có sự phân biệt đối với nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp và không chuyên nghiệp và (ii) Không sử dụng phương tiện thông tin đại chúng hoặc Internet để thực hiện chào bán.

Trong khi đó, pháp luật lại không định nghĩa cụ thể chào bán chứng khoán ra công chúng mà liệt kê các phương thức được cho là chào bán chứng khoán ra công chúng tại khoản 12 Điều 6 Luật Chứng khoán, các phương thức đó bao gồm: (i) Thông qua phương tiện thông tin đại chúng, kể cả Internet; (ii) Chào bán chứng khoán cho từ một trăm nhà đầu tư trở lên, không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp; (iii) Chào bán cho một số lượng nhà đầu tư không xác định.

Mặc dù pháp luật có sự phân biệt rất rõ giữa hai hình thức chào bán này, tuy nhiên, trong thực tiễn triển khai vẫn có trường hợp các nhà đầu tư băn khoăn, chưa xác định cụ thể phương thức đang thực hiện là chào bán chứng khoán riêng lẻ hay chào bán chứng khoán ra công chúng nên còn lúng túng trong áp dụng. Đơn cử là trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 9 Nghị định số 58/2012/NĐ-CP ngày 20/7/2012 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Chứng khoán và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán được sửa đổi bởi Nghị định số 60/2015/NĐ-C P ngày 26/6/2015, theo đó, pháp luật quy định điều kiện chào bán, quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư được xác định để mua một phần trong tổng số cổ phần đăng ký chào bán chứng khoán ra công chúng như sau: “Trường hợp tổ chức phát hành thực hiện chào bán một phần trong tổng số cổ phần đăng ký chào bán chứng khoán ra công chúng cho một hoặc một số nhà đầu tư xác định (trừ trường hợp chào bán cho cổ đông hiện hữu tương ứng với tỷ lệ sở hữu của họ trong công ty hoặc chào bán cho người lao động), thì phải bảo đảm điều kiện chào bán, điều kiện về quyền, nghĩa vụ của cổ đông không thuận lợi hơn so với điều kiện chào bán cho cổ đông hiện hữu, trừ trường hợp Đại hội đồng cổ đông có chấp thuận khác. Đại hội đồng cổ đông và Hội đồng quản trị phải xác định tiêu chí, danh sách các nhà đầu tư này theo các quy định tại khoản 1 Điều 4 Nghị định này. Số cổ phiếu chào bán nêu trên bị hạn chế chuyển nhượng trong vòng 01 năm kể từ ngày hoàn thành đợt chào bán”. Ở đây, cần xác định rõ đối tượng áp dụng của quy định này đó là một phần mà không phải toàn bộ số cổ phần đăng ký chào bán chứng khoán ra công chúng, và phần cổ phần này phải xác định trước được nhà đầu tư mua. Việc bán một phần cổ phần đăng ký chào bán ra công chúng cho một số nhà đầu tư xác định thường là phương thức thực hiện để xử lý số cổ phần chưa phân phối hết sau đợt chào bán. Và việc pháp luật dẫn chiếu những điều kiện bắt buộc áp dụng đối với phần cổ phần này như điều kiện của chào bán cổ phần riêng lẻ đã khiến một số doanh nghiệp đang hiểu nhầm và có sự đồng nhất phương thức bán quy định tại khoản 3 Điều 9 Nghị định số 58/2012/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 60/2015/NĐ-CP với việc phát hành chứng khoán riêng lẻ. Tuy nhiên, khi phân tích kỹ quy định của pháp luật, có thể thấy việc bán một phần cổ phần trong tổng số cổ phần đăng ký chào bán chứng khoán ra công chúng cho một hoặc một số nhà đầu tư xác định không mang các dấu hiệu của một đợt chào bán chứng khoán riêng lẻ, cụ thể việc bán các cổ phần trên: (i) Không có quy định giới hạn số lượng nhà đầu tư xác định được mua như quy định của chào bán chứng khoán riêng lẻ; (ii) Không bị hạn chế việc sử dụng phương tiện thông tin đại chúng hoặc Internet để thực hiện chào bán ngay cả đối với số cổ phần bán cho nhà đầu tư xác định trước. Như vậy, các dấu hiệu cần đáp ứng của đợt chào bán chứng khoán riêng lẻ không thỏa mãn. Bên cạnh đó, việc bán một phần các cổ phần trong tổng số cổ phần đăng ký chào bán chứng khoán ra công chúng cho nhà đầu tư xác định trước không phải thực hiện theo các thủ tục của chào bán chứng khoán riêng lẻ. Do đó, việc một số doanh nghiệp đang băn khoăn cho rằng việc bán một phần trong tổng số cổ phần đăng ký chào bán chứng khoán ra công chúng cho một hoặc một số nhà đầu tư xác định được xem là một đợt chào bán chứng khoán riêng lẻ là không có căn cứ.

Trở lại với thống kê của Vụ Quản lý chào bán chứng khoán như đã nêu ở trên, mặc dù giá trị phát hành chứng khoán từ việc phát hành cổ phiếu riêng lẻ và phát hành cổ phiếu ra công chúng đều có sự tăng trưởng qua các năm nhưng cơ cấu cổ phiếu phát hành lại không đồng nhất qua các năm đối với các hình thức phát hành khác nhau. Cụ thể, nếu như năm 2012 phát hành cổ phiếu ra công chúng chiếm tỷ trọng lớn (đạt 9.658 tỷ đồng tương đương 53,2% tổng giá trị phát hành), tỷ trọng phát hành riêng lẻ (đạt 8.120 tỷ đồng tương đương 44,7% tổng giá trị phát hành) thì đến năm 2013, tỷ trọng phát hành cổ phiếu riêng lẻ tăng nhanh và đạt 38.184 tỷ đồng (tương đương 67,04% tổng giá trị phát hành), trong khi phát hành cổ phiếu ra công chúng chỉ đạt 14.361 tỷ đồng (tương đương 25,2% tổng giá trị phát hành). Và tính đến 06 tháng đầu năm 2014, cơ cấu cổ phiếu phát hành đang có sự chênh lệch nghiêng về phát hành cổ phiếu riêng lẻ với tỷ lệ là 46,7% - 19,04% tổng giá trị phát hành. Như vậy, có thể thấy, các doanh nghiệp đang có xu hướng “ưu ái” hơn đối với hình thức huy động vốn từ phát hành cổ phiếu riêng lẻ. Chính vì vậy, cần có sự hiểu đúng thế nào là đợt chào bán cổ phiếu riêng lẻ nói riêng và chào bán chứng khoán riêng lẻ nói chung để áp dụng các điều kiện huy động cho phù hợp với quy định pháp luật. Bởi lẽ, khác với chào bán chứng khoán ra công chúng, chào bán chứng khoán riêng lẻ phải chịu các hạn chế về thời gian giữa các đợt phát hành là ít nhất 06 tháng. Việc hiểu đúng, hiểu rõ bản chất của hoạt động phát hành chứng khoán riêng lẻ sẽ giúp các doanh nghiệp không bỏ lỡ thời cơ để huy động vốn một cách hiệu quả./.

Mạnh Hữu

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 được ban hành đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Bài viết nêu sự cần thiết, ý nghĩa ban hành và những điểm mới nổi bật của Luật, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm quyền con người và đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà vừa ký Quyết định số 1111/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch tổ chức "Ngày Văn hóa Việt Nam" giai đoạn 2026 - 2030 (Kế hoạch), đánh dấu bước triển khai quan trọng Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Luật Hàng không dân dụng Việt Nam số 130/2025/QH15 (Luật năm 2025) được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 10 (ngày 10/12/2025), có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 gồm 11 Chương và 107 Điều quy định về hoạt động hàng không dân dụng, bao gồm các quy định về tàu bay, cảng hàng không, nhân viên hàng không, hoạt động bay, vận tải hàng không thương mại, hàng không chuyên dùng, hàng không chung, an toàn hàng không, an ninh hàng không, trách nhiệm dân sự và các hoạt động khác có liên quan đến hàng không dân dụng.
Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Quy định mới tại Nghị quyết số 254/2025/QH15 và Nghị định số 49/2026/NĐ-CP với cơ chế đồng thuận trên 75% được kỳ vọng khơi thông hàng nghìn dự án, sẽ tháo gỡ một trong những vướng mắc lớn nhất trong quá trình triển khai các dự án có sử dụng đất.
Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Ngày 10/12/2025, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, Kỳ họp thứ 10 chính thức thông qua Luật số 132/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026).
Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 thay thế Pháp lệnh Dân số số 06/2004/PL-UBTVQH11 (đã được sửa đổi, bổ sung theo Pháp lệnh số 07/2025/UBTVQH15). Một trong những thay đổi căn bản của Luật Dân số năm 2025 là chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển. Những nội dung liên quan đến dân số và phát triển đã được thể hiện trong việc hướng tới giải quyết đồng bộ các vấn đề về quy mô dân số, cơ cấu dân số, thích ứng với già hóa dân số, nâng cao chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của từng địa phương, góp phần bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước.
Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.

Theo dõi chúng tôi trên: