Thứ năm 20/08/2026 04:31
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Cần hướng dẫn rõ việc thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng trong xử lý tang vật bị tạm giữ theo thủ tục hành chính

Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và các văn bản hướng dẫn sau hơn 5 năm triển khai thi hành đã đạt những kết quả tích cực, góp phần vào việc phát triển kinh tế - xã hội và thực hiện chức năng quản lý nhà nước, góp phần ổn định trật tựm an toàn xã hội. Tuy nhiên, qua quá trình tổ chức thực hiện, thời gian qua, pháp luật về xử lý vi phạm hành chính đã bộc lộ những bất cập, trong đó có vấn đề về trình tự, thủ tục xử lý tang vật, phương tiện vi phạm hành chính.


Theo quy định tại Điều 26 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 thì tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính là việc sung vào ngân sách nhà nước vật, tiền, hàng hoá, phương tiện có liên quan trực tiếp đến vi phạm hành chính, được áp dụng đối với vi phạm hành chính nghiêm trọng do lỗi cố ý của cá nhân, tổ chức. Việc xử lý tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề vi phạm hành chính bị tịch thu được thực hiện theo quy định tại Điều 82[1] và Điều 126[2] của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012.

Điều 126 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 đã quy định về việc xử lý tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề bị tạm giữ theo thủ tục hành chính[3].

Nhìn chung, là các quy định của Điều 26, Điều 82 và Điều 126 nêu trên, trong quá trình thực hiện thì các cơ quan có thẩm quyền đều vận dụng và thực hiện một cách thuận lợi. Riêng nội dung quy định về trình tự, thủ tục xử lý tang vật, phương tiện vi phạm hành chính quá thời hạn tạm giữ nếu người vi phạm không đến nhận mà không có lý do chính đáng hoặc trường hợp không xác định được người vi phạm thì đã gây ra nhiều tranh cãi về vấn đề thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn 30 ngày. Bởi vì, nội dung này Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định chưa rõ ràng, đồng thời các cơ quan có thẩm quyền cũng chưa có hướng dẫn cụ thể nên cách xử lý của mỗi cơ quan thực hiện cũng khác nhau. Điển hình như 02 vụ việc và 02 cách xử lý sau đây:

Vụ việc thứ nhất: Trên cơ sở thi hành công vụ, Đội Cơ động và Phòng cháy, chữa cháy rừng - Chi cục Kiểm lâm tỉnh B đã tiến hành kiểm tra xe ôtô mang biển số của tỉnh G đang lưu thông trên đường và phát hiện 37 hộp gỗ khối lượng 2,481m3 . Khi đang tiến hành công tác kiểm đếm số lượng gỗ tang vật vi phạm thì tài xế bỏ trốn để lại tang vật và phương tiện vi phạm. Vì vậy, Đội trưởng Đội Cơ động và Phòng cháy, chữa cháy rừng - Chi cục Kiểm lâm tỉnh B tiến hành lập biên bản, ra Quyết định tạm giữ tang vật vi phạm theo thủ tục hành chính. Vì không xác định được người vi phạm và chủ phương tiên vi phạm nên và Đội Cơ động và Phòng cháy, chữa cháy rừng - Chi cục Kiểm lâm tỉnh B tiến hành xác minh nguồn gốc chiếc xe ôtô chở tang vật vi phạm đang mang biển kiểm soát tại tỉnh G. Qua xác minh thì chiếc xe này mang biển số giả, số máy, số khung bị đục biến dạng nên không xác định được nguồn gốc. Do không xác định được chủ sở hữu chiếc xe và người chủ sở hữu của 37 hộp gỗ khối lượng 2,481m3 là tang vật vi phạm nên Đội Cơ động và Phòng cháy, chữa cháy rừng - Chi cục Kiểm lâm tỉnh B tiến hành thông báo tìm chủ sở hữu của số tang vật nói trên trên một tờ báo của Trung ương trong thời hạn 30 ngày. Quá thời hạn 30 ngày vẫn không có người đến nhận nên Đội đã đề xuất Chi Cục trưởng tham mưu Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh B ra quyết định tịch thu sung số gỗ và chiếc xe ôtô theo quy định. Trình tự, thủ tục xử lý vụ việc vi phạm này được đa số ý kiến đồng thuận, ủng hộ vì phù hợp theo quy định tại Điều 126 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 17 Nghị định số 115/2013/NĐ-CP ngày 03/10/2013 của Chính phủ quy định về quản lý, bảo quản tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tạm giữ, tịch thu theo thủ tục hành chính và thực tế diễn biến vụ việc.

Vụ việc thứ hai: Ngày 22/12/2017 Công an thành phố Q, tỉnh B tiến hành kiểm tra xe ôtô biển số 43C- kéo rơmóc của Công ty TNHH thương mại và dịch vụ vận tải TH (Sau đây gọi tắt là Công ty HT - có địa chỉ tại thành phố Đ) phát hiện trên xe vận chuyển một số hàng hóa là: sữa, rượu ngoại, thức ăn gia súc, linh kiện điển tử và một số chủng loại hàng hóa khác nhưng không có hóa đơn chứng từ. Qua xác minh thì xác định số hàng trên do một nhân viên của Công ty TH nhận của nhiều khách hàng tại bãi giao nhận hàng thành phố D vận chuyển về thành phố Đ sẽ có người đến nhận hàng (công ty TH đã nhận tiền vận chuyển). Theo lời khai của nhân viên này thì công ty không biết được hàng hóa gì trong các kiện đã được đóng gói và cũng không liên lạc được với người gửi, người nhận hàng.

Do không xác định được chủ sở hữu của số lượng hàng hóa nói trên nên Công an thành phố Q đã ra Thông báo về việc tìm chủ sở hữu, người quản lý hoặc người sử dụng hợp pháp tang vật vi phạm hành chính. Việc thông báo này được thực hiện 3 lần trên Đài Truyền thanh thành phố Q (nơi có hàng hóa vi phạm bị tạm giữ). Quá thời hạn theo quy định kể từ ngày thông báo vẫn không có người đến nhận nên Công an thành phố Q đã đề xuất Chủ tịch Ủy ban nhan dân tỉnh B ra quyết định tịch thu số hàng hóa vi phạm nói trên theo quy định. Tuy nhiên, việc xử lý này không được sự đồng thuận cao về trình tự, thủ tục xử lý của Công an thành phố Q nhất là thủ tục, phạm vi thông báo tìm chủ sở hữu, người quản lý hoặc người sử dụng hợp pháp tang vật vi phạm hành chính trên phương tiện thông tin đại chúng. Vấn đề này có 2 quan điểm như sau:

Quan điểm thứ nhất: Nhất trí, đồng thuận với trình tự, thủ tục xử lý của Công an thành phố Q vì Công an thành phố Q xử lý đúng theo quy định tại Điều 126 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 17 Nghị định số 115/2013/NĐ-CP ngày 03/10/2013 của Chính phủ quy định về quản lý, bảo quản tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tạm giữ, tịch thu theo thủ tục hành chính. Cụ thể, Điều 17 Nghị định số 115/2013/NĐ-CP quy định: “Đối với tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đã quá thời hạn tạm giữ nếu người vi phạm không đến nhận mà không có lý do chính đáng hoặc trường hợp không xác định được người vi phạm thì người ra quyết định tạm giữ phải thông báo ít nhất 02 lần trên phương tiện thông tin đại chúng của Trung ương hoặc địa phương nơi tạm giữ tang vật, phương tiện và niêm yết công khai tại trụ sở cơ quan của người có thẩm quyền tạm giữ; trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày thông báo cuối cùng trên các phương tiện thông tin đại chúng và niêm yết công khai, nếu người vi phạm không đến nhận thì người có thẩm quyền phải ra quyết định tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính để xử lý theo quy định tại Điều 82 Luật Xử lý vi phạm hành chính và các quy định khác của pháp luật có liên quan”. Trong trường hợp này, theo quy định của Luật Báo chí và các văn bản hướng dẫn thi hành thì Đài Truyền thanh thành phố Q cũng là một loại hình phương tiện thông tin đại chúng của địa phương được Nhà nước thừa nhận. Theo quy định thì hiện nay, phạm vi địa phương cũng chưa phân biệt được cấp tỉnh hay cấp huyện nên việc thông báo của Công an thành phố Q là đúng quy định là đã thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng ở địa phương nơi tạm giữ tang vật vi phạm.

Quan điểm thứ hai: Không đồng thuận với trình tự, thủ tục xử lý của Công an thành phố Q về cách thức thông báo vì không phù hợp với nội dung, bản chất của vụ việc vi phạm. Trong trường hợp này, nguồn gốc của hàng hóa vi phạm có xuất xứ từ thành phố D và nơi nhận hàng là thành phố Đ. Như vậy, trong thực tế thì chủ sở hữu, người sử dụng, người quản lý hợp pháp của số hàng hóa này có thể ở tại thành phố D hoặc thành phố Đ, không cư trú tại thành phố Q (nơi bị tạm giữ tang vật vi phạm) nên không thể nhận biết được thông tin thông báo của Đài Truyền thanh thành phố Q vì nội dung thông báo này chỉ được biết trong phạm vi của thành phố Q, tỉnh B. Mặt khác, theo lời khai của nhân viên công ty TH thì công ty chỉ thực hiện chức năng vận chuyển mà không biết và cũng không liên lạc được với người gửi, người nhận hàng. Như vậy, trong trường hợp này để đảm bảo đúng quy định của pháp luật và bản chất, nội dung của vụ việc vi phạm trong việc tìm chủ sở hữu, người sử dụng, người quản lý hợp pháp của số hàng hóa vi phạm này, Công an thành phố Q phải thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng của Trung ương thì mới đảm bảo phạm vi thông báo và đề xuất xử lý đó mới đảm bảo đáng quy định về trình tự, thủ tục theo quy định.

Từ những bất cập, vướng mắc nêu trên giữa quy định của pháp luật với thực tiễn thi hành pháp luật và có nhiều quan điểm trái ngược nhau về vấn đề phạm vi thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng trong việc tìm chủ sở hữu, người quản lý hoặc người sử dụng hợp pháp tang vật vi phạm hành chính. Mong rằng các cơ quan có thẩm quyền sớm có hướng dẫn cụ thể về vấn đề này.

Lê Kim Chinh

Sở Tư pháp Bình Định


[1] Xem: Điều 82 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012.

[2] Xem: Điều 126 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Tóm tắt: Pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập là một bộ phận của pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật, có vai trò quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trên cơ sở làm rõ khái niệm, đặc trưng và các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện, nghiên cứu phân tích thực trạng pháp luật hiện hành, chỉ ra những kết quả đạt được và các hạn chế. Từ đó, nghiên cứu đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

Theo dõi chúng tôi trên: