Thứ hai 10/08/2026 21:10
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Cấp Phiếu lý lịch tư pháp - Một số khó khăn, vướng mắc, nguyên nhân và giải pháp

Luật Lý lịch tư pháp được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XII và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2010. Theo quy định của Luật Lý lịch tư pháp

Luật Lý lịch tư pháp được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XII và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2010. Theo quy định của Luật Lý lịch tư pháp, Phiếu lý lịch tư pháp là Phiếu do cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp cấp có giá trị chứng minh cá nhân có hay không có án tích, bị cấm hay không bị cấm đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị Tòa án tuyên bố phá sản. Ngoài ra, Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) cũng đã giao cho cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp có trách nhiệm cập nhật thông tin về tình hình án tích của người bị kết án và khi có yêu cầu thì cấp Phiếu lý lịch tư pháp xác nhận không có án tích trong trường hợp đủ điều kiện đương nhiên được xóa án tích.

Do đó, giá trị của Phiếu lý lịch tư pháp ngày càng được khẳng định trong các quan hệ xã hội. Tính đến thời điểm hiện tại, có hơn 80 thủ tục hành chính có yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp trong các lĩnh vực: Nhận con nuôi, quốc tịch, luật sư, quản lý cư trú, tổ chức phi chính phủ, khám chữa bệnh, bảo hiểm, hàng không, ngân hàng, lao động có yếu tố nước ngoài... Đó là chưa kể nhiều cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp trong và ngoài nước cũng yêu cầu Phiếu lý lịch tư pháp để phục vụ cho việc tuyển dụng, quản lý nhân sự, cho phép nhập cư... Phiếu lý lịch tư pháp có giá trị như “giấy thông hành” về mặt nhân thân để người dân có thể tham gia vào nhiều hoạt động dân sự, kinh tế... của đời sống xã hội. Ngoài ra, Phiếu lý lịch tư pháp còn phục vụ cho hoạt động tố tụng của cơ quan nhà nước, là một căn cứ để các cơ quan nhà nước xem xét các tình tiết tăng nặng hay giảm nhẹ mức xử phạt trong tố tụng hình sự. Phiếu lý lịch tư pháp là căn cứ xác định việc bị can có tái phạm hay không. Tính đến ngày 31/12/2018, trong vòng 08 năm, Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia và Sở Tư pháp đã cấp được 2.665.683 Phiếu lý lịch tư pháp (gấp 4,2 lần khi thực hiện Thông tư liên tịch số 07/1999/TTLT-BTP-BCA ngày 08/2/1999 của Bộ Tư pháp, Bộ Công an quy định việc cấp Phiếu lý lịch tư pháp).

Tuy nhiên, cùng sự phát triển của xã hội, việc cấp Phiếu lý lịch tư pháp đã bộc lộc những hạn chế, bất cập từ những quy định của pháp luật đến những phát sinh mới trong quá trình thực hiện. Trong chuyên đề này, tác giả nêu ra một số khó khăn, vướng mắc trong quá trình cấp Phiếu lý lịch tư pháp, phân tích các nguyên nhân và đề ra các giải pháp khắc phục những khó khăn, vướng mắc này. Cụ thể:

1. Một số khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân trong quá trình cấp Phiếu lý lịch tư pháp

Thứ nhất, có tình trạng lạm dụng Phiếu lý lịch tư pháp số 2 khi làm thủ tục xin thị thực nhập cảnh (khoảng trên 60% hồ sơ yêu cầu xin Phiếu lý lịch tư pháp số 2).

Việc công dân Việt Nam phải nộp Phiếu lý lịch tư pháp số 2 khi làm các thủ tục liên quan đến nhập cảnh theo yêu cầu của một số cơ quan đại diện ngoại giao của nước ngoài tại Việt Nam là không phù hợp với quy định của Luật Lý lịch tư pháp về mục đích sử dụng Phiếu lý lịch tư pháp số 2. Phiếu lý lịch tư pháp số 2 cấp cho cá nhân chỉ để người đó biết được nội dung về lý lịch tư pháp của mình. Hơn nữa, khác với Phiếu lý lịch tư pháp số 1, nếu người xin cấp Phiếu lý lịch tư pháp số 2 đã từng bị kết án thì trong Phiếu sẽ ghi đầy đủ thông tin về án tích, bao gồm cả những án tích đã được xóa. Điều này sẽ gây bất lợi cho cá nhân, đặc biệt là những người đã từng bị kết án nhưng đã được xóa án tích. Trong khi đó, theo quy định của pháp luật về hình sự thì những trường hợp này được coi như chưa bị kết án.

Nguyên nhân của tình trạng trên bắt nguồn từ quy định tại Điều 42 Luật Lý lịch tư pháp thì “Phiếu lý lịch tư pháp ghi “không có án tích” đối với trường hợp người không bị kết án, người bị kết án nhưng đã được xóa án tích hoặc người được đại xá. Đối với người bị kết án chưa đủ điều kiện được xóa án tích thì ghi “có án tích”. Điều 43 Luật Lý lịch tư pháp quy định: Phiếu lý lịch tư pháp ghi “không có án tích” đối với trường hợp người không bị kết án. Trường hợp người đã bị kết án thì ghi đầy đủ án tích đã được xóa, thời điểm xóa án tích, án tích chưa được xóa… Phiếu lý lịch tư pháp số 2 bao gồm thông tin cấm đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã. Đối với Phiếu lý lịch tư pháp số 1 thì chỉ ghi khi cá nhân, cơ quan,tổ chức có yêu cầu.

Thứ hai, theo quy định của Luật Cư trú thì người không quốc tịch không được cấp sổ hộ khẩu, không được cấp giấy chứng minh nhân dân vì thế gây khó khăn trong cho người không quốc tịch có yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp. Nguyên nhân trực tiếp là Điều 45, Điều 46 Luật Lý lịch tư pháp quy định thủ tục yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp số 1 và số 2 của công dân bao gồm:

- Tờ khai yêu cầu cấp Phiếu;

- Bản chụp giấy chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu của người được cấp Phiếu lý lịch tư pháp;

- Bản chụp sổ hộ khẩu hoặc giấy chứng nhận thường trú hoặc tạm trú của người được cấp Phiếu lý lịch tư pháp.

Nếu tuân thủ theo quy định trên thì người không quốc tịch sẽ không có giấy tờ thủ tục theo quy định để xin cấp Phiếu lý lịch tư pháp.

Thứ ba, cơ quan cấp Phiếu lý lịch tư pháp gặp nhiều khó khăn, vướng mắc trong công tác tra cứu, xác minh thông tin lý lịch tư pháp để cấp Phiếu lý lịch tư pháp: Một số trường hợp khi xác minh thông tin lý lịch tư pháp tại cơ quan Công an thì có thông tin về việc phạm tội (ví dụ: Đã bị khởi tố nhưng không có tài liệu về hình thức xử lý đối với người này...). Thực hiện theo đúng quy định tại Điều 20, Điều 21 Thông tư liên tịch số 04/2012/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQP ngày 10/5/2012 thì Sở Tư pháp đã xác minh tại cơ quan Tòa án, Viện kiểm sát, tuy nhiên, theo kết quả xác minh của Tòa án và Viện kiểm sát là không còn lưu giữ bất cứ thông tin nào hoặc có thông tin để xác định người đó có bị kết án bằng bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án hay không.

Theo quy định của Luật Lý lịch tư pháp thì thông tin lý lịch tư pháp trước ngày 01/7/2010 được tra cứu tại cơ quan Công an. Trường hợp kết quả tra cứu thông tin lý lịch tư pháp tại cơ quan Công an vẫn chưa đủ căn cứ để kết luận hoặc nội dung về tình trạng án tích của đương sự có điểm chưa rõ ràng, đầy đủ thì Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia, Sở Tư pháp gửi văn bản đề nghị Tòa án để xác minh thông tin lý lịch tư pháp. Tuy nhiên, việc phối hợp của các cơ quan trong việc cung cấp thông tin lý lịch tư pháp cho Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia cũng như Sở Tư pháp vẫn còn tình trạng thiếu trách nhiệm, thờ ơ không cung cấp hoặc cung cấp không đủ thông tin...

Bên cạnh đó, công tác cấp Phiếu còn một số khó khăn, vướng mắc như cấp Phiếu lý lịch tư pháp cho người đang bị khởi tố, điều tra, truy nã; người nước ngoài đang cư trú tại Việt Nam nhưng không có giấy tạm trú, người có nhiều tên gọi khác nhau...

2. Giải pháp khắc phục những hạn chế, vướng mắc trong công tác cấp Phiếu lý lịch tư pháp

2.1. Giải pháp chung

Thứ nhất, quy định chặt chẽ hơn về việc cấp Phiếu lý lịch tư pháp số 2 nhằm bảo đảm quyền con người theo Hiến pháp năm 2013. Để giải quyết tình trạng lạm dụng Phiếu lý lịch tư pháp số 2 hiện nay, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp và bí mật đời tư của cá nhân, ảnh hưởng tới ý nghĩa nhân đạo của chế định xóa án tích, tác giả đề xuất sửa đổi quy định của Luật Lý lịch tư pháp theo hướng quy định Phiếu lý lịch tư pháp số 2 chỉ cấp cho cơ quan tiến hành tố tụng để phục vụ hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, không cấp cho cá nhân.

Thứ hai, cải cách thủ tục cấp Phiếu lý lịch tư pháp nhằm đáp ứng tốt nhất yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức, đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo thuận lợi cho người dân và cơ quan, tổ chức có yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp; mở rộng quyền lựa chọn cơ quan giải quyết thủ tục cấp Phiếu lý lịch tư pháp cho người dân; bổ sung các phương thức cấp Phiếu lý lịch tư pháp trực tuyến, qua dịch vụ bưu chính công ích; quy định thủ tục cấp Phiếu trong những trường hợp đặc biệt; quy định đa dạng về hình thức hồ sơ yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp và Phiếu lý lịch tư pháp (văn bản giấy hoặc dữ liệu điện tử); sửa đổi, bổ sung quy định về trao đổi, cung cấp thông tin lý lịch tư pháp dưới dạng dữ liệu điện tử, hướng tới kết nối, trao đổi, chia sẻ giữa cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp, cơ sở dữ liệu quốc gia dân cư và các cơ cơ sở dữ liệu chuyên ngành khác có liên quan.

2.2. Giải pháp cụ thể

Thứ nhất, xác nhận tình trạng án tích trong Phiếu lý lịch tư pháp sau khi xác minh nhưng không rõ thông tin về án tích:

- Trường hợp Sở Tư pháp nhận được kết quả tra cứu, xác minh thông tin có trước ngày 01/7/2010 của cơ quan Công an để cấp Phiếu lý lịch tư pháp cho thấy đương sự đã từng bị bắt, điều tra, khởi tố hoặc bị truy tố nhưng không có thông tin về việc xét xử, Sở Tư pháp tiến hành xác minh tại Viện kiểm sát, Tòa án, cơ quan thi hành án hình sự, cơ quan thi hành án dân sự và tại các cơ quan khác có liên quan và đều không có thông tin về bản án xét xử đối với đương sự.

Đối với trường hợp này, theo quy định tại khoản 1 Điều 31 Hiến pháp năm 2013: “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”, do đó, Sở Tư pháp xác nhận tình trạng án tích trong Phiếu lý lịch tư pháp số 1 và số 2 là “không có án tích”.

- Trường hợp Sở Tư pháp nhận được kết quả tra cứu, xác minh thông tin có trước ngày 01/7/2010 của cơ quan Công an để cấp Phiếu lý lịch tư pháp cho thấy đương sự bị xét xử bởi một bản án, có số bản án, ngày bản án, tên Tòa án ra bản án, tội danh... nhưng không đầy đủ thông tin về bản án, Sở Tư pháp tiếp tục xác minh tại Viện kiểm sát, Tòa án, cơ quan thi hành án hình sự, cơ quan thi hành án dân sự và tại các cơ quan khác có liên quan nhưng đều không có thông tin tình trạng thi hành án của đương sự.

Trong trường hợp này, nếu đương sự đủ điều kiện về mặt thời gian để đương nhiên được xóa án tích và không phạm tội mới thì Sở Tư pháp xác nhận tình trạng án tích trong Phiếu lý lịch tư pháp số 1 là “không có án tích” và Phiếu lý lịch tư pháp số 2 ghi thông tin về bản án theo nội dung xác minh nhận được.

Thứ hai, cấp Phiếu lý lịch tư pháp cho người đang bị khởi tố, điều tra, truy nã...

Trường hợp Sở Tư pháp nhận được thông tin người yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp đang bị khởi tố, điều tra hoặc truy nã… chưa bị kết án bởi một bản án có hiệu lực pháp luật, theo quy định tại Điều 49 Luật Lý lịch tư pháp thì đây không thuộc trường hợp từ chối yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp, do đó, Sở Tư pháp thực hiện cấp Phiếu lý lịch tư pháp cho người đó và xác nhận tình trạng “không có án tích”. Đồng thời, Sở Tư pháp thông báo bằng văn bản cho cơ quan điều tra, cơ quan tiến hành tố tụng có liên quan về việc người đang bị khởi tố, điều tra hoặc truy nã đã tiến hành yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp để thực hiện các biện pháp nghiệp vụ trong trường hợp cần thiết.

Thứ ba, cấp Phiếu lý lịch tư pháp cho người không quốc tịch: Theo quy định của Luật Lý lịch tư pháp, người yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp phải nộp bản sao chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu, do đó, trường hợp người không quốc tịch yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp, Sở Tư pháp đề nghị cung cấp giấy tờ có giá trị đi lại quốc tế là loại giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền của một nước cấp cho người không quốc tịch đang cư trú tại nước đó và được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam chấp thuận (theo quy định tại khoản 3 Điều 3 Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam) thay thế cho chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu.

Thứ tư, cấp Phiếu lý lịch tư pháp cho trường hợp kết quả xác minh thông tin về án tích tại các cơ quan liên quan cho thấy người yêu cầu cấp Phiếu có nhiều tên gọi khác nhau: Trường hợp qua kết quả xác minh thông tin lý lịch tư pháp về án tích tại cơ quan Công an, Tòa án, Viện kiểm sát và các cơ quan liên quan cho thấy, trong thông tin về án tích của người có yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp có nhiều tên gọi khác nhau (Ví dụ: Trần Văn A, Trần Quang A) và khác với tên trong hồ sơ yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp (Ví dụ: Trần Ngọc A) nhưng có cùng thông tin về năm sinh, họ tên cha, mẹ; nơi thường trú, tạm trú, Sở Tư pháp cần có văn bản đề nghị cơ quan Công an để xác minh những trường hợp này có phải là một người hay không.

Trường hợp kết quả xác minh tại cơ quan Công an cho thấy những người có tên nêu trên chỉ là một người duy nhất thì Sở Tư pháp thực hiện cấp Phiếu lý lịch tư pháp cho người có tên trong hồ sơ yêu cầu cấp Phiếu (Trần Ngọc A) theo quy định.

Trường hợp không nhận được kết quả xác minh tại cơ quan Công an (thời gian xác minh quá thời hạn quy định của Luật Lý lịch tư pháp) hoặc kết quả xác minh vẫn chưa có kết luận những người có tên nêu trên chỉ là một người duy nhất thì Sở Tư pháp gửi hồ sơ về Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia để Trung tâm hỗ trợ tra cứu, xác minh.

Thứ năm, hồ sơ và lệ phí cấp Phiếu lý lịch tư pháp khi cá nhân đồng thời yêu cầu cấp cả hai loại Phiếu lý lịch tư pháp số 1 và số 2: Trường hợp cá nhân đồng thời yêu cầu cấp cả hai loại Phiếu lý lịch tư pháp số 1 và số 2 thì Sở Tư pháp chỉ tiếp nhận 01 bộ hồ sơ, trong đó sử dụng tờ khai yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp dùng cho cá nhân theo Mẫu số 03/2013/TT-LLTP (ban hành kèm theo Thông tư số 16/2013/TT-BTP ngày 11/11/2013 của Bộ Tư pháp về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 13/2011/TT-BTP ngày 27/6/2011 của Bộ Tư pháp về việc ban hành và hướng dẫn sử dụng biểu mẫu và mẫu sổ lý lịch tư pháp). Sở Tư pháp hướng dẫn cá nhân chọn cả Phiếu lý lịch tư pháp số 1 và số 2 tại mục “Yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp…” và ghi rõ số lượng Phiếu lý lịch tư pháp số 1 và số 2 tại mục “Số lượng Phiếu lý lịch tư pháp yêu cầu cấp…”.

Theo quy định tại Điều 4 Thông tư số 244/2016/TT-BTC ngày 11/11/2016 của Bộ Tài chính quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí cung cấp thông tin lý lịch tư pháp thì mức thu phí cung cấp thông tin lý lịch tư pháp được quy định là 200.000 đồng/lần/người, đối với học sinh, sinh viên, người có công với cách mạng, thân nhân liệt sĩ: 100.000 đồng/lần/người. Trường hợp người yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp đề nghị cấp trên 02 phiếu trong một lần yêu cầu, thì kể từ phiếu thứ 03 trở đi tổ chức thu phí được thu thêm 5.000 đồng/phiếu để bù đắp chi phí cần thiết cho việc in mẫu Phiếu lý lịch tư pháp. Theo đó, trường hợp cá nhân yêu cầu cấp đồng thời cả Phiếu lý lịch tư pháp số 1 và số 2 thì cơ quan có thẩm quyền cấp phí theo quy định như trên.

Thứ sáu, cấp Phiếu lý lịch tư pháp khi tội phạm được xóa bỏ.

Điều 35 Luật Lý lịch tư pháp đã quy định: “Trường hợp người bị kết án về một tội nhưng tội phạm này được xóa bỏ theo quy định của Bộ luật Hình sự thì thông tin về tội đó được xóa bỏ trong lý lịch tư pháp của người đó”.

Theo đó, trường hợp người xin cấp Phiếu lý lịch tư pháp đã bị kết án về một tội nhưng tội phạm này được xóa bỏ theo quy định của Bộ luật Hình sự thì ghi vào Phiếu lý lịch tư pháp số 1 hoặc Phiếu lý lịch tư pháp số 2 là không có án tích. Trường hợp đã lập lý lịch tư pháp thì hủy bỏ lý lịch tư pháp của người đó.

Thứ bảy, về giải quyết yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp cho một số trường hợp không xác định nơi thường trú, tạm trú hoặc thời gian cư trú.

- Trường hợp là người nước ngoài: Theo quy định của Luật Lý lịch tư pháp, đối với người nước ngoài đã từng cư trú tại Việt Nam thì thuộc thẩm quyền cấp Phiếu của Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia; đối với người nước ngoài đang cư trú tại Việt Nam thì thuộc thẩm quyền của Sở Tư pháp nơi cư trú. Tuy nhiên, đối với trường hợp người nước ngoài đã và đang cư trú tại Việt Nam thì Luật Lý lịch tư pháp không quy định cụ thể. Do đó, trong thời gian vừa qua, một số Sở Tư pháp đã hướng dẫn những trường hợp này thực hiện yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp tại Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia, đã gây khó khăn, tốn kém về thời gian và chi phí đi lại của họ. Vì vậy, để tạo điều kiện cho những trường hợp người nước ngoài đã và đang cư trú tại Việt Nam này thì Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia hoặc Sở Tư pháp sẽ thực hiện cấp Phiếu lý lịch tư pháp khi có yêu cầu.

- Trường hợp người nước ngoài đang ở tại Việt Nam nhưng không có giấy tờ xác nhận đang thường trú hoặc tạm trú tại địa phương mà chỉ có dấu xác nhận của cơ quan xuất nhập cảnh tại hộ chiếu hoặc thị thực tờ rời: Trường hợp có giấy tờ xác nhận tạm trú của cơ quan Công an nơi tạm trú cấp thì Sở Tư pháp nơi đó tiếp nhận hồ sơ yêu cầu và cấp Phiếu theo quy định của pháp luật; trường hợp không có căn cứ để xác định nơi tạm trú của người nước ngoài đang cư trú tại Việt Nam, Sở Tư pháp hướng dẫn họ nộp hồ sơ yêu cầu cấp Phiếu tại Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia (trực tiếp hoặc gửi qua dịch vụ bưu chính, đăng ký trực tuyến). Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia sẽ xem xét và cấp Phiếu lý lịch tư pháp theo quy định.

- Trường hợp là công dân Việt Nam: Hiện nay, thực tế có phát sinh những trường hợp trong quá trình cư trú, thay đổi cư trú nhiều nơi đã thực hiện tách hộ khẩu nhưng vì nhiều lý do chưa có hộ khẩu mới, bị cắt hộ khẩu cũ hoặc chưa đăng ký được nơi cư trú mới hoặc mất hộ khẩu, không có giấy xác nhận thường trú, tạm trú… Sở Tư pháp không đủ căn cứ để tiếp nhận hồ sơ yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp thì hướng dẫn nộp hồ sơ yêu cầu cấp Phiếu tại Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia (trực tiếp hoặc gửi qua dịch vụ bưu chính, đăng ký trực tuyến) để xem xét, giải quyết.

TS. Hoàng Quốc Hùng

Giám đốc Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Tóm tắt: Pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập là một bộ phận của pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật, có vai trò quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trên cơ sở làm rõ khái niệm, đặc trưng và các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện, nghiên cứu phân tích thực trạng pháp luật hiện hành, chỉ ra những kết quả đạt được và các hạn chế. Từ đó, nghiên cứu đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Nguyên tắc “6 rõ” trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Nguyên tắc “6 rõ” trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Trong đợt tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật năm 2026 - một nhiệm vụ trọng yếu được triển khai theo Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới - nguyên tắc “6 rõ” đã được xác lập như một chuẩn mực kỹ thuật và quản trị cốt lõi. Nội dung của nguyên tắc này bao gồm: rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền và rõ kết quả.
Nâng cao nhận thức, chung tay đẩy lùi tội phạm mua bán người

Nâng cao nhận thức, chung tay đẩy lùi tội phạm mua bán người

Ngày 30/7 hằng năm được Đại hội đồng Liên hợp quốc chọn là Ngày Thế giới phòng, chống mua bán người (World Day Against Trafficking in Persons) nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng về những hậu quả nghiêm trọng của tội phạm mua bán người, đồng thời kêu gọi các quốc gia tăng cường hợp tác, triển khai các giải pháp phòng ngừa, đấu tranh và bảo vệ nạn nhân.
"Tầm nhìn mới, tư duy mới, hành động mới" - Động lực xây dựng chính quyền Thủ đô Hà Nội kiến tạo, phục vụ

"Tầm nhìn mới, tư duy mới, hành động mới" - Động lực xây dựng chính quyền Thủ đô Hà Nội kiến tạo, phục vụ

Ngày 23/3/2026, Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội đã ban hành Chỉ thị số 09-CT/TU về nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi công vụ; siết chặt kỷ luật, kỷ cương và trách nhiệm của cán bộ, nhất là người đứng đầu trong giai đoạn phát triển mới của Thủ đô Hà Nội (Chỉ thị số 09-CT/TU). Theo đó, Thành phố xác định rõ việc định vị hình ảnh và giá trị cốt lõi của Thủ đô với 09 đặc trưng "Thủ đô văn hiến - kết nối toàn cầu - thanh lịch, hào hoa - phát triển hài hòa - thanh bình, thịnh vượng - chính quyền phục vụ - doanh nghiệp cống hiến - xã hội niềm tin - người dân hạnh phúc", lấy "Văn hiến - bản sắc - sáng tạo" làm trục giá trị xuyên suốt.

Theo dõi chúng tôi trên: