Thứ năm 25/06/2026 15:04
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Chế định trách nhiệm sản phẩm trong pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Cũng giống như các loại trách nhiệm bồi thường khác, trách nhiệm sản phẩm là hệ thống các quy tắc phân bổ thiệt hại trong xã hội giữa các chủ thể có liên quan khi xảy ra thiệt hại. Vấn đề cơ bản mà chế định này cần giải quyết là khi xảy ra thiệt hại từ quá trình tiêu dùng sản phẩm, dịch vụ đã được nhà sản xuất, nhà cung ứng sản phẩm, dịch vụ bán ra thị trường, thì ai sẽ phải chịu bồi thường?

Bản thân áp lực cạnh tranh trên thị trường cũng khiến nhiều nhà sản xuất tự đưa ra những cam kết của mình trong việc giải quyết vấn đề này. Tuy nhiên, kinh nghiệm của các quốc gia có nền kinh tế thị trường cho thấy, áp lực cạnh tranh thường không đủ để đảm bảo rằng nhà sản xuất, nhà phân phối có cách ứng xử hài hòa về lợi ích giữa nhà sản xuất, phân phối với người tiêu dùng. Chính vì thế, các quốc gia thường có các quy định pháp luật để giải quyết vấn đề này. Ở Việt Nam thời gian qua, các vụ việc xâm phạm quyền lợi người tiêu dùng ở quy mô khá lớn liên tục được báo chí phát hiện và đưa ra trước công luận. Các cơ quan chức năng đã vào cuộc, nhưng những biện pháp mà các cơ quan này thực hiện vẫn chưa mang lại hiệu quả thiết thực. Một trong những nguyên nhân của tình trạng này là do pháp luật Việt Nam chưa có quy định cụ thể về chế định trách nhiệm sản phẩm. Trong bài viết này, tác giả tiếp cận chế định trách nhiệm sản phẩm từ việc phân tích chế định trách nhiệm bồi thường bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và trách nhiệm pháp lý nghiêm ngặt, từ đó đưa ra các đặc điểm và bản chất pháp lý của chế định trách nhiệm sản phẩm và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.

Theo đa số nghiên cứu trên thế giới, thì bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng bằng chế định trách nhiệm sản phẩm là một lựa chọn khá tối ưu, mặc dù vậy, pháp luật Việt Nam hiện hành không quy định về trách nhiệm sản phẩm. Trách nhiệm sản phẩm bắt nguồn từ trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng không dựa trên yếu tố lỗi. Việc không dựa trên yếu tố lỗi là điểm đặc biệt, nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng một cách có hiệu quả.

1. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Hợp đồng là một phương tiện quan trọng để tạo lập nên đời sống của con người, giúp con người đáp ứng các nhu cầu về vật chất và tinh thần của mình thông qua việc trao đổi các sản phẩm, dịch vụ và các lợi ích khác[1]. Tuy nhiên, không phải lúc nào, nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng đều được thực hiện đúng và đủ. Từ đó làm xuất hiện một dạng trách nhiệm, đó là trách nhiệm do vi phạm nghĩa vụ hay trách nhiệm phát sinh từ hợp đồng, tồn tại giữa bên bị thiệt hại và bên gây thiệt hại trong quan hệ hợp đồng. Trách nhiệm đó, giai đoạn lập pháp thời kỳ đầu là nhằm vào nhân thân người vi phạm, sau đó chuyển dần sang nhằm vào tài sản người vi phạm gọi là bồi thường thiệt hại về tài sản và sau này hoàn thiện hơn là cộng hưởng cả hai.

Tuy nhiên, thực tiễn lại cho thấy, trách nhiệm bồi thường thiệt hại không phải lúc nào cũng ràng buộc giữa các bên chủ thể trong giao kết hợp đồng. Bộ luật Dân sự hiện hành cung cấp những công cụ cần thiết để bảo vệ quyền và lợi ích của bên thứ ba và các quy tắc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bên yếu thế hay bảo vệ các nạn nhân không may gặp tai nạn khi bị tác động bởi nguồn nguy hiểm cao độ, bởi “đó là cơ sở đạo đức của pháp luật - cái triết lý sống ở đời”[2]. Điều này chính là nguyên nhân để phát sinh một dạng trách nhiệm pháp lý khác - trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

Theo quy định tại Điều 604 Bộ luật Dân sự năm 2005, thì căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là: “1. Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường. 2. Trong trường hợp pháp luật quy định người gây thiệt hại phải bồi thường cả trong trường hợp không có lỗi thì áp dụng quy định đó”. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được hiểu là một loại trách nhiệm dân sự, mà khi người nào có hành vi do pháp luật quy định xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, thì phải bồi thường thiệt hại do mình gây ra.

Nếu trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng bao giờ cũng được phát sinh trên cơ sở một hợp đồng có trước, thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một loại trách nhiệm pháp lý do pháp luật quy định đối với người có hành vi trái pháp luật xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, không kể trước đó hai bên đương sự đã có giao kết một hợp đồng có hiệu lực hay chưa.

Theo khoản 1 Điều 604 Bộ luật Dân sự năm 2005 về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại và Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi có các điều kiện: Có thiệt hại xảy ra; có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại; có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra; có lỗi của người gây thiệt hại.

Còn theo Vũ Văn Mẫu, nói tới trách nhiệm dân sự phải hội tụ ba điều kiện: “Sự tổn hại, sự quá thất và mối tương quan nhân quả giữa sự quá thất và sự tổn hại’’[3]. Cũng trong cuốn Việt Nam Dân luật lược khảo, Vũ Văn Mẫu còn nhắc đến quan điểm của Giáo sư Svalier dựa trên quan điểm học thuyết rủi ro: “Trách nhiệm dân sự có hai khu vực, một khu vực chính yếu nhìn nhận căn bản chủ quan và đặt trách nhiệm trên căn bản cổ điển của quá thất (yếu tố lỗi); một khu vực phụ thuộc, do nhà lập pháp ấn định trong những đạo luật đặc biệt đã nhìn nhận lý thuyết trách nhiệm khách quan không cần quá thất”[4]. Quan điểm này bao quát hơn so với quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2005 và Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP, vì có những trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng mà không xét đến yếu tố lỗi, ví dụ trách nhiệm nghiêm ngặt (cụ thể như trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm quyền lợi người tiêu dùng - Điều 630 Bộ luật Dân sự năm 2005). Đối với trách nhiệm dân sự do gây thiệt hại, vấn đề hình thức lỗi và mức độ lỗi ảnh hưởng rất ít đến việc xác định trách nhiệm. Về nguyên tắc, trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi người gây thiệt hại có lỗi, bất kể đó là lỗi cố ý hay lỗi vô ý.

Những luận giải cổ điển cho rằng, căn bản của trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng trên ý niệm lỗi của người gây ra thiệt hại cho người khác. Theo đó, lỗi là một trong bốn điều kiện làm phát sinh trách nhiệm bồi thường. Chỉ khi nào một người do lỗi của mình mà gây thiệt hại, xâm phạm đến quyền lợi hợp pháp của người khác thì mới phải bồi thường. Cơ sở để người bị thiệt hại yêu cầu bồi thường là họ phải chứng minh lỗi của người gây thiệt hại. Song trong điều kiện kinh tế xã hội hiện nay, khuynh hướng cổ điển không bảo đảm được một cách có hiệu quả quyền lợi cho nạn nhân, trong khi việc bồi thường thiệt hại cho người bị thiệt hại là một đòi hỏi cấp thiết và chính đáng. Cụ thể là, trong trường hợp thiệt hại xảy ra mà không có ai chứng kiến, hoặc không do lỗi của ai cả, nếu buộc nạn nhân phải dẫn chứng lỗi, tức là gián tiếp bác bỏ quyền đòi bồi thường của nạn nhân. Như vậy, nếu người bị thiệt hại cố gắng chứng minh lỗi của người gây ra thiệt hại để được bồi thường, họ phải tốn rất nhiều công sức, thời gian và tiền của, từ đó sẽ làm tăng sự lo lắng và áp lực cho cả hai bên. Trong một vài trường hợp, tiền bồi thường sẽ được các công ty bảo hiểm chi trả, vì thế yếu tố ngăn ngừa của lỗi ít có tác dụng.

Tuy nhiên, cũng phải khẳng định rằng, việc công nhận trách nhiệm nghiêm ngặt không phải là sự phủ định về nguyên tắc lỗi trong trách nhiệm dân sự nói chung và bồi thường thiệt hại nói riêng. Điều này có thể nhìn nhận được trong các quy định về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, các loại bồi thường thiệt hại gắn với yếu tố lỗi vẫn giữ số lượng áp đảo so với trách nhiệm nghiêm ngặt. Qua đó, có thể thấy rằng, trách nhiệm dựa trên lỗi là nguyên tắc và trách nhiệm nghiêm ngặt chỉ là trường hợp đặc biệt[5].

2. Về trách nhiệm sản phẩm trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Trách nhiệm sản phẩm là một chế định pháp luật quan trọng ở nhiều nước có nền kinh tế thị trường phát triển hiện nay. Quá trình phát triển chế định pháp luật này gắn liền với nhu cầu bảo vệ người tiêu dùng trước những nhà sản xuất, cung ứng hàng hoá sản phẩm. Sự phát triển của chế định này là một bước tiến của pháp luật ở nhiều nước trong việc kiểm soát các nhà sản xuất, cung ứng sản phẩm vì lợi ích của cộng đồng. Bản chất của chế định này là các nhà sản xuất và những tổ chức, cá nhân tham gia vào việc tiêu thụ sản phẩm phải chịu trách nhiệm đối với những thiệt hại gây ra cho người sử dụng sản phẩm nếu như việc sử dụng chúng tiềm ẩn những nguy hại nhưng không được cảnh báo trước.

Hiện nay, trên thế giới, pháp luật trách nhiệm sản phẩm được xây dựng dựa trên ba nguyên lý cơ bản về sự vi phạm nghĩa vụ bảo đảm, sự bất cẩn và trách nhiệm nghiêm ngặt. Có thể nhận thấy, đây cũng chính là ba cơ sở khởi kiện của người bị thiệt hại trong các vụ án liên quan đến trách nhiệm.

Trong thực tiễn, người tiêu dùng ít sử dụng nghĩa vụ đảm bảo để làm cơ sở khởi kiện vì để áp dụng ta cần phải chứng minh bản chất mối quan hệ giữa người bán, người cung cấp hàng hóa và người mua. Việc này thực sự vô cùng phức tạp. Nếu như sản phẩm mua về có lỗi và gây ra thương tích, người tiêu dùng phải chứng minh rằng hành vi của nhà sản xuất khi thiết kế ra sản phẩm là không đủ tiêu chuẩn hoặc không hợp lí. Đương nhiên, thông tin về việc nhà sản xuất thiết kế sản phẩm như thế nào thì người tiêu dùng không thể nắm rõ được.

Trách nhiệm sản phẩm được hiểu là người sản xuất phải chịu trách nhiệm nếu như sản phẩm bị kém chất lượng và việc sử dụng sản phẩm kém chất lượng này trong điều kiện bình thường gây ra những thiệt hại cho người sử dụng. Để khởi kiện theo cơ sở này, người khởi kiện không cần chứng minh có hay không có sự cẩu thả của nhà sản xuất, có hay không có nghĩa vụ đảm bảo. Người khởi kiện chỉ cần chứng minh rằng sản phẩm kém chất lượng và nguy hiểm một cách phi lý và thực tế đã gây thiệt hại.

Một trong những nội dung đáng chú ý của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 là quy định người tiêu dùng không có nghĩa vụ phải chứng minh lỗi sản phẩm. Cụ thể, Điều 42 của Luật quy định nghĩa vụ chứng minh trong vụ án dân sự về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Nhưng việc quy định người tiêu dùng không có nghĩa vụ chứng minh lỗi trong vụ án dân sự không có nghĩa là miễn trừ tất cả nghĩa vụ chứng minh của người tiêu dùng. Để thực hiện việc khởi kiện, người tiêu dùng vẫn phải chứng minh thiệt hại, cung cấp chứng cứ về thiệt hại cũng như hành vi gây ra thiệt hại mà không cần phải chứng minh lỗi của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ gây ra thiệt hại đó. Quy định này xuất phát từ vị trí yếu thế của người tiêu dùng trong mối quan hệ với tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ. Vì vậy, căn cứ phát sinh trách nhiệm chính là khuyết tật sản phẩm và thiệt hại đã xảy ra. Ở đây, người tiêu dùng không cần chứng minh lỗi này, mà nghĩa vụ chứng minh mình có lỗi hay không là ở phía các nhà sản xuất, nhà cung ứng nếu họ muốn miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

Việc xác định căn cứ, dựa trên đó xác định khuyết tật sản phẩm là yếu tố vô cùng quan trọng để xác định trách nhiệm nghiêm ngặt. Một sản phẩm bị coi là có khuyết tật khi sản phẩm đó không đảm bảo an toàn ở mức độ mà người ta có thể trông chờ được một cách hợp lí. Tuy nhiên, Điều 24 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 có ghi nhận quyền miễn trừ nghĩa vụ bồi thường thiệt hại trong trường hợp khuyết tật của hàng hóa không thể phát hiện với trình độ khoa học - kỹ thuật tại thời điểm cung cấp hàng hóa tương tự như điểm đ khoản 1 và điểm đ khoản 2 Điều 62 Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa năm 2007. Như vậy, trong tình huống này, người tiêu dùng rơi vào tình thế bất lợi nếu như khi mua hàng hóa mà không biết rằng sản phẩm thụ hưởng đó có thể hay không thể phát hiện khuyết tật. Nghị định số 99/2011/NĐ-CP ngày 27/10/2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cũng không đề cập tới một trình tự hoặc phương thức rõ ràng để làm rõ nội hàm cụm từ “không thể phát hiện với trình độ khoa học - kỹ thuật tại thời điểm cung cấp hàng hóa”. Quy định không có hướng dẫn cụ thể như vậy, một lần nữa lại đặt người tiêu dùng vào vị thế bị động, có thể gặp rủi ro khi tiếp nhận hàng hóa do bản thân bị hạn chế không đủ năng lực để tự kiểm chứng.

Từ những phân tích về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, và trách nhiệm sản phẩm sẽ cung cấp các kỹ thuật pháp lý sơ khai nhất để các nhà làm luật nghiên cứu hoàn thiện pháp luật, đồng thời thấy được vai trò to lớn của trách nhiệm sản phẩm trong việc đảm bảo quyền lợi người tiêu dùng và đáp ứng tình hình kinh tế nước ta hiện nay.

Ngô Thu Trang
Vụ Pháp luật dân sự - kinh tế, Bộ Tư pháp

Tài liệu tham khảo:

[1]. PGS.TS. Ngô Huy Cương (2013), Giáo trình Luật hợp đồng - Phần chung, Nxb. Đại học Quốc Gia Hà Nội, Hà Nội, tr. 5.

[2]. PGS.TS. Ngô Huy Cương (2013), Giáo trình Luật hợp đồng - Phần chung, Nxb. Đại học Quốc Gia Hà Nội, Hà Nội, tr. 35.

[3]. Vũ Văn Mẫu, Việt Nam Dân luật lược khảo, Quyển II: Nghĩa vụ và khế ước, Bộ Quốc Gia giáo dục xuất bản, tr. 402.

[4]. Vũ Văn Mẫu, Việt Nam Dân luật lược khảo, Quyển II: Nghĩa vụ và khế ước, Bộ Quốc Gia giáo dục xuất bản, tr. 469.

[5]. Janno Lahe, Regulation of Strict Liability in the CFR and the Estonian Law of Obligations Act, 2010, tr. 169.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 được ban hành đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Bài viết nêu sự cần thiết, ý nghĩa ban hành và những điểm mới nổi bật của Luật, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm quyền con người và đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà vừa ký Quyết định số 1111/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch tổ chức "Ngày Văn hóa Việt Nam" giai đoạn 2026 - 2030 (Kế hoạch), đánh dấu bước triển khai quan trọng Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Luật Hàng không dân dụng Việt Nam số 130/2025/QH15 (Luật năm 2025) được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 10 (ngày 10/12/2025), có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 gồm 11 Chương và 107 Điều quy định về hoạt động hàng không dân dụng, bao gồm các quy định về tàu bay, cảng hàng không, nhân viên hàng không, hoạt động bay, vận tải hàng không thương mại, hàng không chuyên dùng, hàng không chung, an toàn hàng không, an ninh hàng không, trách nhiệm dân sự và các hoạt động khác có liên quan đến hàng không dân dụng.
Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Quy định mới tại Nghị quyết số 254/2025/QH15 và Nghị định số 49/2026/NĐ-CP với cơ chế đồng thuận trên 75% được kỳ vọng khơi thông hàng nghìn dự án, sẽ tháo gỡ một trong những vướng mắc lớn nhất trong quá trình triển khai các dự án có sử dụng đất.
Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Ngày 10/12/2025, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, Kỳ họp thứ 10 chính thức thông qua Luật số 132/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026).
Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 thay thế Pháp lệnh Dân số số 06/2004/PL-UBTVQH11 (đã được sửa đổi, bổ sung theo Pháp lệnh số 07/2025/UBTVQH15). Một trong những thay đổi căn bản của Luật Dân số năm 2025 là chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển. Những nội dung liên quan đến dân số và phát triển đã được thể hiện trong việc hướng tới giải quyết đồng bộ các vấn đề về quy mô dân số, cơ cấu dân số, thích ứng với già hóa dân số, nâng cao chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của từng địa phương, góp phần bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước.
Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.

Theo dõi chúng tôi trên: